phát triển bền vững các làng nghề truyền thống ở hà tĩnh - Pdf 25


1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN TRUNG HIẾU
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở HÀ TĨNH
NGUYỄN TRUNG HIẾU

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở HÀ TĨNH

Ngành đào tạo : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGUYỄN VĂN NGỌC


Nguyễn Trung Hiếu
iiLỜI CẢM ƠN
o0o
Để hoàn thành được Luận văn trong thời gian qua ngoài sự nổ lực của bản thân
trong khóa học và trong quá trình nghiên cứu thu thập thông tin, số liệu bên cạnh còn
có rất nhiều người đã hổ trợ giúp em trong quá trình hoàn thành.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình làm Luận văn
của Giáo Viên hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Ngọc trong Khoa Kinh Tế – Trường Đại
Học Nha Trang đã tận tâm truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quan trọng trong khóa
học góp phần vận dụng vào để hoàn thành Luận văn. Qua thời gian học tâp và hoàn
thành Luận văn tôi đã tiếp thu được những kiến thức rất bổ ích về ngành học của mình.
Tôi xin cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của các Ban Nghành Sở gồm. Sở NN &
PTNT, Sở công nghiệp, Cục thống kê, Sở TN&MT, Sở lao động TB&XH từ lãnh
đạo cho tới nhân viên tất cả đã tạo điều kiện giúp đỡ cho cho tôi trong cập nhật thông
tin số liệu hổ trợ góp ý để có thể hoàn thành Luận văn này. Tuy nhiên, với kiến thức

1.1. Làng nghề và đặc trưng của làng nghề truyền thống 4
1.1.1. Khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống 4
1.1.2. Đặc trưng của làng nghề 6
1.2. Quan niệm về phát triển bền vững làng nghề 8
1.2.1. Khái niệm 8
1.2.2. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững của làng nghề 9
1.2.2.1. Tiêu chí đánh giá bền vững về kinh tế 9
1.2.2.2. Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội 12
1.2.2.3. Tiêu chí đánh giá bền vững về môi trường. 14
1.2.3. Ý nghĩa của việc phát triển bền vững làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương 15
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề 18
1.3.1. Các nhân tố thuộc cấp độ quản lý nhà nước 18
1.3.1.1. Khuôn khổ pháp luật, chính sách quản lý, hỗ trợ của nhà nước, địa phương 18
1.3.1.2. Quy hoạch phát triển làng nghề 18
1.3.1.3. Quá trình đô thị hóa, sự phát triển kết cấu hạ tầng 19
1.3.2. Năng lực của mỗi làng nghề 20
1.3.2.1. Trình độ công nghệ - kỹ thuật sản xuất 20
1.3.2.2. Nguyên liệu đầu vào 21
1.3.2.3. Đội ngũ lao động và trình độ của đội ngũ lao động 22
1.3.2.4. Nguồn vốn cho phát triển sản xuất 22
1.4. Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở các địa phương và bài học rút ra cho các làng
nghề ở Hà Tĩnh 23

iv

1.4.1. Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở các địa phương 23
1.4.1.1. Kinh nghiệm phát triển bền vững làng nghề ở tỉnh Hải Dương 23
1.4.1.2. Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở Bắc Ninh 24
1.4.1.3. Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ) 25

v

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ Ở HÀ
TĨNH ĐẾN NĂM 2020 60
3.1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Tĩnh đến năm 2020 60
3.2. Quan điểm và phương hướng phát triển các làng nghề trong thời gian tới ở Hà
Tĩnh 61
3.2.1. Quan điểm về phát triển làng nghề 61
3.2.2. Phương hướng phát triến làng nghề ở Hà Tĩnh trong thời gian tới 62
3.3. Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề ở Hà Tĩnh 63
3.3.1. Giải pháp về phía nhà nước, chính quyền địa phương 63
3.3.1.1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn 63
3.3.1.2. Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước 64
3.3.2. Giải pháp từ các làng nghề 69
3.3.2.1. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề 69
3.3.2.2. Các làng nghề tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường đầu ra cho sản phẩm 72
3.3.2.3. Tích cực huy động vốn; đầu tư, trang bị máy móc kỹ thuật, công nghệ hiện đại 73
3.3.2.4. Đa dạng hóa loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh và lựa chọn loại hình tổ
chức sản xuất kinh doanh phù hợp 74
3.3.2.5. Tích cực phối hợp với nhà nước, địa phương trong công tác giảm thiểu ô
nhiễm môi trường lao động và môi trường làng nghề 75
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

viiDANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Các làng nghề ở Hà Tĩnh 28

