TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
o0o TRẦN THỊ KHÁNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ
Ở HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
tác động đến sự phát triển của làng nghề và giảm sức cạnh tranh trên thị
trường của các sản phẩm từ làng nghề.
Trong những bối cảnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao cho Sở Nông
nghiệp – phát triển nông thôn phối hợp với các Sở, ban ngành và các huyện,
thị xã xây dựng “Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Hà Tĩnh đến
năm 2010”, trong đó có tập trung phát triển các làng nghề ở Hà Tĩnh, ưu tiên
2
phát triển các làng nghề như mây tre đan, song mây; nghề chế biến gỗ; nghề
đúc rèn; nghề chế biến hải sản; nghề làm chăn nệm, thêu ren; nghề dệt chiếu
cói. Còn các làng nghề thuộc các lĩnh vực còn lại vẫn đang để cho nó phát
triển một cách tự phát. Vấn đề đặt ra ở đây là một số làng nghề được ưu tiên
phát triển nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng, bên cạnh đó, hầu hết các làng
nghề vẫn chưa xây dựng được hệ thống xử lý rác thải cũng như giảm thiểu ô
nhiễm môi trường, mà điều này lại ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của
người dân địa phương. Chính vì vậy, mặc dù đã có quy hoạch phát triển các
làng nghề, phát triển 11 cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề trên địa bàn Hà
Tĩnh nhưng nhìn chung vẫn chưa có nhiều biện pháp hữu hiệu cũng như là
các giải pháp mang tính đột phá để có thể giúp cho các làng nghề có điều kiện
phát triển một cách bền vững. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Phát triển
bền vững các làng nghề ở Hà Tĩnh”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Đánh giá sự PTBV của các làng nghề ở
Hà Tĩnh và đề ra giải pháp phát triển cho các làng nghề
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu một cách khái quát nhất về sự phát triển của các làng
nghề ở Hà Tĩnh, đồng thời chú trọng các làng nghề được ưu tiên phát triển, đó
là các làng nghề đồ gỗ; làng nghề chế biến thủy, hải sản; làng nghề mây tre
đan; làng nghề đúc rèn; làng nghề chiếu cói…
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu phân tích
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ
Ở HÀ TĨNH THỜI GIAN QUA
Chương 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LÀNG NGHỀ Ở
HÀ TĨNH THỜI GIAN TỚI
4
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LÀNG NGHỀ
1.1. Làng nghề và đặc trưng của làng nghề
1.1.1. Khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống
Làng nghề được cấu tạo bởi hai yếu tố là “làng” và “nghề”. Vì thế khái
niệm về làng nghề cũng được hiểu thông qua phân tích khái niệm “làng” và
“nghề”
Làng – theo Từ điển tiếng Việt, là một khối người quần tụ ở một nơi
nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là một
tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh
thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và
sản xuất.
Hiện nay, do tác động của quá trình đô thị hóa, khái niệm làng có thể
được hiểu một cách tương đối. Có một số cách gọi khác với làng đó là phố,
khối phố, khóm Tuy là cách gọi có thể khác đi nhưng về bản chất của cộng
đồng dân cư đó nếu gắn với nông thôn thì vẫn được xem như là làng.
Như vậy, làng nghề là một làng ở nông thôn nhưng ngoài việc làm
nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) còn có hoạt động sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, sản phẩm làm ra của họ ngoài việc đáp ứng nhu cầu bản thân, gia đình
còn dùng để trao đổi, buôn bán, sản phẩm từ làng nghề phải là hàng hóa
Còn “nghề” có thể được hiểu là công việc mà người dân làm để kiếm
sống hàng ngày. Các nghề trong hoạt động của làng nghề thường là thủ công,
tiểu thủ công nghiệp, vì thế những sản phẩm làm ra luôn mang đậm dấu ấn
của chủ nhân làm ra nó.
ít nhất một loại hàng hóa, dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc
hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỉ
6
trọng lớn so với thu nhập dân cư tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân
cư đó”.
