Lời mở đầu
Trong những năm gần đây hoạt động trên thị trường tài chính diễn ra rất
sôi động,ngoài những định chế tài chính đã tồn tại lâu nay như các ngân hàng
thương mại thì thị trường chứng khoán trong những năm vừa qua cũng phát
huy tác dụng rõ rệt trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế,song để huy
động vốn trên thị trường chứng khoán không phải doanh nghiệp nào cũng làm
được.Vì thế vai trò trong các ngân hàng thương mai vẫn vô cùng quan
trọng.Thời gian vừa qua tôi có cơ hội thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ
phần nhà hà nội.Thấy được những đòi hỏi của một doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực tài chính tiền tệ,cụ thể là dẫn vốn từ những người có vốn nhàn
rỗi đến những người có nhu cầu về vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh,do tính khan hiếm của vốn và hoạt động là doanh nghiệp thu lợi
nhuận.Nên việc cho người nào vay vốn,doanh nghiệp nào vay vốn thì yêu cầu
trước tiên là người đó doanh nghiệp đó phải chứng minh được mình có đủ khả
năng trả gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời gian đã thoả thuận giữa hai
bên.Vì vậy hoạt động thẩm định cho vay vốn đối với dự an hay cho vay vốn
trung và dài hạn là hoạt động không thể thiếu trong một loạt hoạt động phong
phú đa dạng của ngân hàng .Thẩm định cho vay nhằm khẳng định tính khả thi
của phương án sản xuất kinh doanh hoặc của dự án và khả năng hoàn trả vốn
vay của người vay đối với ngân hàng.Do tính cấp thiết như vậy nên tôi thực
hiện đề tài nghiên cứu “Công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội”. Đề tài thực tập tốt nghiệp của
tôi nhằm giải quyết những vần đề sau:
Thứ nhất: Mô tả công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn tại ngân
hàng Thương mại cổ phần nhà Hà Nôi.(viết tắt là Habubank).
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Thứ hai: Đánh giá công tác thẩm định cho vay trung và dài hạn tại
Habubank.
Thứ ba: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thẩm đinh cho vay trung
và dài hạn tại Habubank,dựa trên đánh giá ở trên.
Đề tài thực tập tốt nghiệp của tôi được chia làm hai chương:
Tháng 10 năm 1992, Thống đốc NHNN Việt Nam cho phép NH thực
hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm tiền gửi, tiết kiệm, vay
và tiếp nhận, cho vay, mua bán kiều hối, thanh toán ngoại tệ trong phạm vi
lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược kinh
doanh của Habubank với việc chú trọng mở rộng các hoạt động thương mại
nhằm vào đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các cá
nhân và tổ chức tài chính khác bên cạnh việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ
và phát triển nhà. Thêm vào đó, cơ cấu cổ đông cũng được mở rộng một cách
rõ rệt với nhiều cá nhân và doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân tham gia đầu
tư đóng góp phát triển.
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Trong năm 2008,HBB hoàn thiện dự án nâng cấp hạ tầng dữ liệu thông
tin phục vụ cho kinh doanh,quản trị điều hành theo tiêu chuẩn quốc tế.Tháng
2/2008,HBB mở chi nhánh đầu tiên tại khu vực miền trung-Chi nhánh HBB
Đà Nẵng.Mở rộng kết nối hệ thống thể của ngân hàng với hệ thống
Banknet,hệ thống thể có mạng lưới lớn nhất Việt Nam.Trong năm này HBB
cũng hoàn thiện việc đầu tư xây dựng 4 trụ sở mới cho các chi nhánh của
Ngân hàng tại TP HCM,Quảng Ninh,Bắc Ninh và Hà Nội.
Qua 5 lần tưng vốn điều lệ, đến nay Ngân hàng thương mại cổ phần
nhà Hà Nội đã có vốn điều lệ là 2000 tỷ VND.Tới nay, qua hơn 20 năm hoạt
động, Habubank đã có mạng lưới ngày càng mở rộng, 8 năm liên tục được
NHNN Việt Nam xếp loại A và được công nhận là NH phát triển toàn diện
với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả. Habubank luôn giữ vững niềm tin
của khách hàng bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ và phong cách nhiệt tình,
chuyên nghiệp của tất cả nhân viên.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ.
- Phương châm hoạt động.
Habubank cung cấp một cách toàn diện các gói sản phẩm và dịch vụ
NH có chất lượng cao, sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2005 của Habubank ).
