LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Trần Đăng Khâm đã hướng dẫn
em phương pháp nghiên cứu và triển khai thực hiện đề tài này.
Em xin cảm ơn các anh chị tại phòng môi giới công ty chứng khoán
Habubank đã tạo điều kiện cho em có thể thực tập tốt đồng thời cung cấp các
số liệu để em có thể viết đề tài này.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian và
kiến thức còn có hạn nên em không thể tránh khỏi có những thiếu sót. Em rất
mong nhận được những ý kiến góp ý của của các thầy cô đặc biệt là PGS.TS.
Trần Đăng Khâm.
Em xin chân thành cảm ơn !
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.7 Các mức phí, lãi suất của hợp đồng cầm cố............................................49
chứng khoán............................................................................................................49
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán ra đời là sự phát triển tất yếu của nền kinh tế
thị trường nhưng đồng thời nó cũng đóng vai trò ngược lại là thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế và cải thiện môi trường kinh doanh. Tại Việt Nam thị
truờng chứng khoán ra đời cách đây chưa lâu nhưng nó đang dần khẳng định
vị trí là một kênh huy động vốn hiệu quả, dẫn truyền vốn từ nguồn nhàn rỗi
tới các dự án các công trình… Để thị trường chứng khoán phát triển vững
mạnh thì sự đóng góp của các công ty chứng khoán là vô cùng quan trọng.
Các công ty chứng khoán có vai trò thúc đẩy sự lớn mạnh của thị trường, đưa
chứng khoán đến gần hơn với công chúng. Hoạt động chủ yếu của các công ty
chứng khoán hiện nay là hoạt động môi giới. Hoạt động này phát triển đã đem
lại nhiều lợi ích cho thị trường chứng khoán nói chung cho các công ty chứng
khoán và các nhà đầu tư nói riêng.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 7
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi
diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi chứng khoán. Thị trường chứng khoán
phát triển kéo theo sự ra đời của hàng loạt các công ty chứng khoán và các
nhà môi giới chuyên nghiệp. Có nhiều cách nhìn nhận về công ty chứng
khoán. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có các khái niệm khác nhau.
Theo giáo trình thị trường chứng khoán thì công ty chứng khoán là một tổ
chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
Theo Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17-6-2004 của Bộ Tài Chính
thì: “ Công Ty Chứng Khoán là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu
hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán theo giấy
phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán Nhà Nước cấp”.
Các công ty chứng khoán có những đặc điểm riêng khác nhau tùy theo
mục đích hoạt động của công ty và mức độ phát triển của thị trường. Ở từng
cấp độ phát triển các công ty chứng khoán sẽ có những định hướng phát triển
các hoạt động và nghiệp vụ khác. Tuy nhiên các công ty này vẫn có những
đặc điểm chung nhất, đặc trưng nhất để được xếp vào cùng một nhóm công ty
chứng khoán.
Trước hết là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường tài chính, nên
công ty chứng khoán có những đặc điểm chung vốn có của một tổ chức tài chính
trung gian. Đây là đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của một công ty chứng
khoán. Ở công ty chứng khoán đặc điểm này được thể hiện thông qua trung gian
về giao dịch, trung gian thông tin, trung gian vốn, trung gian rủi ro.
3
Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian về giao dịch. Công ty
chứng khoán là nơi kết nối giữa người cần bán chứng khoán và những người
cần mua chứng khoán lại với nhau. Tạo ra một cơ chế giao dịch nhanh, gọn và
tiết kiệm thời gian cho các nhà đầu tư. Ở đây người mua và người bán không
trực tiếp gặp nhau để thỏa thuận giá cả chứng khoán và tiến hành các giao
dịch mà họ sẽ giao dịch qua hệ thống của công ty chứng khoán. Các công ty
chứng khoán sẽ nhận các yêu cầu về mua bán chứng khoán của nhà đầu tư sau
là có những nguồn vốn nhàn rỗi nhưng chủ nhân của chúng không có đủ thời
gian cũng như kiến thức chuyên môn, khả năng phân tích để đầu tư trên thị
trường chứng khoán. Do đó các quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập. Các
quỹ này sẽ thực hiện đầu tư trên một danh mục các chứng khoán được lựa
chọn bởi các chuyên gia, danh mục đầu tư chứng khoán được tính toán xây
dựng với mục đích kiếm lời và phân tán rủi ro. Các quĩ này sẽ thực hiện việc
phát hành các chứng chỉ quĩ đầu tư bán cho công chúng đầu tư.