Bảng 2.2. Số lượng sản phẩm của các làng nghề ở Hà Tĩnh 33

Bảng 2.3: Thị trường tiêu thụ sản phẩm các làng nghề ở Hà Tĩnh năm 2011 35

Bảng 2.4: Đóng góp của làng nghề vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Tĩnh
từ 2009 – 2012 37

Bảng 2.5: Số hộ và lao động tham gia vào các làng nghề ở Hà Tĩnh năm 2012 38
Bảng 2.6: Nộp ngân sách của các làng nghề ở Hà Tĩnh năm 2012 41

Bảng 2.7: Quy mô vốn đầu tư tại một số làng nghề ở Hà Tĩnh năm 2012 52

Bảng 2.8: Lao động ở các làng nghề ở Hà Tĩnh từ 2008 – 2012 54

Bảng 3.1: Dự báo dân số và nguồn lao động đến 2020 61
phát triển nông thôn phối hợp với các Sở, ban ngành và các huyện, thị xã xây dựng
“Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Hà Tĩnh đến năm 2020”, trong đó có tập
trung phát triển các làng nghề ở Hà Tĩnh, ưu tiên phát triển các làng nghề như mây tre
đan, song mây; nghề chế biến gỗ; nghề đúc rèn; nghề chế biến hải sản; nghề làm chăn
nệm, thêu ren; nghề dệt chiếu cói. Còn các làng nghề thuộc các lĩnh vực còn lại vẫn
đang để cho nó phát triển một cách tự phát. Vấn đề đặt ra ở đây là một số làng nghề
được ưu tiên phát triển nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng, bên cạnh đó, hầu hết các
làng nghề vẫn chưa xây dựng được hệ thống xử lý rác thải cũng như giảm thiểu ô
nhiễm môi trường, mà điều này lại ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân
địa phương. Chính vì vậy, mặc dù đã có quy hoạch phát triển các làng nghề, phát triển
11 cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề trên địa bàn Hà Tĩnh nhưng nhìn chung vẫn
chưa có nhiều biện pháp hữu hiệu cũng như là các giải pháp mang tính đột phá để có

2

thể giúp cho các làng nghề có điều kiện phát triển một cách bền vững. Đó chính là lý
do tôi chọn đề tài: “Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống ở Hà Tĩnh” làm
Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Mục tiêu chung của đề tài là nhằm đánh giá thực trạng phát triển bền vững của
các làng nghề truyền thống ở Hà Tĩnh, giai đoạn 2008-2012 và đề xuất các giải pháp
nhằm phát triển các làng nghề theo hướng bền vững trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến phát triển và phát triển làng nghề
theo hướng bền vững;
- Đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề ở Hà Tĩnh trong giai đoạn 2008-2012;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững các làng nghề ở Hà Tĩnh
trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Hội khoa học lịch sử Bình Dương “Nghiên cứu ngành gốm sứ tỉnh Bình
Dương quá trình phát triển và bảo tồn”.
6. Đóng góp của luận văn
a. Về mặt lý luận:
- Luận văn đi vào nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ sở lý luận của làng
nghề, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững làng nghề và các tiêu chí đánh
giá sự phát triển bền vững làng nghề.
- Luận văn thể hiện được thực trạng phát triển bền vững các làng nghề ở Hà
Tĩnh hiện nay; thấy được rằng để có thể phát triển bền vững các làng nghề cần phải nỗ
lực vươn lên, đồng thời cần có sự phối hợp hỗ trợ của các cơ quan quản lý, chính
quyền địa phương đối với sự phát triển của hệ thống làng nghề.
b. Về mặt thực tiễn:
- Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
hoạch định chính sách, quản lý các làng nghề trên địa bàn Hà Tĩnh.
- Giải pháp phát triển bền vững làng nghề có ý nghĩa trong quá trình thực hiện
quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn ở Hà Tĩnh đến 2020.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần như mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục,… nội dung của
luận văn bao gồm 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ Ở HÀ TĨNH
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ Ở
HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2020

