LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƯƠNG 1
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ................ 4
1.1. Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán .......................................... 4
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty chứng khoán ............................................ 4
1.1.2. Vai trò, chức năng của các công ty chứng khoán ..................................... 6
1.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ của công ty chứng khoán ................................. 9
1.1.4. Mô hình, tổ chức của công ty chứng khoán ........................................... 17
1.2. Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán ....................................... 21
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty chứng khoán .......................................................................... 21
1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty chứng
khoán ................................................................................................................... 22
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của CTCK .................. 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................. 32
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NHÀ HÀ NỘI
................................................................................................................... 33
2.1. Tổng quan về công ty chứng khoán ngân hàng thương mại cổ phần nhà
Hà Nội .................................................................................................................. 33
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty chứng khoán
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội ..................................................... 33
2.1.2. Mục tiêu, chiến lược của công ty ........................................................... 34
2.1.3. Cơ cấu tổ chức ......................................................................................... 34
2.1.4. Cơ cấu nhân sự ........................................................................................ 37
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Ngân hàng
thương mại cổ phần nhà Hà Nội ....................................................................... 37
2.2.1. Hoạt động môi giới chứng khoán ........................................................... 38
2.2.2. Hoạt động tự doanh ................................................................................. 39
2.2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành ................................................................ 40
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động từ năm 2000. Trải
qua hơn 7 năm đi vào hoạt động, với bao thăng trầm thử thách, thị trường chứng
khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Quy mô thị trường ngày
một mở rộng thể hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty niêm yết, tỷ lệ vốn hoá
thị trường, sự gia tăng số tài khoản của các nhà đầu tư. Cùng với sự phát triển
của thị trường, số lượng CTCK ra đời cũng ngày một nhiều hơn. Cho đến nay đã
có khoảng gần 70 CTCK được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động. Sự cạnh
tranh giữa các CTCK đang ngày càng trở nên quyết liệt hơn đặc biệt trong bối
cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay.
Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các CTCK không còn cách nào khác là
phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc đa dạng hoá, nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ phục vu khách hàng.
CTCK Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (HBBS) ra đời và đi vào
hoạt động từ tháng 4 năm 2006. Qua quá trình thực tập tại HBBS em nhận thấy,
sau 2 năm đi vào hoạt động, công ty cũng đã đạt được một số thành tựu nhất
định, tuy nhiên so với các CTCK khác, năng lực cạnh tranh của công ty vẫn còn
nhiều hạn chế, vì vậy em chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1
Chuyên đề được hoàn thiện với ba mục tiêu như sau:
Thứ nhất, hệ thống các vấn đề lý thuyết về công ty chứng khoán và năng
lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Thứ hai, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của CTCK HBBS, qua
đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ ảnh hưởng tới năng lực
cạnh tranh của công ty.
Thứ ba, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công
ty chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội
Theo Luật Chứng Khoán 2006, CTCK được tổ chức dưới hình thức công
ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp
Như vậy có thể hiểu CTCK là một tổ chức kinh doanh chứng khoán có tư
cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK
4
1.1.1.2. Đặc điểm
Là một chủ thể kinh doanh, CTCK cũng có những đặc điểm tương đồng
với tổ chức và hoạt động của các công ty khác nói chung. Nhưng đồng thời, do
hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán nên cũng có những đặc điểm khác biệt
hơn so với các loại hình kinh doanh khác.
- Phần lớn tài sản là tài sản tài chính
Tài sản của các CTCK phần lớn đều là tài sản tài chính. Ngoài một phần
rất nhỏ để đầu tư vào cơ sở vật chất, phần lớn tài sản còn lại của CTCK là chứng
khoán. Những chứng khoán này hình thành chủ yếu từ hoạt động tự doanh và
bảo lãnh phát hành. Nét đặc trưng của các loại tài sản tài chính này là giá trị của
chúng thường xuyên biếtn động trên thị trường. Sự biến động này tất yếu tạo ra
những rủi ro tiềm tàng trong hoạt động của các CTCK. Để giảm thiểu rủi ro này,
các chứng khoán trong tài sản của CTCK phải có tính thanh khoản rất cao.