- Bộ đưa ra khái niệm làng nghề như sau: “Làng nghề là một hoặc
nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm
dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề
nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Như vậy, ta
có thể hiểu làng nghề thông qua khái niệm này.
Ở đây có sự phân biệt làng nghề và làng nghề truyền thống. Làng nghề
truyền thống là làng nghề có truyền thống được hình thành từ lâu đời. Đó là
những thôn làng làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là nhiều
thế hệ, ít nhất cũng là hàng chục năm. Nhiều làng nghề thậm chí đã nổi tiếng
từ nhiều thế kỷ trước, tạo ra được những sản phẩm có tính độc đáo, có độ
tinh xảo cao, đã được tiêu thụ tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Dù nghề
thủ công được du nhập vào làng bằng con đường nào thì sự phát triển cũng
diễn ra dưới hình thức có tồn tại một số hạt nhân (nghệ nhân, gia đình, dòng
ho…) làm nòng cốt, từ đó mở rộng ra phạm vi cả làng. Làng nghề truyền
thống được công nhận khi đạt được các tiêu chí như: Nghề đã xuất hiện tại địa
phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Nghề tạo ra
những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của
một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia thì các ngành nghề thủ công ở
Việt Nam có thể được chia thành 5 nhóm, đó là:
- Nhóm thứ nhất: bao gồm các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ
công mỹ nghệ như gốm, sứ, sơn mài, thêu ren, khảm, chạm khắc gỗ,
đá…
- Nhóm thứ hai : Là các ngành nghề sản xuất công cụ như rèn đúc, làm
8
Sức ép về mặt kinh tế nhiều khi cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình
thành và phát triển làng nghề. Biểu hiện rõ nhất thường là sự hình thành và
phát triển của các làng nghề nơi ít ruộng đất, nghề nông khó có điều kiện đảm
bảo thu nhập và đời sống cho dân cư…
Ngoài ra, một số làng nghề mới được hình thành gần đây cũng là do
nhu cầu phát triển trong tình hình mới, sự xuất hiện những nhu cầu mới ở địa
phương thúc đẩy hình thành nên các làng sản xuất sản phẩm…để đáp ứng thị
trường…
Nhìn chung, các làng nghề có những đặc trưng như sau:
Làng nghề gắn liền với các làng quê sản xuất nông nghiệp
Có cầu là có cung, từ nhu cầu xã hội mà các nghề thủ công xuất hiện
đóng vai trò là nghề phụ, việc phụ trong mỗi gia đình nông dân và dần nhanh
chóng phát triển ở nhiều làng quê. Do đặc trưng của sản xuất là mang tính
thời vụ, lại thêm năng suất lao động thấp nên vẫn chưa đảm bảo được nguồn
thu nhập cho cuộc sống của người nông dân. Chính vì thế, ngoài làm nông,
bà con nông dân đã phải tìm kiếm thêm nghề phụ để tăng thêm nguồn thu
nhập, đảm bảo cuộc sống. Ví dụ như ngoài làm ruộng, bà con nông dân còn
làm thêm nghề phụ như làm bún, bánh mướt, nấu rượu để kiếm thêm nguồn
thu nhập. Ngoài ngày mùa là bận rộn ra thì đến thời nông nhàn, người nông
dân thiếu việc làm nên tạo nên sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất
định. Hơn nữa do nhu cầu về các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp nhằm phục
vụ sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống ngày càng tăng, cùng với nguồn
nguyên liệu đầu vào hầu hết là sẵn có và dồi dào… nên đã tạo điều kiện thúc
đẩy việc hình thành và phát triển.
Phần lớn là có truyền thống lâu đời, tồn tại lâu dài và có bản sắc văn
hóa riêng.
9
người thợ thủ công sẽ được định đoạt lấy toàn bộ công việc kể cả việc cung
ứng nguồn nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Công việc có thể tiến
hành độc lập hay cùng với các thành viên trong hộ gia đình, dòng họ hoặc
cùng với những đối tượng học việc. Công việc này đã thể hiện một tay nghề
nhất định, tài khéo léo riêng biệt, độc đáo, kết hợp với đầu óc sáng tạo và
nghệ thuật thông qua lao động bằng tay hoặc bằng máy móc công cụ cơ khí,
nửa cơ khí.