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có nhiệm vụ và quyền hạn cao nhất trong
cơ cấu tổ chức của một NHTMCP. Đại hội đồng cổ đông cử ra Ban kiểm soát để
giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban điều hành.
Hội đồng quản trị bao gồm những cổ đông lớn, nắm giữ một tỷ lệ cổ
phần nhất định. Hội đồng quản trị sẽ ra những quyết định lớn, và giám sát
hoạt động của Ban điều hành.
Dưới Hội đồng quản trị có Ủy ban Quản lý tài sản và Ủy ban chính sách
tín dụng. Có chức năng và nhiệm vụ quản lý tài sản và quản lý tín dụng, giám
sát những hoạt động liên quan của Ban điều hành
Ban điều hành chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
Ban điều hành bao gồm: Tổng giám đốc điều hành và 4 Phó tổng giám đốc.
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Tổng Giám đốc điều hành chịu sự kiểm tra giám sát của Hội đồng quản
trị có chức năng nhiệm vụ là điều hành mọi hoạt động của NH và quản lý rủi
ro thị trường và thanh khoản, nguồn vốn và chiến lược-hợp tác -marketting.
Dưới Tổng giám đốc điều hành có 4 Phó tổng giám đốc: Phó tổng giám
đốc phụ trách mảng kiểm tra xét duyệt tín dụng, Phó tổng giám đốc phụ trách
mảng dịch vụ NHDN và phát triển kinh doanh, Phó tổng giám đốc phụ trách
dịch vụ NH cá nhân, Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính và cung ứng dịch
vụ. Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính và cung ứng dịch vụ còn quản lý
rủi ro hoạt động. Ba Phó tổng giám đốc còn lại thì quản lý rủi ro tín dụng.
Dưới Ban điều hành còn một loạt các phòng ban chức năng hỗ trợ quản
lý và kiểm toán nội bộ:
+ Văn phòng: hỗ trợ Ban điều hành trong quản lý.
+ Phòng thanh tra kiểm toán nội bộ: kiểm soát nội bộ
+ Phòng tài chính kế toán: quản lý, ghi chép tình hình tài chính của NH
+ Phòng đầu tư: phụ trách mảng đầu tư của NH.
+ Phòng phát triển kinh doanh: quản lý cả quá trình trước, trong và sau
khi cho khách hàng vay vốn
Habubank, từ cán bộ cao cấp đến nhân viên nghiệp vụ, đều cam kết tuân thủ
đạo đức nghề nghiệp theo những chuẩn mực quốc tế cao nhất.
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
1.1.4.Khái quát về hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần nhà
Hà Nội giai đoạn 2004-2008.
1.1.4.1. Hoạt động tạo lập vốn.
NH đã được NHNN Việt Nam cấp giấy phép hoạt động số 0020/NH-
GP có hiệu lực từ ngày 6 tháng 6 năm 1992 trong thời hạn 99 năm. Kể từ khi
thành lập, vốn cổ đông của NH đã được phát triển tại các thời điểm sau:
Vốn tăng lên
(triệu VND)
Được NHNN Việt Nam chấp
thuận theo
Ngày
50000 QĐ số 58/1999/QĐ-NHNN5 18/3/96
57000 QĐ số 443/1999/QĐ-NHNN5 21/12/99
63170 QĐ số 424/2000/QĐ-NHNN5 22/99/2000
70000 QĐ số 498/2000/QĐ-NHNN5 05/12/2000
71044 QĐ số 87/NHNN-QLTD 05/02/2002
80000 QĐ số 576/ NHNN-QLTD 06/09/2002
120000 QĐ số 170/NHNN-QLTD 07/04/2003
200000 QĐ số 45/NHNN-HAN7 11/02/2004
300000 QĐ số 89/NHNN-HAN7 21/01/2005
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2005 của Habubank )
Ngày 25/12/2007, Hội đồng quản trị Habubank đã chính thức thông
báo việc hoàn thành kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 1.400 tỷ đồng lên 2.000 tỷ
đồng sau khi phát hành cổ phiếu đợt II. Đây là mục tiêu đã được Đại hội cổ
đông đặt ra từ đầu năm 2007. Kết quả này đã thể hiện rõ sự tăng trưởng bền
vững, cấu trúc tài chính lành mạnh của Habubank trong năm2007.
