TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
108
HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
AN EVALUATION SYSTEM FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT
OF VIETNAM’S INDUSTRIAL ZONES
LÊ THẾ GIỚI
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Phát triển bền vững trên nền tảng tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi
trường là đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển các ngành và vùng. Bài viết này tập
trung luận giải những vấn đề cốt lõi của phát triển bền vững khu công nghiệp (KCN), đề
xuất hệ thống các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững KCN và các giải pháp tăng
cường tính bền vững trong phát triển bền vững các KCN Việt Nam.
ABSTRACT
Sustainable development on the basis of economic development, social development
and environmental protection requires a process of industrial and regional development.
This paper is concerned with a number of key issues of sustainable development in
industrial zones, and also suggests some criteria for the evaluation of sustainable
development in these zones and solutions to the promotion of sustainable development
in Vietnam’s industrial zones.
1. Đặt vấn đề
Sau hơn 15 năm triển khai xây dựng các khu công nghiệp (KCN), trong cả nước
đã hình thành một mạng lưới các KCN, và đã có những đóng góp quan trọng vào sự
phát triển kinh tế của các địa phương, vùng và cả nước, thể hiện vai trò đi đầu trong tiếp
nhận chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh và
thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam.
Tính đến 12/2007, cả nước đã có 183 KCN được thành lập với tổng diện tích đất
tính bền vững trong phát triển các khu công nghiệp
2
, đặc biệt trong điều kiện ở Việt
Nam, do quá trình hình thành và phát triển các KCN chưa được lâu, mục tiêu chủ yếu
tập trung vào việc thu hút vốn đầu tư, cơ chế chính sách và các định chế quản lý các
KCN chưa nhất quán và thiếu đồng bộ, chưa có chuẩn qui định và chuẩn đánh giá về
KCN, việc điều hành công tác quản lý KCN còn nhiều bất cập, các điều kiện hình thành
các KCN là khác nhau nên chúng cũng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau. Do
đó, cần thiết phải xây dựng hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN Việt Nam để
làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và quản lý hoạt động của các KCN.
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới việc kiểm định sự thành công của KCN lại được
thực hiện chủ yếu thông qua sự đánh giá trực tiếp các doanh nghiệp hoạt động trong KCN
theo các bộ tiêu chí phát triển bền vững khá chặt chẽ
3
, và chúng tương đối tương đồng với
nhau. Kết quả đánh giá các doanh nghiệp trong KCN theo một bộ tiêu chí thống nhất,
theo chúng tôi, là một công cụ tham chiếu quan trọng về tính bền vững trong quá trình
phát triển của KCN. Việt Nam cần sớm xây dựng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp trên
cơ sở tham khảo các bộ tiêu chí đang được áp dụng phổ biến trên thế giới như Bộ tiêu chí
Phát triển bền vững Dow Jones và Bộ tiêu chí của Tổ chức Sáng kiến toàn cầu GRI. Bên
cạnh việc đánh giá từng doanh nghiệp theo bộ tiêu chí thống nhất, hệ thống đánh giá phát
triển bền vững KCN ở Việt Nam, hiển nhiên, cũng cần thể hiện được các yếu tố phát triển
bền vững của các doanh nghiệp trong KCN. Quan điểm này của tác giả bài viết được thể
hiện trong các tiêu chí đề xuất để đánh giá sự phát triển bền vững KCN Việt Nam.
Thứ hai, sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông qua
những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN, mà còn phải
được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các các nhóm lợi ích
liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN).
Tác động lan tỏa (spillover effect), còn được gọi là hiệu ứng lan tỏa, được các
nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đề cập từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi bàn
Như vậy, từ các phân tích trên đây, phát triển bền vững KCN ở Việt nam phải
được xem xét trên hai mặt: (1) Mức độ bền vững trong hoạt động của KCN thông qua
hiệu quả kinh doanh cao của các doanh nghiệp trong KCN, và (2) Tác động lan toả tích
cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp, ngành,
địa phương, khu vực có KCN.
3. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững khu công nghiệp
Với cách tiếp cận vấn đề phát triển bền vững khu công nghiệp như trên, hệ thống
đánh giá được xác định theo hai nhóm tiêu chí: Các tiêu chí đánh giá phát triển bền
vững khu công nghiệp và các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của khu công nghiệp.
Các tiêu chí này có thể đo lường trực tiếp bằng các phương pháp định lượng hoặc đánh
giá định tính theo các thang điểm đo lường thích hợp
4
.
3.1. Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại khu công nghiệp
3.1.1. Vị trí địa lý của khu công nghiệp
Lợi thế về bố trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp đạt được
hiệu quả kinh tế theo vị trí. Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gần các
4
Xem Chương 4 - Các thang điểm đo lường trong nghiên cứu, tr.48-64, Nghiên cứu marketing - lý
thuyết và thực hành, Lê Thế Giới (Chủ biên), Nguyễn Xuân Lãn, Đặng Công Tuấn, Lê Văn Huy, NXB
Thống kê 2006.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
111
trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị trường các yếu tố
đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị trường tiêu thụ sản phẩm,... có ảnh
hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp.
3.1.2. Chất lượng qui hoạch khu công nghiệp
Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu của quá
trình qui hoạch, sử dụng và phát triển KCN. Nó thể hiện ở tính hợp lý, đồng bộ, khoa
3.1.5. Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tỷ lệ giá trị gia tăng so
với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả
nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên 1 ha.
Năm 2007, các doanh nghiệp KCN đã đạt tổng doanh thu 22,4 tỷ USD, tăng
24% so với năm 2006; kim ngạch xuất khẩu đạt 10,8 tỷ USD, tăng 31,7% so với năm
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
112
2006 và chiếm 22% giá trị xuất khẩu của cả nước. Giá trị sản xuất kinh doanh trên 1 ha
diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt 1,5 triệu USD/ha.
3.1.6. Trình độ công nghệ
5
và ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp của KCN
- Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước
trong KCN.
- Trình độ công nghệ của từng ngành, nhóm ngành mà các doanh nghiệp FDI
trong KCN tham gia hoạt động (lạc hậu, trung bình, tiên tiến).
- Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong KCN
- Thông tin về công nghệ (tài liệu hướng dẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ)
- Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ.
- Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất).
- Qui mô và tỉ lệ chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong
doanh thu theo ngành của các các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước.
3.1.7. Phạm vi, qui mô hoạt động, trình độ chuyên môn hoá và liên kết kinh tế
Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo phạm vi (economies of
scope) hay chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế theo qui mô (economies of scale) trong
hoạt động của KCN.
- Tổng doanh thu của KCN và doanh thu một số ngành công nghiệp chủ yếu
trong KCN.
- Tỉ lệ doanh thu của các ngành công nghiệp chủ yếu có liên quan, mặt hàng