Ngày nay, KHCN phát triển, việc ứng dụng khoa học vào sản xuất sản
phẩm cũng đã được một số làng nghề thực hiện kết hợp, tuy nhiên công việc
chính của làng nghề chủ yếu vẫn còn là thủ công, vì sản phẩm từ làng nghề
hầu hết là phải có dấu ấn của bàn tay lao động của người nghệ nhân…
1.2. Quan niệm về phát triển bền vững làng nghề
1.2.1. Khái niệm
Phát triển bền vững được hiểu là một sự phát triển thỏa mãn những nhu
cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những nhu
cầu của thế hệ tương lai. PTBV được cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về
kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.
Xuất phát từ khái niệm PTBV như thế mà có thể đưa ra khái niệm
PTBV làng nghề. Khái niệm này được đặt ra trong khuôn khổ quan niệm về
PTBV của đất nước và mang yếu tố đặc thù của các làng nghề. Theo đó “Phát
triển bền vững làng nghề là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có
hiệu quả cao trong các làng nghề, gắn liền với việc khai thác hợp lý, bảo vệ
và nâng cao chất lượng môi trường sống cũng như là đảm bảo những đòi hỏi
về ổn định, nâng cao đời sống, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn có làng nghề”
11
Để đảm bảo việc PTBV làng nghề phải đảm bảo việc duy trì tính chất
bền vững và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong
bản thân các làng nghề, đó là:
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động của làng nghề để đảm
bảo tái sản xuất: quy mô, tốc độ gia tăng giá trị sản lượng, trình độ công nghệ,
Chất lượng sản phẩm là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
PTBV của làng nghề nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng, suy
thoái trên thế giới như hiện nay. Sản phẩm từ làng nghề hầu hết đều là những
sản phẩm thủ công, tiểu thủ công nghiệp, các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ…đều cần phải đảm bảo chất lượng cao nếu không sẽ khó thu hút được
khách hàng. Nhất là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thì vấn đề chất lượng sản
phẩm cũng cần phải ngày càng được nâng cao, có như vậy mới đảm bảo được
sự PTBV cho làng nghề.
Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng để có thể tạo điều kiện cho
sản phẩm làng nghề có thể đứng vững trên thị trường và có khả năng cạnh
tranh cao ngay ở những thị trường khó tính nhất, nhất là đối với các sản phẩm
sản xuất phục vụ xuất khẩu, vì khách hàng nước ngoài luôn là những đối
tượng kỹ tính, đòi hỏi phải đảm bảo chất lượng. Nếu các làng nghề cứ sản
13
xuất ồ ạt, chỉ chú trọng đến quy mô mà không quan tâm đầu tư cho chất lượng
sản phẩm thì sớm hay muộn cũng sẽ bị loại dần ra khỏi thị trường. Vì vậy
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm cũng chính là một nhân tố đảm
bảo cho các làng nghề phát triển một cách bền vững.
Thị trường đầu ra của sản phẩm
Thị trường đầu ra của sản phẩm phản ánh sản phẩm có giá trị sử dụng
và có chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường. Mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh
khi tham gia vào thị trường thì đều mong muốn có một chỗ đứng nhất định,
đóng góp một thị phần nhất định trên thị trường cho dù quy mô của nó nhỏ
hay lớn. Nếu nhanh chóng theo kịp với những sự thay đổi nhu cầu của thị
trường thì mỗi làng nghề sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn. Điển hình như các
làng nghề sản xuất đồ gỗ gia đình, vật liệu xây dựng, gốm sứ, đá mỹ nghệ…
thì sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tốt này. Ngược lại, nếu các làng nghề
không thích ứng được với sự thay đổi về nhu cầu thị trường mà vẫn cứ cố
bám lấy kiểu làm ăn cũ thì sản xuất tất yếu sẽ bị giảm sút, có khi lại không thể
duy trì được sự tồn tại của nghề. Ví dụ như các nghề thuộc về đan lát: đan
nghề. Sự so sánh đó có thể cho ta thấy được vai trò và vị trí của làng nghề đó
so với sản xuất nông nghiệp thuần túy. Ngoài ra, thông qua đó chúng ta cũng
có thể so sánh giá trị gia tăng được tạo ra từ làng nghề so với tổng giá trị gia
tăng được tạo ra trong ngành nông nghiệp.