Việc tăng vốn là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập WTO, nhất là
xuất hiện của các ngân hang nông thôn lên thành thị.Ngoài ra,chính sách thắt
chặt tiền tệ của NHNHđể kiềm chế lạm phát cũng góp phần làm tăng chi phí
vốn cho các ngân hang và đẩy lãi suất huy động lên cao .Lãi suất huy động
trên thi trường thời điểm đầu năm,cuối năm chênh lệch nhau rất lớn,dao động
trong khoảng 2%-3%.Đặc biệt vào thời điểm cuối tháng 12,thị trường khan
hiếm tiền đồng và lãi suất giao dịch tiền đồng bị đẩy lên rất cao.Trong bối
cảnh đó,HABUBANK vẫn luôn đảm bảo tốt khả năng thanh khoản,bảo đảm
đủ nguồn vốn phục vụ kinh doanh phát triển của ngân hang.
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Để đạt được kết quả trên,HABUBANK đã luôn chú trọng nâng cao chất
lượng dịch vụ khách hang,duy trì một biểu lãi suất linh hoạt, đa dạng về kì
hạn và phong phú về hình thức.Bên cạnh các tài khoản tiền gưỉ và tiền gửi tiết
kiệm,trong năm 2007,HABUBANK còn chú trọng đến việc phát hành giấy tờ
có giá và đã thành công phát hành hai đợt kỳ phiếu USD cho ngâ hang, đưa ra
sản phẩm mới ‘tiết kiệm 3G’ dành cho doanh nhân năng động và sản phẩm
tiết kiệm gửi góp được tặng bảo hiểm ‘Tình yêu cho con”dành ch các bậc cha
mẹ muốn chuẩn bị một khoản tài chính tưng laic ho con.Ngoài
ra,HABUBANK cũng đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hang cũ,tiếp thị các
doanh nghiệp mới để năng cao số dư tiền gửi tại ngân hang trên cơ sở duy trì
một lượng lớn khách hang gắn bó.
Tổng huy động vốn của ngân hàng trong năm 2008 là 16222 tỷ đồng
giảm 19,37 % so với năm 2007, trong năm 2007 đạt 19970 tỷ đồng,tăng
trưởng 105,13% so với năm 2006 và vượt 50% kế hoặch được giao,trong đó
huy động tiết kiệm tăng 30.4%,huy động tiền gửi khách hang tăng 299% và
huy động từ thị trường liên ngân hang tăng 122,4%.
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn qua 5 năm của Habubank.(Nguồn:báo cáo
thường niên 2007)
Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn 2007(Nguồn:báo cáo thường niên 2007).
b) Chỉ số an toàn vốn
chiếm 33,70% năm 2004, 31% năm 2005 , 21,61% năm 2006,40,27% năm
2007 và 41,93% năm 2008.
Đồng thời hướng tới nhóm khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
cho vay tiêu dùng vẫn là mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của Habubank.
Trong tổng dư nợ cho vay thì các dư nợ của các Công ty Cổ phần, TNHH
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
năm 2004-2007 chiếm tỷ trọng lớn từ 52% năm 2004, đến 65%năm 2005,
59,63% năm 2006 và 69,14% năm 2007. Dư nợ cho cá nhân và hộ gia đình
vay chiếm 23% năm 2004, 29% năm 2005,26,45% năm 2006 và 19,78% năm
2007.Tuy nhiên, Habubank vẫn rất chú trọng đến những loại hình cho vay
khác nhằm đảm bảo nguồn thu nhập đều cho NH đồng thời đáp ứng được nhu
cầu về vốn cho các khách hàng.
Bảng : Tổng dư nợ giai đoạn 2004-2008.
Năm 2004
% Tổng
nguồn
Năm 2005
% Tổng
nguồn
Năm 2006
%Tổng
nguồn
Năm 2007
%Tổng
nguồn
Năm 2008
%Tổng
nguồn
Tổng dư nợ (Tr VNĐ) 2.362.641 3.330.218 5.983.267 9.419.378 10.447.159
Phân theo thời hạn
b) Hoạt động đầu tư
- Đầu tư vào thị trường Liên NH và thị trường mở
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Năm 2007, đánh dấu sự tăng trưởng mạnh mẽ của Habubank trên thị
trường liên NH. Bên cạnh việc đăng ký giao dịch trên thị trưòng mở.
Habubank đã thiết lập thêm nhiều mối quan hệ với các NH trên các địa bàn
mới như: Cần Thơ, Long An, Thanh Hóa...và đẩy mạnh mối quan hệ với
nhiều NH mới trên địa bàn thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Doanh số giao dịch trên thị trường liên NH tăng 2,8 lần so với năm
2006, đạt 400000 tỷ đồng, tương đương 1515 tỷ đồng/ngày. Ngoài ra,
Habubank cũng tăng cường hoạt động đầu tư và kinh doanh giấy tờ có giá
nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Số liệu:
Bảng 4: Đầu tư vào thị trường liên NH và thị trường mở 2006
Đơn vị: triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2006 của Habubank ).