- Sản phẩm dễ bị bắt chước
Sản phẩm của các CTCK là các sản phẩm dịch vụ tài chính. Đặc điểm của
loại hình sản phẩm đặc biệt này là không có hình thái vật chất, mức độ kết tinh
chất xám cao, rất khó tạo ra sản phẩm mới song lại dễ dàng bị bắt chước. Vì vậy
để tồn tại và phát triển, các CTCK phải không ngừng cải tiến dịch vụ, liên tục
tạo ra các sản phẩm mới cũng như học hỏi đối thủ cạnh tranh để hoàn thiện
nghiệp vụ của mình, nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Có khả năng xảy ra xung đột lợi ích
Trong lĩnh vực chứng khoán, lợi ích cá nhân của các nhân viên kinh doanh
hoặc lợi ích của CTCK có thể mâu thuẫn với lợi ích của các khách hàng mà
CTCK cam kết phục vụ dẫn tới những xung đột lợi ích. Nếu không được kiểm
soát chặt chẽ, CTCK cũng như các nhân viên kinh doanh của công ty có thể lợi
xác định giá giao dịch. Các CTCK đã giúp người bán gặp được người mua một
cách nhanh chón và hiệu quả, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí cho cả 2
bên
- Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho nhà đầu tư, tạo ra tính thanh
khoản cho các chứng khoán
- Các CTCK thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò của nhà tạo lập thị
trờng (market maker) gớp phần điều tiết và bình ổn thị trường.
1.1.2.2. Vai trò của công ty chứng khoán
- Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động
vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Một trong những nguyên tắc
hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu nhà đầu
tư và nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông
qua các trung gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả
nhà phát hành và nhà đầu tư thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành, và như vậy
CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành
Bên cạnh đó, các CTCK cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng
hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánh giá dự án, quản lý
tài sản và định hướng đầu tư.
- Đối với các nhà đầu tư
7
Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi
phí cho người mua và người bán nhứng đối với TTCK, sự biến động thường
xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho nhà đầu tư
tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định
đầu tư. Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, CTCK có vai trò
làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu
tư.
- Đối với TTCK
Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả là do
một CTCK đại diên cho khách hàng tiến hành gío dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải
chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Hoạt động môi giới là một trong những hoạt động quan trọng nhất của
công ty chứng khoán. Với chức năng trung gian kết nối người bán và người mua,
cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư, hoạt động môi giới đã
mang lại khoản phí không nhỏ cho CTCK. Tuy nhiên nhân viên môi giới không
được xúi dục mua, bán chứng khoán để hưởng hoa hồng mà phải đưa ra những
lời khuyên chân thành hạn chế rủi ro thấp nhất cho khách hàng. Vì vậy nghề moi
giới đòi hỏi những phẩm chất đạo đức và mẫn cán trong công việc. Ngoài ra,
9
nhân viên môi giới là người tiếp xúc với khách hàng nhiều nhất và là bộ mặt của
công ty. Khách hàng lựa chọn CTCK để tham gia thị trường một phần là do hoạt
động môi giới tại công ty đó như thế nào. Chính vì vậy một nhà môi giới chuyên
nghiệp cần có những yếu tố và kỹ năng như: kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ
nang tìm kiếm khách hàng, kỹ năng khai thác thông tin. Các kỹ năng này giúp
người môi giới định vị được khách hàng và truyền đạt được những thông tin cần
thiết tới khách hàng.
1.1.3.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán
các chứng khoán cho chính mình
Hoạt động tư doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị trường
giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC. Trên thị trường giao dịch tập
trung, lệnh giao dịch của các CTCK được đưa vào hệ thống và thực hiện tương
tự như lệnh giao dịch của khách hàng. Trên thị trường OTC, các hoạt động này
có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty vơi các đối tác hoặc thông qua một
hệ thống mạng thông tin. Trong hoạt động này, với tư cách là một tổ chức pháp
nhân chuyên nghiệp, CTCK còn đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ
một số lượng nhất định một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán với khách
hàng nhằm hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá. Ngoài ra, CTCK còn được
hàng nếu không có nguyên tắc trên.