Công ty chứng khoán là một công ty trong quá trình hoạt động có sự
chuyên môn hóa cao. Công ty chứng khoán hoạt động với rất nhiều nghiệp vụ
phức tạp. Các thông tin số liệu cũng như tình hình thị trường luôn luôn biến
động rất nhanh, do đó khi tham gia vào thị trường các chủ thể phải có những
phản ứng nhanh trước những thay đổi. Do đó mà bộ máy hoạt động của công
ty phải gọn nhẹ để có thể ra các quyết định nhanh kịp thời. Trong các hoạt
động cần sự chuyên môn hoá giữa các bộ phận. Vì thế các hoạt động của công
ty chứng khoán có tính độc lập tương đối. Mỗi bộ phận trong tổ chức công ty
nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau ( bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh,
hay bộ phận bảo lãnh phát hành..). Sự chuyên môn hóa ở mức độ cao trong
từng bộ phận, từng phòng ban.
Công ty chứng khoán là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh phải
5
thoả mãn được các điều kiện về vốn, điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất
kinh doanh và cả hệ thống công nghệ thông tin như:
- Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định.
Vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
- Công ty phải có giấy phép do ủy ban chứng khoán nhà nước cấp
- Công ty chứng khoán chỉ được kinh doanh những hoạt động đã đăng
ký với ủy ban chứng khoán.
- Công ty hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban chứng khoán nhà nước.
- Các tổ chức cá nhân sáng lập công ty chứng khoán phải đảm bảo yêu
cầu tối thiểu về cơ sở vật chất cho công ty chứng khoán.
tham gia kinh doanh chứng khoán. Áp dụng mô hình này sẽ tạo điều kiện cho
thị trường chứng khoán phát triển mạnh.
Nếu xem xét các công ty chứng khoán dưới tiêu thức loại hình tổ chức
thì có 3 loại hình công ty chứng khoán cơ bản là: công ty hợp danh, công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Công ty hợp danh: là loại hình công ty có 2 chủ sở hữu trở lên. Thành
viên của công ty hợp danh bao gồm: Thành viên góp vốn (thành viên chỉ góp
vốn chứ không tham gia quản lý) và thành viên hợp danh (tham gia quản lý,
điều hành công ty). Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn
bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên
góp vốn không tham gia điều hành công ty, chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn
trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của công ty. Công ty
hợp danh không được phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào.
7
Công ty cổ phần: Công ty cổ phần có tư cách là một pháp nhân độc lập
với các chủ sở hữu công ty là các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã
góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra
công chúng theo quy định của pháp luật.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Thành viên của công ty chịu trách nhiệm
trong giới hạn số vốn mà họ đã góp về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phép phát
hành cổ phiếu. Hiện có rất nhiều công ty chứng khoán hoạt động dưới hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Các công ty
chứng khoán tạo ra một cơ chế giao dịch mà nhờ đó các cổ phiếu trái phiếu
được lưu thông, buôn bán tấp nập trên thị trường, và nguồn vốn khổng lồ
trong công chúng được đưa vào đầu tư được sử dụng một cách hiệu quả hơn.