4

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG


5

- “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), cùng làm một
nghề tiểu thủ công nghiệp mà các hộ đó có thể sinh sống bằng nghề đó, thu nhập từ
nghề đó chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ. Ngoài ra giá trị sản lượng của nghề
chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương”. (Viện khoa học Thống kê).
- “Làng nghề là nơi hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động nghề cho nghề
đó và lấy đó làm nguồn sống chủ yếu”. Với quan niệm như thế thì hiện nay ở Việt
Nam tồn tại rất ít (như làng gốm Bát Tràng,…).
- “Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều
hộ gia đình chuyên làm nghề, giữa các hộ sản xuất có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất,
bán sản phẩm theo kiểu phường hội”. Quan niệm này chưa phản ánh được đầy đủ tính
chất, đặc điểm của làng nghề, nó vẫn chưa thể hiện được sự khác biệt giữa làng nghề ở
nông thôn với những trung tâm sản xuất thủ công nghiệp ở thành thị, trị trấn.
- “Làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên cùng một địa bàn
nông thôn. Trong làng đó, có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinh sống bằng
việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ; trong đó có ít nhất một loại hàng
hóa, dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc hộ gia đình trong làng tham gia,
đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỉ trọng lớn so với thu nhập dân cư tạo ra trên
địa bàn làng hoặc cộng đồng dân cư đó”.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra khái niệm làng nghề như sau:
“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc
hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành
nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Như vậy, ta có
thể hiểu làng nghề thông qua khái niệm này.
Ở đây có sự phân biệt làng nghề và làng nghề truyền thống. Làng nghề truyền
thống là làng nghề có truyền thống được hình thành từ lâu đời. Đó là những thôn làng
làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là nhiều thế hệ, ít nhất cũng là
hàng chục năm. Nhiều làng nghề thậm chí đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước, tạo ra

thường được các làng nghề ghi nhận dưới hình thức văn tự hay truyền miệng.
- Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân, gia đình có những kỹ năng và sự
sáng tạo nhất định. Từ sự sáng tạo của họ, quy trình sản xuất và sản phẩm không ngừng
được hoàn thiện, bổ sung. Qua quá trình phát triển cũng hình thành nên làng nghề;
- Một số làng nghề hình thành do có những người đi nơi khác học nghề rồi về
dạy lại cho gia đình, dòng họ rồi mở dần ra phạm vi rộng hơn;
- Một số làng nghề mới hình thành gần đây một cách có chủ ý, do các địa
phương “phát triển nghề phụ” nên cho thợ đi học nghề tại các trường dạy nghề hoặc
tới các làng nghề khác học nghề rồi về dạy cho người khác;
- Hay gần đây, một số làng nghề được hình thành trên cơ sở sự lan tỏa dần từ một
số làng nghề truyền thống, tạo thành một số làng nghề trên một vùng lãnh thổ thân cận.

7

Sức ép về mặt kinh tế nhiều khi cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành và
phát triển làng nghề. Biểu hiện rõ nhất thường là sự hình thành và phát triển của các
làng nghề nơi ít ruộng đất, nghề nông khó có điều kiện đảm bảo thu nhập và đời sống
cho dân cư.
Ngoài ra, một số làng nghề mới được hình thành gần đây cũng là do nhu cầu
phát triển trong tình hình mới, sự xuất hiện những nhu cầu mới ở địa phương thúc đẩy
hình thành nên các làng sản xuất sản phẩm để đáp ứng thị trường.
Nhìn chung, các làng nghề có những đặc trưng như sau:
a. Làng nghề gắn liền với các làng quê sản xuất nông nghiệp
Có cầu là có cung, từ nhu cầu xã hội mà các nghề thủ công xuất hiện đóng vai
trò là nghề phụ, việc phụ trong mỗi gia đình nông dân và dần nhanh chóng phát triển ở
nhiều làng quê. Do đặc trưng của sản xuất là mang tính thời vụ, lại thêm năng suất lao
động thấp nên vẫn chưa đảm bảo được nguồn thu nhập cho cuộc sống của người nông
dân. Chính vì thế, ngoài làm nông, bà con nông dân đã phải tìm kiếm thêm nghề phụ
để tăng thêm nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Ví dụ như ngoài làm ruộng, bà con
nông dân còn làm thêm nghề phụ như làm bún, bánh mướt, nấu rượu để kiếm thêm