Trong năm 2006 Habubank đã được Bộ Tài chính công nhận là thành
viên bảo lãnh phát hành trái phiếu và đã kết hợp với Công ty chứng khoán
Habubank bảo lãnh phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu cho Tập đoàn Vinashin.
Kết quả thu lãi tiến gửi năm 2006 của NH đạt 422,55 tỷ đồng, tăng 5 lần so
với năm 2005 và thu từ tham gia thị trường tiền tệ đạt 114,6 tỷ đồng, tăng gần
2 lần so với năm 2005.
- Đầu tư Chứng khoán
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Trong năm 2006 công ty chứng khoán Habubank đã hoàn thiện các
dịch vụ và sản phẩm của mình và đã được Ủy ban chứng khoán Nhà nước cho
phép thực hiện các dịch vụ sau:
+ Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
+ Lưu ký chứng khoán
+ Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Năm 2004 NH đạt lợi nhuận từ bảo lãnh là 2,8 tỷ VNĐ, tăng 76% so với
2003, vượt 35% so với kế hoạch được giao. Năm 2005 thu nhập từ hoạt động
bảo lãnh của NH đạt 6,98 tỷ VNĐ, tăng 154% so với năm 2004. Tổng doanh
số bảo lãnh năm 2006 đạt 966,5 tỷ đồng, tăng 72,28% (tương đương 405,5 tỷ)
so với năm 2005. Thu nhập từ hoạt động bảo lãnh năm 2006 đạt 11,8 tỷ VND,
tăng 69% so với năm 2005.Năm 2007 tông doanh số bảo lãnh phát hành của
HABUBANK đạt 2499 tỷ đồng tăng 158,56% so với năm 2006.Thu nhập từ
hoạt động bảo lãnh đạt 17,2 tỷ đồng,tăng 45,76% so với năm 2006.
1.1.4.5 Về hoạt động thanh toán quốc tế .
Doanh số hoạt động năm 2004 của mảng kinh doanh này tăng trưởng rất
tốt nhờ tuân thủ chính sách đóng gói sản phẩm dịch vụ để bán chéo một cách
hiệu quả, tổng cộng tăng 37% so với năm 2003 và vượt kế hoạch được giao,
đạt 159 triêu USD.Năm 2005 giá trị giao dịch thanh toán qua hệ thống của
Habubank đạt 151 triệu USD. Năm 2006 là năm đánh dấu sự phát triển vượt
bậc về cả chất và lượng trong hoạt động thanh toán quốc tế của Habubank.
Thực hiện quyết tâm đẩy mạnh dịch vụ Thanh toán của Hội đồng quản trị,
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
toàn NH đã đạt được những kết quả hết sức khả quan: hoàn thành vượt mức
kế hoạch doanh số TTQT và thu phí dịch vụ thanh toán được Hội đồng quản
trị đề ra, đồng thời nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động. Doanh số
TTQT năm 2006 cũng là năm Habubank đạt được giải thưởng về Chất lượng
thanh toán quốc tế xuất sắc do Citigroup trao tặng tháng 4/2006 dành cho NH
có tỷ lệ điện tự động từ 98% trở lên. Tăng cường quan hệ với các NH đại lý,
tăng và sử dụng có hiệu quả hạn mức L/C xác nhận tại các NH nước ngoài
như Citibank, SCB, SMBC, ANZ, BNP, Commonwealth, UOB, Credit
Suisse, ING, RZB, Scotia Bank, BHF, Fortis Bank...
Thiết lập mã khóa giao dịch trực tiếp với hàng chục NH ở châu Âu, châu
Mỹ, Trung Đông tạo thuận lợi giao dịch của khách hàng. Mở rộng mạng lưới
NH đại lý có quan hệ trực tiếp lên tới hàng ngàn trên 85 nước và vũng lãnh thổ.
Trong năm, NH đã tạo nhiều chính sách ưu đãi cho khách hàng, đặc biệt là
mới cho NH và hoàn thành các công tác chuẩn bị để có thể phát hành và chấp
nhận thẻ quốc tế. Mở rộng các tiện ích kết nối giữa các NH thành viên
VNBC, triển khai dịch vụ thẩu chi cho thẻ ghi nợ nội địa đã phát hành và
nghiên cứu khả năng phát hành thẻ tín dụng trong nước và quốc tế.
1.2.Thực trạng hoạt động thảm định cho vay vốn trung và dài hạn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội giai đoạn 2004-2008.