dịch, từ đó giúp các nhà đầu tư nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
Công ty chứng khoán là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát
triển để thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá
cả, điều tiết thị trường. Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo
lãnh chứng khoán cho các tổ chức phát hành, công ty chứng khoán thông qua
việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá chào bán hợp lý đối
với các chứng khoán. Thông thường mức giá phát hành do các công ty chứng
9
khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và thõa thuận với các nhà đầu tư
tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành. Tại thị
trường thứ cấp, dù là thị trường đấu giá hay thị trường đấu lệnh, công ty
chứng khoán luôn có vai trò tư vấn, giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng và
chính xác về các khoản đầu tư của họ. Giá cả của chứng khoán là do thị
trường quyết định, nhưng để đến được mức giá cuối cùng thì người mua và
người bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham
gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò
lớn khi tham gia điều tiết thị trường, nhiều công ty đã dành một tỷ lệ nhất
định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường, bảo vệ các khoản
đầu tư của khách hàng cũng là bảo vệ lợi ích của chính mình. Công ty chứng
khoán có tác dụng bôi trơn giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động một
cách trôi chảy. Thị trường chứng khoán được thành lập để tăng tính thanh
khoản cho các tài sản tài chính tuy nhiên các công ty chứng khoán mới là các
chủ thể thực hiện vai trò này. Trên cả hai thị trường sơ cấp và thứ cấp các
công ty chứng khoán đều thực hiện cơ chế giao dịch. Từ đó, các nhà đầu tư có
thể chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại một cách thuận tiện,
nhanh chóng, dễ dàng, ít tốn kém và ít thiệt hại nhất.
Đối với cơ quan quản lý thị trường các công ty chứng khoán có vai trò
cung cấp thông tin. Thông tin là một yếu rất quan trọng trên thị trường chứng
khoán, cung cấp thông tin đầy đủ đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách
lành mạnh và minh bạch. Các công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này
trực tiếp giữa công ty với các đối tác hoặc thông qua mạng thông tin. Ngoài ra
các công ty chứng khoán còn đóng vai trò như một pháp nhân chuyên nghiệp
khi mà hoạt động tự doanh còn được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị
11
trường. Các công ty chứng khoán nắm giữ một số lượng nhất định một loại
chứng khoán nào đó và thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm hưởng
phí giao dịch và chênh lệch giá.
Sự tham gia của công ty vào thị trường chứng khoán với nghiệp vụ tự
doanh đã nảy sinh xung đột lợi ích giữa khách hàng và lợi ích công ty. Do đặc
thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các công ty
chứng khoán có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường có thể dẫn
đến việc sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng. Để bào vệ quyền lợi cho các
nhà đầu tư Pháp luật đã qui định công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên
tắc ưu tiên cho khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ của hoạt động tự doanh.
Công ty chứng khoán cần phải tách biệt rõ ràng giữa hoạt động môi giới với
hoạt động tự doanh, công ty chứng khoán phải ưu tiên đặt lệnh của khách
hàng trước lệnh tự doanh của công ty.
Vì vậy cần phải có những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong
hoạt động tự doanh. Trong quản lí của công ty chứng khoán phải có sự tách
biệt giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới để đảm bảo tính minh
bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người
và các qui trình nghiệp vụ. Đồng thời các công ty còn phải đảm bảo sự tách
bạch về tài sản của khách hàng với các tài sản của công ty. Công ty phải luôn
đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu. Nghĩa là lệnh và giao dịch của khách
hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty, cung cấp thông tin co
khách hàng một cách trung thực và kịp thời nhất.
Hoạt động bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành giúp tổ chức
phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc
phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu
Theo phương thức tiến hành tư vấn thì công ty chứng khoán có thể tư
vấn trực tiếp cho khách hàng. Các nhà tư vấn gặp gỡ các khách hàng, nghiên
cứu tình hình tài chính của từng khách hàng để đưa ra các lời khuyên phù
hợp. Hoặc công ty có thể tư vấn một cách gián tiếp thông qua việc phát hành
các ấn phẩm hay là đưa thông tin lên mạng Internet để bất kỳ khách nào cũng
tiếp cận được nếu muốn.
Theo mức độ ủy quyền của tư vấn: tùy theo yêu cầu của khách hàng mà
công ty chứng khoán có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn từ việc đưa ra các gợi
ý cho khách hàng về những phương pháp, cách thức xử lý nhưng quỳen quyết
định là của khách hàng. Hoặc là ở cấp độ cao hơn thì nhà tư vấn sẽ tư vấn và
quyết định hộ khách hàng theo mức độ ủy quyền của khách hàng.