thừa nhận để tồn tại và ngày càng phát triển, cộng với sự sáng tạo của mỗi nghệ nhân
mà sản phẩm ngày càng hoàn thiện, tạo nên sự riêng biệt độc đáo, và ngày càng thể
hiện được bản sắc dân tộc Việt Nam.
c. Làng nghề chủ yếu sản xuất thủ công
Từ xa xưa, khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hết các công đoạn
trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công thực hiện. Mỗi người thợ thủ công
sẽ được định đoạt lấy toàn bộ công việc kể cả việc cung ứng nguồn nguyên vật liệu và
tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Công việc có thể tiến hành độc lập hay cùng với các thành
viên trong hộ gia đình, dòng họ hoặc cùng với những đối tượng học việc. Công việc
này đã thể hiện một tay nghề nhất định, tài khéo léo riêng biệt, độc đáo, kết hợp với
đầu óc sáng tạo và nghệ thuật thông qua lao động bằng tay hoặc bằng máy móc công
cụ cơ khí, nửa cơ khí.
Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển, việc ứng dụng khoa học vào sản xuất
sản phẩm cũng đã được một số làng nghề thực hiện kết hợp, tuy nhiên công việc chính
của làng nghề chủ yếu vẫn còn là thủ công, vì sản phẩm từ làng nghề hầu hết là phải
có dấu ấn của bàn tay lao động của người nghệ nhân.
1.2. Quan niệm về phát triển bền vững làng nghề
1.2.1. Khái niệm
Phát triển bền vững được hiểu là một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của
thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ
tương lai. Phát triển bền vững được cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về kinh tế, bền
vững về xã hội và bền vững về môi trường (Viện Kinh tế Việt Nam ,2011 ).

9

Xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững như thế mà có thể đưa ra khái niệm
phát triển bền vững làng nghề. Khái niệm này được đặt ra trong khuôn khổ quan niệm
về phát triển bền vững của đất nước và mang yếu tố đặc thù của các làng nghề. Theo
đó “Phát triển bền vững làng nghề là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có
hiệu quả cao trong các làng nghề, gắn liền với việc khai thác hợp lý, bảo vệ và nâng


cao hay thấp, có đạt được chỉ tiêu đề ra hay không hay trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình đạt được mức lợi nhuận là bao nhiêu. Đó chính là sự tăng lên không
ngừng qua các năm về số lượng sản phẩm của mỗi làng nghề. Có như vậy mới thể hiện
được rằng số lượng sản phẩm từ làng nghề vẫn đang được duy trì và phát triển.
b. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển
bền vững của làng nghề nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng, suy thoái trên
thế giới như hiện nay. Sản phẩm từ làng nghề hầu hết đều là những sản phẩm thủ công,
tiểu thủ công nghiệp, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ…đều cần phải đảm bảo chất
lượng cao nếu không sẽ khó thu hút được khách hàng. Nhất là các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ thì vấn đề chất lượng sản phẩm cũng cần phải ngày càng được nâng cao, có
như vậy mới đảm bảo được sự phát triển bền vững cho làng nghề.
Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng để có thể tạo điều kiện cho sản phẩm
làng nghề có thể đứng vững trên thị trường và có khả năng cạnh tranh cao ngay ở
những thị trường khó tính nhất, nhất là đối với các sản phẩm sản xuất phục vụ xuất
khẩu, vì khách hàng nước ngoài luôn là những đối tượng kỹ tính, đòi hỏi phải đảm bảo
chất lượng. Nếu các làng nghề cứ sản xuất ồ ạt, chỉ chú trọng đến quy mô mà không
quan tâm đầu tư cho chất lượng sản phẩm thì sớm hay muộn cũng sẽ bị loại dần ra
khỏi thị trường. Vì vậy không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm cũng chính là một
nhân tố đảm bảo cho các làng nghề phát triển một cách bền vững.
c. Thị trường đầu ra của sản phẩm
Thị trường đầu ra của sản phẩm phản ánh sản phẩm có giá trị sử dụng và có
chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường. Mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh khi tham gia
vào thị trường thì đều mong muốn có một chỗ đứng nhất định, đóng góp một thị phần
nhất định trên thị trường cho dù quy mô của nó nhỏ hay lớn. Nếu nhanh chóng theo
kịp với những sự thay đổi nhu cầu của thị trường thì mỗi làng nghề sẽ có sự phát triển
mạnh mẽ hơn. Điển hình như các làng nghề sản xuất đồ gỗ gia đình, vật liệu xây dựng,
gốm sứ, đá mỹ nghệ… thì sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tốt này. Ngược lại, nếu các
làng nghề không thích ứng được với sự thay đổi về nhu cầu thị trường mà vẫn cứ cố