11
- Bình ổn thị trường: do tính đặc thù của TTCK, đặc biệt là các TTCK mới
nổi, bao gồm chủ yếu là các nhf đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì tính chuyên nghiệp
tronghoạt đồng đầu tư không cao. Điều này rất dễ dẫn đến những biến động bất
thường trên thị trương. Bên cạnh hoạt động cảu các quỹ đầu tư chứng khoán, các
CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua
hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả
của các loại chứng khoán trên thị trương. Thông thường, chức năng bình ổn giá
cả khôn phải là một quy định bắt buộc trong hệh thống pháp luật của các nước,
tuy nhiên đây thương là nguyên tắc nghề nghiệp do các hiệp hội chứng khoán đặt
ra trên thị trường và các CTCK phải tuân thủ theo trong quá trình hoạt động
Bên cạnh đó, các CTCK còn phải tuân thủ một số quy định khác như các
giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư v.v. nhằm đảm bảo một độ an toàn nhất định
cho các CTCK trong quá trình hoạt động, tránh những sự đổ vỡ gây thiệt hại
chung cho cả thị trường.
1.1.3.3. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp cho tổ chức
phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc
phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau
khi phát hành.
Hoạt động bảo lãnh phát hành bao gồm:
• Nghiên cứu và tư vấn cho tổ chức phát hành về các thủ tục và phương
pháp phát hành, loại chứng khoán phát hành, cơ cấu giá…
• Thỏa thuận với các nhà bảo lãnh khác trong việc tiếp thị phân phối chào
bán chứng khoán
12
• Quản lý phân phối và thanh toán chứng khoán.
• Thực hiện các công việc hỗ trợ cho thị trường và dịch vụ sau khi phát
hành.
(Nguồn Trung tâm đào tạo UBCKNN)
1.1.3.4. Hoạt động tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích
để đưa ra các lời khuyên, phânt ích các tình huống và có thể thực hiện một số
công biệc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho
khách hàng. Đây là hoạt động khó và phức tạp đòi hỏi CTCK phải có kỹ năng và
am hiểu thị trường cũng như trách nhiệm, tính trung thực cao đối với những dịch
vụ mà mình cung cấp cho khách hàng
Để hiểu rõ về hoạt động tư vấn chứng khoán, chung ta có thể phân loại
hoạt động này theo một số tiêu chí sau:
* Theo hình thức của hoạt động tư vấn: có thể gồm
- Tư vấn trực tiếp: khách hàng có thể gặp trực tiếp nhà tư vấn hoặc sử
dụng các phương tiện liên lạc như điện thoại, fax… để hỏi ý kiến
Giấy phép phát hành Chứng
Phân phối cổ phiếu trên cơ sở
Lưu ký chứng khoánBình ổn thị trường Thanh toán
15
- Tư vấn gián tiếp: là cách người tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưa
thông tin lên các phương tiện truyền thông như Internet để khách hàng nào cũng
có thể tiếp cận được nếu muốn
* Theo mức độ uỷ quyền của hoạt động tư vấn
- Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, ngườì tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiến của
mình về những diễn biến trên thị trường gợi ý cho khách hàng về những phương
pháp, cách thức xử lý nhưng quyền quyết định là của khách hàng
- Tư vấn uỷ quyền: bên cạnh việc tư vấn cho khách hàng, nhà tư vấn có
thể quyết định hộ khách hàng theo mức độ uỷ quyền của khách hàng
* Theo đối tượng của hoạt động tư vấn
- Tư vấn cho người phát hành: hoạt động tư vấn cho người phát hành
tương dối đa dạng, từ việc phân tích tình hình tài chính đến định giá doanh
nghiệp, tư vấn về cơ cấu vốn, cổ phần hoá, hay thâu tóm sáp nhập với công ty
không giốn nhau giữa các nước. Mô hình kinh doanh của các CTCK tại mỗi
quốc gia phải phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi
hại của những người làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, có thể khái quát
thành 2 mô hình cơ bản
a. Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
17
Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một
tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
tiền tệ, bảo hiểm. Mô hình này chia làm hai loại
- Mô hình đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán phải lập công ty con, hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt
động kinh doanh tiền tệ. CTCK chỉ hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và các
lĩnh vực khác theo quy định, nó khôn hoạt đong trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
như ngân hàng mẹ.
- Mô hình đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được trực tiếp kinh doanh
chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh
doanh, giảm bớt rủi ro kinh doanh nhờ đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư. Khả năng
chịu đựng của ngân hàng trước những biến động của thị trường tài chính cũng
nâng lên. Mặt khác, ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh của mình là tổ chức
kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về khách
hàng khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án.