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn thì hoạt động này được chia ra
thành tư vấn cho nhà phát hành và tư vấn cho nhà đầu tư. Tư vấn cho tổ chức
phát hành bao gồm việc tư vấn phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các tổ chức
này. Hoạt động này được thực hiện tốt sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các
doanh nghiệp và tạo ra hàng hóa có chất lượng cho thị trường. Tư vấn đầu tư
là các hoạt động thường ngày của các công ty chứng khoán diễn ra phổ biến
trên thị trường thứ cấp. Đây có thể là những lời khuyên, những bản tin hay
những hợp đồng dịch vụ.
1.2. Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán khi hoạt động trên thị trường có thể thực hiện các
nghiệp vụ khác nhau, tuy nhiên hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động
được nhiều công ty đăng ký hoạt động nhất. Đây là một hoạt động trung gian,
công ty chứng khoán sẽ đại diện cho khách hàng thực hiện các giao dịch để
hưởng phí môi giới. Các giao dịch được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch
tại sở giao dịch hoặc trên thị trường OTC và trong các giao dịch này khách
hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
14
Môi giới trên sàn giao dịch nghĩa là các nhà môi giới là trung gian giữa
người hoạt động trong lĩnh vực này để thu được thành công phải là những
người thực sự tâm huyết với nghề, có khả năng phân tích tâm lí tôt, ứng xử
khéo léo và kiên nhẫn trong việc tiếp xúc với khách hàng để có thể đạt được
hiệu quả công việc cao. Bên cạnh đó cũng cần phải có sự hỗ trợ của công ty
trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực hiện
các lệnh của khách hàng.
Hoạt động môi giới đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị
trường chứng khoán. Hoạt động môi giới tạo thuận lợi trong các giao dịch
giữa người cần bán chứng khoán và người cần mua chứng khoán, tiết kiệm
các chi phí giao dịch, đồng thời trong quá trình hoạt động nghiệp vụ các nhà
môi giới tiếp xúc với khách hàng, có cơ hội biết được các nhu cầu mới, từ đó
phát triển thêm các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, cải thiện môi trường
kinh doanh.
Môi giới chứng khoán giúp giảm chi phí giao dịch. Với vai trò là trung
gian làm cầu nối giữa các bên mua và bán chứng khoán hoạt động môi giới
của các công ty chứng khoán đã làm giảm đáng kể các chi phí tìm kiếm đối
tác của các nhà đầu tư trên thị trường. Ngoài ra thị trường chứng khoán là một
thị trường của những sản phẩm và dịch vụ bậc cao, do đó để thẩm định chất
lượng và giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán cần
phải thu thập, xử lí thông tin, cần phải có các kỹ năng phân tích và tổng hợp
thông tin và các hoạt động nghiệp vụ khác để hỗ trợ. Để thực hiện các khâu
trên cần một kinh phí khổng lồ. Những khoản này chỉ có những công ty môi
giới chuyên nghiệp mới có thể gánh vác được.
16
Phát triển các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
Vai trò trung gian đã giúp cho nhà môi giới nắm bắt được nhu cầu của
khách hàng và phản ánh chúng với các nhà cung cấp dịch vụ. Có thể nói
những nhà môi giới là những người đi thu góp và đưa ra các ý tưởng thiết kế
các sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu khách hàng. Trên các thị trường chứng
khoán mới nổi, nếu hoạt động môi giới được tổ chức tốt sẽ góp phần cải thiện
Tỡm kim khỏch hng l mt bc quan trng trong hot ng mụi
gii. Cụng vic ny c thc hin thụng qua cỏc mi quan h, hay thụng qua
cỏc hot ng tip th, qung cỏo, marketing v cụng ty.
Bc 2: La chn khỏch hng, õy cỏc nh mụi gii s xỏc nh mc
tiờu khỏch hng ca mỡnh l cỏc i tng no, v cú th phõn loi cỏc i
tng khỏch hng theo nhu cu, thu nhp, v phc v cỏc nhúm nh u t
vi cỏc lai dch v khỏc nhau sao cho phự hp nht.
Bc 3: Chm súc khỏch hng. Cỏc nh mụi gii s kin ngh v gii
thớch cho khỏch hng hiu v dch v ti chớnh no cú th ỏp ng nhu cu
ca h mt cỏch tt nht. Tỡm hiu cỏc nhu cu ca khỏch hng v cung cp
cho h cỏc dch v tha món nhng nhu cu ú. Nh vy ngi mụi gii
cn cú s hiu bit nht nh v cỏc lnh vc c th. ng thi cỏc mụi gii
viờn phi cú cỏc k nng, nghip v chm súc khỏch hng, bit cỏch thuyt
trỡnh cỏc vn mt cỏch góy gn, d hiu thuyt phc khỏch hng.