Ngoài ra, thông qua đó chúng ta cũng có thể so sánh giá trị gia tăng được tạo ra từ làng
nghề so với tổng giá trị gia tăng được tạo ra trong ngành nông nghiệp.
- Thu nhập của lao động làng nghề
Thu nhập của lao động làm việc trong làng nghề cũng là một chỉ tiêu quan trọng
để người lao động xác định lựa chọn nghề và sống nhờ vào nghề đó. Nếu mức thu
nhập bình quân của người lao động đủ đảm bảo trang trải cho những nhu cầu cơ bản
trong cuộc sống của người lao động cũng như gia đình họ, đồng thời mức thu nhập đó
nếu cao hơn mức thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì người lao động sẽ chọn làm
việc ở làng nghề và gắn bó hơn với nghề đó. Mặt khác, ngoài làm công việc ở làng

12

nghề, người lao động cũng có thể thực hiện đan xen với làm nông nghiệp, bởi vì làm
nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hết mùa vụ thì sẽ là thời kỳ nông nhàn nên có thể
trong thời kỳ mùa vụ, người lao động có thể tạm gác việc làm ở làng nghề để có thể
thực hiện thu hoạch hay cấy hái. Như vậy, qua đó cũng sẽ có được mức thu nhập cao
hơn và cuộc sống của họ sẽ được đảm bảo, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn trước.
1.2.2.2. Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội
Để đánh giá tính bền vững về xã hội thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: giải
quyết việc làm, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn; tăng thu nhập cho người dân,
giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, xóa đói giảm nghèo.
a. Giải quyết việc làm và giảm tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn
Tiêu chí quan trọng đầu tiên biểu hiện sự phát triển của làng nghề có đảm bảo
được tính bền vững hay không chính là khả năng giải quyết việc làm của làng nghề,
trước hết là giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trong làng. Chúng ta thấy được
rằng làm nông nghiệp luôn là một nghề vất vả, nhiều khó khăn gian khổ trong khi
nguồn thu nhập lại thấp và bấp bênh do đặc trưng của nghề làm nông nghiệp là phụ
thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, khí hậu. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp còn có
đặc trưng là mang tính thời vụ cao, vì thế có những khi người nông dân làm việc mệt
nhọc từ sáng đến tối quần quật cho kịp mùa vụ, nhất là vào mùa hè thu, ngoài thu

gánh trách nhiệm duy trì, phát triển những bí quyết riêng của làng nghề, và cứ thế, các
bí quyết riêng đó sẽ được truyền từ đời này qua đời khác, qua các thế hệ. Họ chính là
cơ sở cho sự tồn tại, phát triển bền vững làng nghề trước mọi biến cố và duy trì những
nét độc đáo truyền thống của làng nghề.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì ngoài việc truyền kinh nghiệm từ thế
hệ này qua thế hệ khác cũng cần phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đó
là những công nghệ hiện đại. Khi đó lại cần phải có đội ngũ những người năng động,
sáng tạo để có thể đưa hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ được. Trong
điều kiện đó, một số yếu tố truyền thống, phong tục tập quán lại cản trở sự phát triển
của làng nghề theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, còn có những quy định, quy tắc khắt
khe, hạn chế trong nghề, tục lệ làng quê đã trở thành rào cản đến việc mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh của các làng nghề.
Chính vì vậy, sự phát triển bền vững của làng nghề ngoài việc tạo điều kiện để
giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phương, tôn vinh giá trị truyền thống trong phong tục
tập quán thì nó cũng cần phải được chú ý thay đổi linh hoạt đối với sự phát triển làng
nghề nếu điều đó là cần thiết. Ví dụ như nếu những hoạt động có thể dùng máy móc
thay thế thì không cần thiết phải hoạt động thủ công nữa. Điều đó sẽ làm tăng năng
suất lao động, giảm chi phí và làng nghề vẫn có thể phát triển bền vững đi lên. 14