- Thu nhập của lao động làng nghề
Thu nhập của lao động làm việc trong làng nghề cũng là một chỉ tiêu
quan trọng để người lao động xác định lựa chọn nghề và sống nhờ vào nghề
đó. Nếu mức thu nhập bình quân của người lao động đủ đảm bảo trang trải
cho những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của người lao động cũng như gia
15
đình họ, đồng thời mức thu nhập đó nếu cao hơn mức thu nhập từ sản xuất
nông nghiệp thì người lao động sẽ chọn làm việc ở làng nghề và gắn bó hơn
với nghề đó. Mặt khác, ngoài làm công việc ở làng nghề, người lao động cũng
có thể thực hiện đan xen với làm nông nghiệp, bởi vì làm nông nghiệp mang
tính thời vụ cao, hết mùa vụ thì sẽ là thời kỳ nông nhàn nên có thể trong thời
kỳ mùa vụ, người lao động có thể tạm gác việc làm ở làng nghề để có thể thực
hiện thu hoạch hay cấy hái. Như vậy, qua đó cũng sẽ có được mức thu nhập
cao hơn và cuộc sống của họ sẽ được đảm bảo, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn
trước.
1.2.2.2. Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội
Để đánh giá tính bền vững về xã hội thể hiện thông qua các chỉ tiêu
như: giải quyết việc làm, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn; tăng thu
nhập cho người dân, giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, xóa đói
giảm nghèo.
Giải quyết việc làm và giảm tình trạng thiếu việc làm ở nông
thôn
Tiêu chí quan trọng đầu tiên biểu hiện sự phát triển của làng nghề có
đảm bảo được tính bền vững hay không chính là khả năng giải quyết việc làm
của làng nghề, trước hết là giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trong
làng. Chúng ta thấy được rằng làm nông nghiệp luôn là một nghề vất vả,
Về mặt tích cực, yếu tố truyền thống sẽ có tác dụng góp phần bảo tồn
những nét đặc trưng văn hóa riêng có của làng nghề, của dân tộc, làm cho sản
phẩm của làng nghề có tính độc đáo và giá trị cao hơn. Đó là đối với các làng
nghề truyền thống, bởi vì ở những làng nghề này bao giờ cũng có những
17
người thợ có trình độ tay nghề cao, có trình độ kinh nghiệm sản xuất, có tâm
huyết với nghề, và họ cũng chính là người gánh trách nhiệm duy trì, phát triển
những bí quyết riêng của làng nghề, và cứ thế, các bí quyết riêng đó sẽ được
truyền từ đời này qua đời khác, qua các thế hệ. Họ chính là cơ sở cho sự tồn
tại, PTBV làng nghề trước mọi biến cố và duy trì những nét độc đáo truyền
thống của làng nghề.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì ngoài việc truyền kinh
nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác cũng cần phải biết áp dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất, đó là những công nghệ hiện đại. Khi đó lại cần phải có đội
ngũ những người năng động, sáng tạo để có thể đưa hoạt động sản xuất kinh
doanh phát triển mạnh mẽ được. Trong điều kiện đó, một số yếu tố truyền
thống, phong tục tập quán lại cản trở sự phát triển của làng nghề theo hướng
hiện đại. Bên cạnh đó, còn có những quy định, quy tắc khắt khe, hạn chế
trong nghề, tục lệ làng quê đã trở thành rào cản đến việc mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh của các làng nghề.