Tuy nhiên, mô hình này cũng còn bộc lộ một số hạn chế như các ngân
hàng thường có xu hướng bảo thủ, thích cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ
phiếu, trái phiếu. Đồng thời, do khó tách bạch giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ
và kinh doanh chứng khoán nên dựa vào nguồn vốn lớn, ngân hàng dễ thao túng
thị trường chứng khoán, gây lũng đoạn thị trường. Bên cạnh đó, do không có sự
tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn nên ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết
kiệm của dân cư để đầu tư chứng khoán và khi thị trường diễn biến theo chiều
hướng xấu sẽ dẫn tới hiện tượng ồ ạt rút tiền gửi, làm mất khả năng chi trả trong
phòng sau
+ Phòng môi giới
+ Phòng tự doanh
+ Phòng bảo lãnh phát hành
+ Phòng tư vấn tài chính và đầu tư
+ Phòng ký quỹ
- Khối phụ trợ: là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ khinh
doanh nhưng nó không thể thiếu được trong vận hành của CTCK vì hoạt động
của nó mang tính chất trợ giúp cho khối nghiệp vụ. Khối này bao gồm
+ Phòng nghiên cứu, phát triển
+ Phòng phân tích và thông tin thị trường
+ Phòng công nghệ tin học
+ Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
+ Phòng kế hoạch công ty
+ Phòng phát triển sản phẩm mới
+ Phòng ngân quỹ, ký quỹ
+ Phòng pháp chế
+ Phòng hành chính tổng hợp
Ngoài ra, để thuận tiện cho quan hệ với khách hàng, mạng lưới tổ chức
một công ty chứng khoán thường gồm những chi nhánh hoặc văn phòng đại diện
tại các địa phương, khu vực cần thiết.
20
1.2. Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của công ty chứng khoán
Theo C.Mark: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Theo Longman: “Cạnh tranh là hoạt động của một cá nhân hay tổ chức cố
gắng để chiến thắng hoặc giành được công việc kinh doanh từ các đối thử của
cao như các CTCK thì chỉ tiêu này lại càng quan trọng. Những chỉ tiêu định tính
bao gồm
•Nguồn nhân lực
Một đội ngũ cán bộ nhân viên có năng lực, có chuyên môn giỏi sẽ là tài
sản vô hình nói lên tiềm năng sức mạnh của CTCK đó, nói lên năng lực cạnh
tranh của CTCK đó. Nó được đánh giá thông qua trình độ học vấn, kinh nghiệm
trong kinh doanh của các cán bộ khinh doanh và cán bộ lãnh đạo của CTCK.
•Khả năng quản trị điều hành
22
Chỉ tiêu này nhằm đánh giá sự bài bản trong hoạt động kinh doanh của các
CTCK. Khi đánh giá chỉ tiêu này cần xét tới các yếu tố như CTCK đã xây dựng
được chiến lược kinh doanh chưa, chiến lược đó có rõ ràng và khả thi không; bộ
máy hoạt động kinh doanh được tổ chức như thế nào, các quy trình cho từng
nghiệp vụ cụ thể có được xây dựng đầy đủ không. Một CTCK có khả năng quản
trị điều hành tốt sẽ tạo điều kiện cho việc giảm thời gian và chi phí cho mỗi giao
dịch từ đó nâng cao được tính cạnh tranh.
•Chất lượng sản phẩm dịch vụ
Chất lượng sản phẩm dịch vụ nói lên tính chuyên nghiệp và văn hoá kinh
doanh của CTCK. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán đòi hỏi sự tin
cậy cao, sự trung thành và chính xác từ các thông tin mà công ty cung cấp cho
khách hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt thì chất lượng dịch vụ
sẽ trở thành một yếu tố quan trọng thu hút khách hàng đến và trở thành khách
hàng trung thành của mình.
•Mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ
Đa dạng ở đây được hiểu là sự phát triển đầy đủ các sản phẩm dịch vụ của
công ty (Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành
chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán). Không chỉ là tiêu chí đánh giá mức độ
phát triển, sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán còn thể hiện khả
năng giảm thiểu rủi ro của CTCK khi tham gia thị trường
•Cơ sở hạ tầng công nghệ: