LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là một kênh thu hút vốn đầu tư lớn trong nền
kinh tế. Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời và đi vào hoạt
động từ ngày 28/7/2000, đến ngày 8/3/2005 khai trương TTGDCK Hà Nội,
đến nay đã có 151 mã cổ phiếu trên sàn HOSE và 129 mã trên sàn HASTC,
cùng với hàng chục công ty chứng khoán mới ra đời. Vài năm trở lại đây là
thời kỳ rực rỡ nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam, cùng với hàng
loạt chỉ thị, chính sách của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước ra đời nhằm tạo
điều kiện cho sự phát triển của thị trường. Lượng tiền nhàn rỗi trong dân
chúng đổ vào thị trường chứng khoán rất lớn.
Tuy nhiên, từ vài tháng cuối năm 2007 đến nay, thị trường chứng
khoán Việt Nam bước sang năm 2008 đang đứng trước những biến động lớn
với nguy cơ sụt giảm mạnh. Hàng chục công ty chứng khoán mới thành lập
từ nửa cuối năm 2007 hiện đang phải đối phó với những khó khăn trong tình
hình hiện nay. Những công ty chứng khoán đã hoạt động lâu năm cũng
không tránh khỏi thua lỗ. Trước thực trạng đó, công ty chứng khoán Quốc tế
Hoàng gia, mới thành lập và đi vào hoạt động chưa đầy nửa năm, đang đối
mặt với những thử thách lớn, cần vượt qua quãng thời gian khó khăn hiện tại
để xây dựng cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Một thực tế là khi thị trường chứng khoán ảm đạm như hiện nay, các
nhà đầu tư lũ lượt rút ra khỏi thị trường để đầu tư vào những hoạt động khác,
một trong những nguyên nhân của việc giá vàng và bất động sản tăng vọt
thời gian qua. Việc thu hút nhà đầu tư quay trở lại thị trường chứng khoán,
một phần giúp cho lợi nhuận của công ty, một phần giúp phục hồi thị trường,
đó là công việc của nhà môi giới.
1
Môi giới chứng khoán là một nghề mới trên thị trường Việt Nam, đến
nay vẫn còn nhiều nhà đầu tư chưa thực sự hiểu rõ khái niệm về môi giới,
thậm chí có thành kiến như một thứ "cò chứng khoán", điều này gây không
ít khó khăn cho hoạt động môi giới nói riêng và các hoạt động của công ty
chứng khoán nói chung. Trong khi đó, việc thu hút nhà đầu tư mở tài khoản
hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn, diễn ra
trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán là nơi
tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm; và là định chế tài chính trực
tiếp, cả chủ thể cung và cầu vốn đều tham gia trực tiếp vào thị trường.
Về bản chất, thị trường chứng khoán là quá trình vận động của tư bản
tiền tệ, có thể nói thị trường chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu
về tư bản, là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Thị trường
chứng khoán là một bộ phận chủ yếu của thị trường tài chính, có vai trò quan
trọng đối với quá trình huy động vốn và sử dụng vốn của nền kinh tế thị
trường.
Tham gia thị trường chứng khoán có các chủ thể:
• Nhà phát hành, bao gồm chính phủ và chính quyền địa phương,
công ty, và các tổ chức tài chính.
• Nhà đầu tư, bao gồm nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ
chức
• Các tổ chức kinh doanh, bao gồm công ty chứng khoán và các
ngân hàng thương mại
3
• Các tổ chức có liên quan, bao gồm cơ quan quản lý Nhà nước,
Sở giao dịch chứng khoán, các tổ chức tài trợ chứng khoán,
v.v...
Sự tham gia của các chủ thể trên vào thị trường chứng khoán như thế
nào là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển thị
trường. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là thu hút vốn
đầu tư dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các
loại chứng khoán. Do vậy, để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động
một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra dời và hoạt
động của các công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
Mỗi loại hình công ty chứng khoán có những đặc điểm, cơ cấu,
nghiệp vụ... khác nhau, nhưng đều chung vai trò quan trọng là duy trì và
thúc đẩy hoạt động của thị trường chứng khoán.
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt,
vừa là nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào thị trường, vừa là cầu nối giữa nhà
phát hành và những nhà đầu tư khác, cung cấp những dịch vụ cần thiết phục
vụ hoạt động của thị trường. Sự có mặt của công ty chứng khoán là không
thể thiếu trên cả thị trường tập trung hay phi tập trung.
5
Dựa trên các hoạt động của mình, công ty chứng khoán có những vai
trò chính như sau:
1.1.2.1 Vai trò huy động vốn
Mục tiêu khi tham gia thị trường chứng khoán của các tổ chức phát
hành là huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Đó là vai trò
của công ty chứng khoán, với tư cách là trung gian tài chính, thông qua hoạt
động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
Vai trò huy động vốn, nói một cách đơn giản, là vai trò làm cầu nối,
đồng thời là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một vài bộ phận của nền kinh tế
có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang
thiếu cần huy động vốn.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là
nguyên tắc trung gian, yêu cầu các nhà đầu tư và nhà phát hành phải giao
dịch chứng khoán thông qua các trung gian mua bán, là công ty chứng
khoán. Công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế
thông qua thị trường chứng khoán.
1.1.2.2 Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả
Vai trò này của công ty chứng khoán thể hiện đối với cả nhà đầu tư và
thị trường chứng khoán.
Đối với nhà đầu tư, công ty chứng khoán cung cấp cơ chế giá cả nhằm
khác nhau, thông qua việc nghiên cứu thị trường, phân tích thông tin và cung
cấp những phân tích đó cho các nhà đầu tư, giúp họ có những quyết định
7
giao dịch chính xác hơn, đồng thời tiết kiệm thời gian, công sức cho nhà đầu
tư nếu họ phải tự phân tích thị trường.
1.1.2.5 Tạo ra các sản phẩm mới
Khi thực hiện các chức năng của mình, các công ty chứng khoán cũng
tạo ra sản phẩm. Trong mấy năm gần đây, chủng loại chứng khoán đã phát
triển với tốc độ rất nhanh do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp
không nhỏ của các công ty chứng khoán.
Ngoài cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu, các công ty
chứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ trung ương và địa
phương, chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền
chọn (điều này ở Việt Nam chưa có) và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác
phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị
trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu
tư, các nhà phát hành, đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với thị
trường chứng khoán nói chung. Để đảm bảo vai trò này, cần có sự xác định
mô hình, tổ chức công ty để từ đó xác định các hình thức kinh doanh cũng
như biện pháp quản lý công ty chứng khoán phù hợp.
1.1.3 Mô hình, tổ chức của công ty chứng khoán
1.1.3.1 Mô hình công ty chứng khoán
Hoạt động của công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp so với
các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thông thường, vì vậy việc xác định
mô hình tổ chức kinh doanh của công ty chứng khoán cũng có nhiều điểm
khác nhau. Tuy nhiên có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh của công
8
ty chứng khoán theo hai nhóm: mô hình công ty chứng khoán đa năng, và
mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
Do có những hạn chế trên, hiện nay phần lớn các công ty chứng khoán
trên thế giới đều áp dụng mô hình chuyên doanh, chỉ có Đức vẫn duy trì mô
hình đa năng cho tới nay.
b) Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Mô hình chuyên doanh chứng khoán được áp dụng phổ biến từ sau
khủng hoảng thị trường tài chính 1929-1933. Theo mô hình này, hoạt động
kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong
lĩnh vực chứng khoán thực hiện, các ngân hàng không được tham gia kinh
doanh chứng khoán.
Mô hình này khắc phục được những hạn chế của mô hình đa năng,
giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng
khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy
thị trường phát triển.
Tuy nhiên, do xu thế thành lập các tập đoàn tài chính khổng lồ, một số
thị trường vẫn cho phép các công ty kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ,
bảo hiểm, chứng khoán, nhưng được tổ chức thành công ty mẹ, công ty con,
hoạt động tương đối độc lập với nhau.
1.1.3.2 Tổ chức của công ty chứng khoán
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng
khoán: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
10
a) Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên.
Có hai loại thành viên tham gia công ty hợp danh: thành viên hợp
danh và thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh tham gia vào quá trình ra
quyết định quản lý, chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ tài chính của
công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Thành viên góp vốn không tham gia
điều hành công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về những khoản nợ của
công ty trong giới hạn vốn góp của mình vào công ty.
Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới
• Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua
bán cổ phiếu.
• Đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo hình thức công
ty cổ phần và niêm yết tại Sở giao dịch thì coi như được quảng
cáo miễn phí.
• Hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin
của công ty cổ phần tốt hơn hai hình thức trên.
Do những ưu điểm của loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần so
với công ty hợp danh, hiện nay các công ty chứng khoán được tổ chức chủ
yếu dưới hình thức công ty TNHH và công ty cổ phần. Tuy nhiên, dù tổ
chức dưới hình thức nào thì các công ty cũng có những hoạt động tiêu biểu
của một công ty chứng khoán.
12
1.1.4 Hoạt động của công ty chứng khoán
Hoạt động của công ty chứng khoán có thể phân ra hoạt động nghiệp
vụ và hoạt động tài chính.
1.1.4.1 Hoạt động nghiệp vụ
a) Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
* Khái niệm:
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng
khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách
hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến
khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư
bán chứng khoán và nhà đầu tư mua chứng khoán.
* Chức năng:
Hoạt động môi giới chứng khoán có các chức năng:
• Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
Mục đích của hoạt động tự doanh là thu lợi nhuận cho chính công ty
thông qua giao dịch mua bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này
hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vì vậy trong quá trình hoạt
động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa khách hàng và bản thân công ty.
Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường, luật pháp
các nước đều yêu cầu sự tách bạch rõ ràng hai nghiệp vụ, và yêu cầu công ty
14
chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh cho khách hàng trước khi thực hiện
lệnh của công ty.
Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gian
thực hiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng; trong hoạt động tự doanh
công ty chứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy,
công ty chứng khoán đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về
nguồn vốn và nhân viên, đảm bảo một nguồn vốn lớn và đội ngũ nhân viên
có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tự quyết, khả năng phân tích và
đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò
là nhà tạo lập thị trường.
c) Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công
chúng, tổ chức phát hành cần đến công ty chứng khoán tư vấn cho đợt phát
hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là
một nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của công
ty chứng khoán.
Như vậy, bảo lãnh phát hành chứng khoán là một hoạt động của công
ty chứng khoán nhằm giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi
chào bán chứng khoán, nhận mua chứng khoán của các tổ chức phát hành để
bán lại, hoặc mua các chứng khoán chưa được phân phối trong đợt phát
hành, giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
Bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán sẽ giúp tổ chức phát hành nắm
chắc khả năng huy động vốn và có kế hoạch sử dụng vốn huy động.
• Theo hình thức hoạt động: gồm tư vấn trực tiếp và tư vấn gián
tiếp thông qua các ấn phẩm, phương tiện thông tin đại chúng.
• Theo mức độ uỷ quyền của hoạt động: gồm tư vấn gợi ý và tư
vấn uỷ quyền.
• Theo đối tượng của hoạt động: gồm tư vấn cho người phát hành
và tư vấn đầu tư.
Các cách phân loại như trên đan xen nhau, làm nên tính phong phú
của hoạt động tư vấn chứng khoán.
Ở Việt Nam, việc quản lý các hoạt động tư vấn là cần thiết nhưng lại
vô cùng khó khăn trong điều kiện ban đầu, khi các hoạt động kinh doanh
chứng khoán chưa đi vào quy củ, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện.
e) Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách
hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi
cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng.
Quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn của công ty chứng
khoán nhưng ở mức độ cao hơn; trong hoạt động này, khách hàng uỷ thác
tiền cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một
chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêu
cầu (mức lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro có thể chấp nhận v.v...)
Nghiệp vụ quản lý có thể thực hiện qua các bước như sau:
- Nhận yêu cầu quản lý
- Ký hợp đồng quản lý
- Thực hiện hợp đồng quản lý
- Thanh lý hợp đồng
17
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những phát sinh ngoài
hợp đồng, công ty phải xin ý kiến của khách hàng bằng văn bản và phải thực
hiện theo đúng quy định của khách hàng. Ngoài ra công ty phải nghiêm ngặt
tách rời hoạt động này với hoạt động tự doanh và môi giới, tránh sử dụng
thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại
các công ty chứng khoán hoặc ký gửi chứng khoán. Khi thực hiện dịch vụ
lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ nhận được các
khoản phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng
khoán.
* Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty:
Dịch vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính có thể do bất kỳ công ty
chứng khoán hay cá nhân nào tham gia thông qua khuyến cáo, lập báo cáo,
tư vấn trực tiếp, thông qua ấn phẩm về chứng khoán để thu phí.
Hoạt động tư vấn đầu tư là việc cung cấp các thông tin, cách thức, đối
tượng chứng khoán, thời hạn, khu vực... và các vấn đề có tính quy luật về
hoạt động đầu tư chứng khoán. Nghiệp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ
năng chuyên môn mà không yêu cầu nhiều vốn. Tính trung thực của cá nhân
hay công ty tư vấn có tầm quan trọng lớn.
Ngoài dịch vụ tư vấn đầu tư, các công ty chứng khoán có thể sử dụng
kỹ năng để tư vấn cho các công ty về việc sáp nhập, thâu tóm, tái cơ cấu vốn
của công ty để đạt hiệu quả hoạt động tối ưu.
19
* Nghiệp vụ quản lý cổ tức
Nghiệp vụ này của công ty chứng khoán xuất phát từ nghiệp vụ quản
lý hộ chứng khoán cho khách hàng. Khi thực hiện quản lý hộ, công ty phải
tổ chức theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi gửi
báo cáo cho khách hàng. Tuy nhiên, trên thực tế các công ty thường không
trực tiếp quản lý mà sẽ lưu ký tại trung tâm lưu giữ chứng khoán.
* Nghiệp vụ quản lý quỹ:
Ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật về chứng khoán cho phép
công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư. Theo đó,
công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và
tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán được
thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
• Các công ty phụ thuộc tương đối nhiều vào các khoản vay ngắn
hạn.
• Các chứng khoán có thể đem ra mua bán trao đổi trên thị trường
thường chiếm phần lớn.
• Ở những nước công nghiệp mới hay các nước đang phát triển,
thông thường công ty chứng khoán không được vay vốn nước
ngoài, trái với đa số các nước phát triển.
21
• Tỷ lệ nợ là tuỳ theo từng công ty chứng khoán, nhưng phải tuân
theo các quy định của các cấp quản lý.
c) Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh
Trong quản lý vốn của công ty chứng khoán, ngoài việc xác định tỷ lệ
nợ còn phải duy trì một mức khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán cho
nhà đầu tư. Vốn thanh khoản được định nghĩa là phần vượt trội của tài sản
khả dụng so với các nghĩa vụ nợ cùng cấp độ - bao gồm cả các điều chỉnh về
tài chính.
Các công ty tự doanh thường phải để một tỷ lệ dự trữ trên mức lợi tức
giao dịch ròng, còn các công ty môi giới duy trì tỷ lệ dự trữ tính trên tổng
doanh thu, với mục đích bù đắp các khoản lỗ trong kinh doanh chứng khoán.
Ngoài ra, các công ty còn phải trích phần trăm lãi ròng hàng năm lập
quỹ bổ sung vốn điều lệ cho đến khi bằng một mức phần trăm nào đó của
vốn điều lệ. Quỹ này được dùng để bù đắp các thâm hụt trong tương lai.
Về hạn mức kinh doanh, mỗi nước có một quy định khác nhau cho
các công ty chứng khoán.
d) Kế toán công ty
Kế toán là một hệ thống chức năng cung cấp các thông tin tài chính
hữu dụng cho việc ra các quyết định kinh doanh và kinh tế, thông qua việc
ghi chép, sắp xếp có hệ thống, chuyển giao các hoạt động tài chính của một
công ty.
Công việc của một hệ thống kế toán bao gồm ghi chép thông tin tài
không chỉ đơn thuần là khâu đưa sản phẩm, dịch vụ từ người bán đến người
mua; những đặc trưng của thị trường cao cấp đòi hỏi ở nghề môi giới chứng
khoán những đặc điểm đặc thù riêng.
Trước hết, sản phẩm tài chính là những sản phẩm đặc biệt. Đầu tư vào
chứng khoán có nghĩa là đầu tư vào những giấy tờ có giá mà thu nhập do
chúng mang lại được quyết định trước hết bởi khả năng thu lợi nhuận của
công ty. Khả năng này lại bị quy định bởi vô số yếu tố, từ những xu hướng
của nền kinh tế thế giới và trong nước, đến những đặc điểm riêng của ngành
và những điều kiện cụ thể của công ty.
Thứ hai, do tính phức tạp của thị trường và của cộng đồng các nhà đầu
tư, nguyên tắc trung gian cho phép bảo vệ nhà đầu tư, giúp họ lựa chọn các
sản phẩm và dịch vụ đáp ứng được những thông số cá nhân đa dạng. Do đó,
nhà đầu tư cần một nguồn tư vấn chuyên nghiệp, đáng tin cậy từ các nhà môi
giới.
Như vậy, nghề môi giới chứng khoán được coi là sản phẩm của thị
trường cao cấp xuất phát từ chỗ thị trường chứng khoán là sân chơi của tất
cả các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế. Từ đó yêu cầu thị trường phải
được tổ chức một cách khoa học, trật tự. Một trong những biện pháp để duy
trì tính trật tự, khoa học đó là việc tập trung các lệnh giao dịch vào các đầu
mối lớn là những công ty môi giới, từ đó các cơ quan quản lý sẽ thuận lợi
hơn trong việc kiểm soát. Nguyên tắc trung gian nhằm nâng cao năng lực
quản lý để duy trì sự hoạt động lành m ạnh của một thị trường tự do.
Với tư cách là hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty
môi giới và nhân viên môi giới, nghề môi giới chứng khoán có hai chức
năng chính là cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng; và cung cấp các
24
sản phẩm và dịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu
cầu và vì lợi ích của họ.
a) Chức năng cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng
Trên thị trường chứng khoán, hàng ngày các tin tức tài chính liên tục