Khi khỏch hng ó chp nhn dch v thỡ nhõn viờn mụi gii phi cung
cp y cỏc dch v cho khỏch hng.
Trờn õy l ba bc m cỏc nh mụi gii phi thc hin nu mun tr
thnh mt ngi thnh cụng trong ngh.
18
Tại các công ty chứng khoán khi khách hàng có nhu cầu giao dịch trên
sàn giao dịch chứng khoán, các nhân viên môi giới làm việc tại bộ phận giao
dịch sẽ cung cấp cho khách hàng một qui trình để tham gia đầu tư, qui trình
này bao gồm các bước sau:
Bước 1: Mở tài khoản cho khách hàng.
Trước khi thực hiện các hoạt động giao dịch trên sàn giao dịch thì các
khách hàng phải mở tài khoản tại một công ty chứng khoán. Khách hàng được
các nhân viên môi giới hướng dẫn các thủ tục mở tài khoản. Sau đó nhân viên
môi giới sẽ cung cấp cho khách hàng một mã số để giao dịch, tập hợp hồ sơ
khách hàng và lưu trữ thông tin, khai báo lên hệ thống máy nội bộ và các cơ
quan quản lý. Sau khi giúp khách hàng mở tài khoản, nhân viên môi giới
dịch trong tài khoản của các khách hàng.
Với việc hạch toán tiền mặt mua bán chứng khoán khách hàng sẽ được
thông qua Ngân hàng chỉ định thanh toán. Việc phải thanh toán tiền mua bán
chứng khoán cộng với một khoản phí giao dịch và hạch toán sẽ được thực
hiện trực tiếp trên tài khoản của khách hàng. Nếu là thị trường khớp lệnh liên
tục thì quá trình hạch toán diễn ra liên tục và số dư tiền mặt trên tài khoản của
khách hàng vì thế cũng thay đổi liên tục. Nhưng đối với các thị trường chưa
phát triển còn non kém mới hình thành như Việt Nam thì quá trình giao dịch
chỉ hoàn tất trong T + 3 ngày ( nghĩa là khách hàng giao dịch tại ngày T thì
ngày được thanh toán sẽ là sau 3 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh các giao
dịch). vì vậy khách hàng có thể biêt được việc chứng khoán mình mua được
sẽ về trong bao nhiêu ngày và việc mình bán chứng khoán thì tiền bán sẽ về
tài khoản mình trong bao nhiêu ngày.
20
Với việc hạch toán chứng khoán sẽ được thông qua Trung tâm lưu kí
chứng khoán. Việc chuyển đổi chứng khoán sở hữu ( mà ở đây chủ yếu là
chứng khoán ghi sổ) sẽ được Trung tâm lưu ký chuyển đổi giữa các tài khoản
với nhau theo hình thức thanh toán bù trừ đa phương hoặc song phương
1.2.4 Nguyên tắc hoạt động môi giới chứng khoán
Mỗi một khách hàng khi tham gia giao dịch tại công ty chứng khoán
đều phải có một mã số tài khoản riêng. Vì mọi hoạt động giao dịch của khách
hàng đều thực hiện dưới dạng bút toán ghi sổ. Vì vậy việc mở tài khoản cho
khách hàng để cho mọi hoạt động thanh toán và giao dịch được đơn giản và
minh bạch hơn.
Tách bạch tiền, chứng khoán của khách hàng với tiền và chứng khoán
của công ty. Đây là một nguyên tắc đảm bảo tính an toàn trong hoạt động của
thị trường chứng khoán, tránh sự lạm dụng của các công ty chứng khoán trên
tài khoản của khách hàng dẫn đến các rủi ro không đáng có.
Các nhà môi giới chứng khoán phải có trách nhiệm cung cấp thông tin
cân thiết cho khách hàng khi họ yêu cầu. Vì bản thân các nhà đầu tư là người