Chính vì vậy, sự PTBV của làng nghề ngoài việc tạo điều kiện để giữ
gìn bản sắc văn hóa của địa phương, tôn vinh giá trị truyền thống trong phong
tục tập quán thì nó cũng cần phải được chú ý thay đổi linh hoạt đối với sự
phát triển làng nghề nếu điều đó là cần thiết. Ví dụ như nếu những hoạt động
có thể dùng máy móc thay thế thì không cần thiết phải hoạt động thủ công
nữa. Điều đó sẽ làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí và làng nghề vẫn
có thể PTBV đi lên.
1.2.2.3. Tiêu chí đánh giá bền vững về môi trường.
Ô nhiễm môi trường lao động ở làng nghề
- Ô nhiễm môi trường không khí
19
hóa học đo lường chất lượng môi trường nước thải như: Độ kiềm toàn phần;
Độ cứng của nước; Hàm lượng oxigen hòa tan (DO); Nhu cầu oxigen hóa học
(COD: là lượng oxigen cần thiết (cung cấp bởi các chất hóa học) để oxid hóa
các chất hữu cơ trong nước. zChất oxid hóa thường dùng là KMnO4 hoặc
K2Cr2O7 và khi tính toán được qui đổi về lượng oxigen tương ứng ( 1 mg
KMnO4 ứng với 0,253 mgO2)); Nhu cầu oxigen sinh hóa (BOD: là lượng
oxigen cần thiết để vi khuẩn có trong nước phân hủy các chất hữu cơ. Tương
tự như COD, BOD cũng là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn
của nước (đơn vị tính cũng là mgO2/L). Trong môi trường nước, khi quá trình
oxid hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxigen hòa tan để oxid hóa
các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ bền như
CO2, CO32-, SO42-, PO43- và cả NO3-). Các chỉ tiêu vật lý như: độ pH, độ
đục, tổng hàm lượng chất rắn (TS); Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS)…Ô
nhiễm môi trường nước nghiêm trọng thể hiện ở chỗ nó làm giảm chất lượng
đất, suy giảm các nguồn lợi thủy sinh và đồng thời làm giảm chất lượng
nguồn nước kể cả nguồn nước mặt lẫn nước ngầm. Ô nhiễm môi trường nước
sẽ gây ra những bệnh ngoài da, bệnh đường ruột, đau mắt hột…, ảnh hưởng
không nhỏ đến sức khỏe người lao động.
Ngoài việc ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người lao động mà nó còn
gây ô nhiễm nghiêm trọng tới nguồn nước sinh hoạt của cộng đồng dân cư, vì
ở nhiều nơi, nhiều vùng hiện nay, nguồn nước sinh hoạt của người dân vẫn
chưa được dùng nước máy. Ngoài ra nó còn làm giảm tài nguyên đất trồng
trọt, giảm sút các nguồn thủy sản trên các con sông và ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống con người.
Làng nghề càng phát triển thì nguy cơ ô nhiễm làng nghề đang càng gia
tăng, người lao động trong các làng nghề chịu ít nhất là 3 tác động tiêu cực
trong môi trường lao động. Đó là nhiệt độ cao, bụi và tiếng ồn hoặc mặt bằng
20
nhà xưởng. Nếu làm việc trong môi trường độc hại, nhiều nguy hiểm, người
người lao động. Việc phát triển làng nghề sẽ thu hút lao thêm lao động tham
gia vào làm việc, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn, đồng thời cũng sẽ
tăng thêm đội ngũ những người làm dịch vụ phục vụ tại các làng nghề. Từ đó
sẽ góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho lực lượng lao động ở
nông thôn và nó còn có tác động lan tỏa kéo theo sự hình thành và phát triển
các ngành nghề khác ở nông thôn. Hơn nữa, còn có những làng nghề mà
người lao động hoàn toàn làm việc phục vụ làng nghề chứ không còn tham
gia hoạt động sản xuất nông nghiệp nữa. Điều này sẽ làm cho người lao động
ở địa phương yên tâm vào ổn định cuộc sống ở làng quê mà không còn ham
muốn ra thành thị kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống nữa. Cũng nhờ sự
phát triển của làng nghề như thế mà bộ phận dân cư không có hoặc có rất ít
ruộng đất cũng sẽ có điều kiện nhận thêm ruộng đất để canh tác, từ đó sẽ góp
phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.