1.2.1.Vài nét về tín dụng trung và dài hạn tại các ngân hàng thương mại.
Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang
thiết bị,xây dựng cải tiến kĩ thuật,mua công nghệ …Với sự phát triển nhanh
chóng của khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển nhu cầu vốn trung và
dài hạn ngày càng cao.
Nhà nước và các doanh nghiệp vay trung và dài hạn để đầu tư phát
triển.Vai trò của đầu tư phát triển ngày càng cao tại không chỉ các nước đang
phát triển mà ngay tại nước chung ta nhu cầu cần vốn trung và dài hạn để đầu
tư cho các dự án cũng đang rất cần thiết.
Khi khách hàng có kế hoặch mua sắm trang thiết bị,xây dựng tài sản cố
định …nhằm thực hiện dự án nhất định,có thể xin vay ngân hàng.Một trong
những yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải xây dựng dự án,thể hiện
mục đích,mục đích đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án(sản xuất kinh
doanh).Thẩm định dự án là điều kiên để ngân hàng quyết định phần vốn cho
vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp.
Dự án được xây dựng thành nhiều mục như phân tích thị trường,nguồn
nhân lực, địa điểm công nghệ,quy trình sản xuất,phân tíh tài chính …trong đó
phân tích tài chính là mục tiêu hàng đầu của ngân hàng.
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính dự án để đánh giá hiệu quả tài
chính của dự án như phân tích thông qua NPV, IRR,thời gian hoàn vốn,tỷ suất
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
thu nhập bình quân …Bên cạnh việc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá thích hợp,ngân
hàng đặc biệt quan tâm tới thời gian và các nguồn có thể dùng để trả nợ ngân
hàng.Do vậy trong những trường hợp không phải là dự án mới-tạo pháp nhân
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
dự án.
(Nguồn:báo cáo tín dụng của ngân hàng habubank 2008)
Nhìn vào tình hình thẩm định cho vay trung và dài hạn của Habubank
giai đoạn 2004-2008 ta biết được số dự án được thẩm định tăng qua từng
năm một,năm 2004 là 78 dự án ,2005 là 109 dự án,2006 là 181 dự án và năm
2007 là 269 dự án.Số dự án được chấp nhận chiếm phần lớn trong số dự án
được thẩm định,năm 2004 là 59 dự án chiếm 76% số dự án được thẩm
định,năm 2005 là 85 dự án chiếm 78% số dự án được thẩm định,năm 2006 là
136 dự án chiếm 75% số dự án được thẩm định và năm 2007 là 211 dự án
chiếm 78% số dự án được thẩm định và năm 2008 là 247 dự án chiếm 76% số
dự án xin vay vốn.
Chất lượng của các dự án mà ngân hàng Habubank cho vay vốn hầu hết
đều đựoc thế chấp bằng tài sản đảm bảo do đó khả năng ngân hàng không thu
hồi được khoản vay là rất thấp,song trong hoạt động ngân hàng không thể
tránh khỏi những rủi ro tín dụng vì vậy mà quản lí rủi ro tín dụng nhằm hạn
chế thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra.Việc đánh giá dự án có hiệu qủa hay
không chỉ được thực hiện ở khâu thẩm định dự án,tức là chỉ mang tính chất
ước lượng.Trong quá trình dự án đi vào thực hiện để đánh giá dự án có chất
lượng như thế nào về phía ngân hàng hầu như chỉ xem xét đến khả năng tra
các khoản nợ có đúng thời hạn hay không,có xuất hiện các khoản nợ khó đòi
hay các khoản nợ có vấn đề hay không.
Nhìn vào tỷ lệ nợ quá hạn của Habubank ,tỷ lệ này giảm liên tục qua các
năm chứng tỏ các dự án mà Habubank thâm định và cho vay vốn là có hiệu
quả,khả năng trả nợ cao. Đồng thời thời gian thẩm định dự án ngày càng rút
ngắn ,từ 27 ngày năm 2004 xuống còn 20 ngày năm 2008.Thời gian thẩm
định rút ngắn sẽ thu hút được thêm nhiều dự án và giảm bớt chi phi cho ngân
hàng,do đó mà tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
1.2.3.Mục tiêu thẩm định.
Lê Văn Dũng Lớp: Kinh tế đầu tư 47B
Thu thập thông tin ban đầu
Thông báo
tới khách
hàng
Thu lãi, phí, nợ gốc
Thanh lý hồ sơ tín
dụng
Tái thẩm
định
Thông báo tới khách
hàng