1.2.2.3. Tiêu chí đánh giá bền vững về môi trường.
a. Ô nhiễm môi trường lao động ở làng nghề
- Ô nhiễm môi trường không khí
Môi trường lao động ảnh hưởng đến hoạt động sinh lí, sức khỏe bệnh tật của người
lao động. Với điều kiện thời tiết khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta, lại cộng thêm tác
động của các yếu tố độc hại phát sinh trong quá trình sản xuất như hơi khí độc, cường độ
ồn, cường độ rừng, bụi sẽ có ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe của người lao động.
Trong những điều kiện như thế, người lao động sẽ bị ảnh hưởng về thần kinh, tâm lí và

lượng oxigen cần thiết để vi khuẩn có trong nước phân hủy các chất hữu cơ. Tương tự
như COD, BOD cũng là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước
(đơn vị tính cũng là mgO2/L). Trong môi trường nước, khi quá trình oxid hóa sinh học
xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxigen hòa tan để oxid hóa các chất hữu cơ và chuyển
hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ bền như CO2, CO32-, SO42-, PO43- và cả
NO3). Các chỉ tiêu vật lý như: độ pH, độ đục, tổng hàm lượng chất rắn (TS); Tổng
hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS)…Ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng thể hiện ở
chỗ nó làm giảm chất lượng đất, suy giảm các nguồn lợi thủy sinh và đồng thời làm
giảm chất lượng nguồn nước kể cả nguồn nước mặt lẫn nước ngầm. Ô nhiễm môi
trường nước sẽ gây ra những bệnh ngoài da, bệnh đường ruột, đau mắt hột…, ảnh
hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động.
Ngoài việc ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người lao động mà nó còn gây ô
nhiễm nghiêm trọng tới nguồn nước sinh hoạt của cộng đồng dân cư, vì ở nhiều nơi,
nhiều vùng hiện nay, nguồn nước sinh hoạt của người dân vẫn chưa được dùng nước
máy. Ngoài ra nó còn làm giảm tài nguyên đất trồng trọt, giảm sút các nguồn thủy sản
trên các con sông và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống con người.
Làng nghề càng phát triển thì nguy cơ ô nhiễm làng nghề đang càng gia tăng,
người lao động trong các làng nghề chịu ít nhất là 3 tác động tiêu cực trong môi trường
lao động. Đó là nhiệt độ cao, bụi và tiếng ồn hoặc mặt bằng nhà xưởng. Nếu làm việc
trong môi trường độc hại, nhiều nguy hiểm, người lao động sẽ chịu hậu quả là làm
giảm năng suất lao động, suy giảm về sức khỏe, tăng nguy cơ mắc bệnh tật, điều này
sẽ làm tăng chi phí khám chữa bệnh, giảm thu nhập của người lao động, càng gây khó
khăn hơn cho cuộc sống sinh hoạt của mỗi gia đình, đồng thời lan tỏa ảnh hưởng đến
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đó chính là những biểu hiện gây nên sự
thiếu bền vững trong sự phát triển của làng nghề (Sở tài nguyên và môi trường,2012)
1.2.3. Ý nghĩa của việc phát triển bền vững làng nghề đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội tại địa phương
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làng nghề cũng đóng
vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ở các nước phát
triển cũng có những mô hình như “mỗi làng một sản phẩm” ở Nhật Bản, Thái Lan, “mỗi

nghèo ở nông thôn.
Sự phát triển của làng nghề cũng sẽ lan tỏa tác động sang các vùng khác, thu hút
lao động từ các vùng khác khi hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng, từ đó sẽ góp
phần tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.
Ngoài ra ta cũng thấy được rằng, hoạt động làng nghề chủ yếu là quy mô nhỏ,
cơ cấu vốn và lao động cũng không lớn, trong khi đó, một khi hoạt động sản xuất kinh
doanh được phát triển mở rộng thì nhu cầu vốn cũng như lao động cần được huy động
ngày càng lớn, mà nguồn vốn như thế này lại có thể huy động trực tiếp từ dân cư. Do

Trích đoạn Khái quát chung về các làng nghề ở Hà Tĩnh Số lượng sản phẩm của các làng nghề Nguồn thu nhập từ làng nghề Giải quyết việc làm cho người lao động Đóng góp cho sự phát triển chung của địa phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status