Sự phát triển của làng nghề cũng sẽ lan tỏa tác động sang các vùng
khác, thu hút lao động từ các vùng khác khi hoạt động sản xuất kinh doanh
được mở rộng, từ đó sẽ góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triển
kinh tế - xã hội của các địa phương
Ngoài ra ta cũng thấy được rằng, hoạt động làng nghề chủ yếu là quy
mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động cũng không lớn, trong khi đó, một khi hoạt
động sản xuất kinh doanh được phát triển mở rộng thì nhu cầu vốn cũng như
lao động cần được huy động ngày càng lớn, mà nguồn vốn như thế này lại có
thể huy động trực tiếp từ dân cư. Do vậy, đó sẽ là điều kiện thuận lợi để thu
hút nguồn vốn còn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
làng nghề.
22
PTBV làng nghề cũng có tác động lớn tới công tác hoàn thiện hệ thống
kỹ thuật và xã hội ở địa phương. Nhất là đối với hoàn cảnh ở nước ta, hệ
thống kỹ thuật vẫn còn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng
của quá trình phát triển kinh tế - xã hội thì để có thể phát triển làng nghề, cần
phải chú trọng hoàn thiện hơn hệ thống kỹ thuật để có thể phục vụ tốt hơn
1.3.1. Các nhân tố thuộc cấp độ quản lý nhà nước
Các nhân tố thuộc cấp độ quản lý nhà nước ảnh hưởng đến sự PTBV
làng nghề đó chính là khuôn khổ pháp luật, chính sách quản lý, hỗ trợ của nhà
nước, địa phương; quy hoạch phát triển làng nghề và xây dựng kết cấu hạ
tầng ở địa phương.
1.3.1.1. Khuôn khổ pháp luật, chính sách quản lý, hỗ trợ của nhà nước, địa
phương
Khuôn khổ pháp luật, chính sách quản lý, hỗ trợ của nhà nước, địa
phương là nhân tố không thể thiếu được để đảm bảo cho sự PTBV làng nghề.
Đó là nhân tố không thể thiếu được để đảm bảo cho sự phát triển của bất kỳ
hoạt động kinh tế nào trên đất nước. Yếu tố này thể hiện ở chỗ nó có đối xử
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế hay không, chính sách hỗ trợ của nhà
nước đối với các thành phần kinh tế như thế nào. Một sự thay đổi chính sách,
pháp luật sẽ tác động mạnh mẽ tới sự tồn tại và phát triển của làng nghề.
Mặt khác do các chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của nước
ta cũng như là việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
cũng phần nào làm cho các sản phẩm của làng nghề có thêm điều kiện phát
triển và mở rộng hoạt động xuất khẩu do có điều kiện để mở rộng thị trường
tiêu thụ, đặc biệt là các sản phẩm thuộc loại thủ công mỹ nghệ, mang bản sắc
độc đáo riêng. Tuy nhiên, việc mở cửa hội nhập mạnh mẽ cũng có tác động
24
hai mặt. Hàng hóa nước ngoài qua đây mà cũng có thể tràn vào nước ta, nhất
là các sản phẩm cùng loại có thể cạnh tranh với các sản phẩm từ làng nghề,
gây ra những khó khăn nhất định đối với các làng nghề. Đặc biệt, do tình hình
khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, đến nay vẫn đang tác động
xấu đến nền kinh tế các nước phát triển và ảnh hưởng lan sang toàn thế giới
thì không chỉ sản phẩm làng nghề mà sản phẩm của nhiều ngành nghề khác
cũng phải chịu những tác động xấu nhất định. Nhiều cơ sở sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là cơ sở làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu đều gặp nhiều khó
khăn.