Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội
loài người, do đó đã được toàn thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình
nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Ngày 17/08/2004, Thủ tướng
Chính phủ đã ký Quyết định số: 153/2004/QĐ-TTg, phê duyệt “Định hướng
Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt
Nam). Tỉnh Ninh Bình là 1 trong số 6 tỉnh đầu tiên của cả nước xây dựng được
chương trình phát triển bền vững cấp địa phương. UBND tỉnh đã chỉ đạo xây
dựng Định hướng phát triển bền vững tỉnh Ninh Bình (Chương trình Nghị sự 21
tỉnh Ninh Bình – LA21 Ninh Bình) nhằm cụ thể hóa việc thực hiện định hướng
chiến lược phát triển bền vững quốc gia trên địa bàn tỉnh.
Năm 2006-2008, 3 năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm 2006-2010 và mục
tiêu phát triển Công nghiệp theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần
thứ XIX, công nghiệp Ninh Bình đã có những bước phát triển mới: Giá trị sản xuất
công nghiệp năm 2007 tăng 31,8% so với năm 2005; số lượng cơ sở sản xuất tăng
mạnh, tính trung bình cho giai đoạn 2006-2008 là 25,8%; một số dự án đầu tư đã đi
vào sản xuất và có sản phẩm (Nhà máy xi măng Vissai, Nhà máy xi măng Duyên
Hà, nhà máy xi măng Hướng Dương, nhà máy cán thép Tam Điệp…); cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu hút được nhiều lao động, giải quyết việc
làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định
trong những năm tiếp theo.
Khu công nghiệp có vai trò, vị trí rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của một địa phương, vùng, lãnh thổ hoặc một quốc gia; Bởi nó góp phần
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan trọng trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư, giải quyết việc làm,
tăng thu nhập cho người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, đẩy
nhanh quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nông thôn, bảo vệ môi trường
hơn ở xung quanh. Đặc biệt phát triển công nghiệp phải đi đôi với giữ gìn môi
trường và không làm ảnh hưởng đến phát triển tại các khu du lịch trọng điểm
và sinh hoạt của tất cả mọi tầng lớp nhân dân”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong xây dựng và phát
triển các khu công nghiệp của tỉnh Ninh Bình, trong đó đặc biệt phải kể đến
vấn đề vệ sinh môi trường. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để các khu công
nghiệp của Ninh Bình có thể phát triển bền vững theo quan điểm phát triển
công nghiệp của tỉnh? Để trả lời câu hỏi này, đề tài sẽ phân tích cụ thể tình
hình thực hiện phát triển bền vững trong các khu công nghiệp ở tỉnh Ninh
Bình, từ đó rút ra những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại, phân tích
điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, và cuối cùng là đưa ra một số giải
pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo hướng
phát triển bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chú trọng nghiên cứu và phân tích một
số vấn đề liên quan tới quá trình quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, thu hút và quản lý nhà đầu tư của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ninh Bình. Các số liệu thống kê được phân tích trong khoảng thời gian từ 2004
đến 2008 và một số mục tiêu, chỉ tiêu phát triển dự báo đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp như: phương
pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp phân
tích tổng hợp. Trên cơ sở các tài liệu thống kê, báo cáo, các quy hoạch khu công
nghiệp ở tỉnh Ninh Bình; cùng với những nghiên cứu hiện có, các kinh nghiệm
của nước ngoài cũng như các bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đề
hợp lý, đảm bảo phát triển bền vững các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Chương II: Đánh giá về phát triển bền vững các khu công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Chương này tập trung phân tích các đặc điểm, điều kiện tác động và thực trạng
phát triển bền vững các khu công nghiệp của tỉnh Ninh Bình trên cơ sở lý thuyết đã
phân tích ở chương I. Qua đó, rút ra những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của
những tồn tại đó để làm cơ sở cho những giải pháp đưa ra ở chương tiếp theo.
Chương III: Một số giải pháp để phát triển bền vững các khu công nghiệp ở tỉnh
Ninh Bình.
Phân tích những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển bền vững các
khu công nghiệp của tỉnh Ninh Bình, kết hợp với định hướng và mục tiêu phát
triển khu công nghiệp của tỉnh, cùng những phân tích ở chương trước, từ đó đề
tài đã đề xuất một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp của tỉnh theo
hướng bền vững đến năm 2020.
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình tìm hiểu và viết báo cáo chuyên đề tốt nghiệp, tôi cũng đã
gặp một số khó khăn về phương pháp luận cũng như về số liệu thực tế, đặc biệt
là việc đưa ra các giải pháp thích hợp để giải quyết các vấn đề. Mặc dù vậy, với
sự giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của các cán bộ ở Sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Ninh Bình, cùng với sự chỉ bảo nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn, ThS.
Nguyễn Thị Hoa, tôi đã hoàn thành được đề tài “Một số giải pháp phát triển
bền vững các khu công nghiệp tỉnh Ninh Bình đến năm 2020”. Tuy nhiên, do
thời gian có hạn, cộng với vốn kiến thức thực tế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa
học còn hạn chế nên trong chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi
rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc để có thể hoàn
thiện, nâng cao, hoàn chỉnh đề tài của mình và có khả năng vận dụng đề tài vào
thực tiễn phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Ninh Bình một cách hiệu quả.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Một đặc điểm đặc trưng khá nổi bật của khu công nghiệp là không
có dân cư sinh sống và được ngăn cách với môi trường xung quanh bằng hàng
rào cứng và các ranh giới địa lý tự nhiên.
2.2. Điều kiện hình thành và phát triển khu công nghiệp
Để một khu công nghiệp có thể hình thành và phát triển tốt, cần có các
điều kiện khách quan và chủ quan sau đây:
2.2.1. Điều kiện khách quan: gồm các điều kiện về vị trí địa lý, về
cơ sở hạ tầng và điều kiện về thời cơ.
Về vị trí địa lý, địa điểm xây dựng khu công nghiệp phải có nhiều
ưu điểm về điều kiện tự nhiên, có sức hấp dẫn để thu hút đầu tư trên cơ sở các lợi
thế so sánh của nó (tài nguyên, khí hậu, lao động, nguồn nhân lực ), đặc biệt là
khả năng phát triển các loại thị trường để có thể thực hiện chức năng kết nối,
“lan tỏa” đối với hệ thống kinh tế quốc gia, vùng và địa phương.
Về cơ sở hạ tầng, để các khu công nghiệp phát huy hết các chức
năng của nó thì cần có điều kiện hạ tầng trong và ngoài khu tương ứng như việc
cung cấp điện nước đầy đủ, đảm bảo chất lượng hệ thống đường giao thông,
thông tin liên lạc hoàn hảo, mạng lưới cung cấp dịch vụ thuận tiện, chu đáo Do
đó, các khu công nghiệp hình thành ở những nơi đã có sẵn điều kiện cơ sở hạ
tầng sẽ có nhiều thuận lợi hơn và có suất đầu tư thấp và ngược lại.
Về thời cơ, khả năng thu hút đầu tư của các khu công nghiệp có
một phần không nhỏ phụ thuộc vào tình hình kinh tế thế giới, do ảnh hưởng của
các tình hình đó đến việc di chuyển các dòng vốn đầu tư quốc tế. Mặt khác, khả
năng thu hút đầu tư của các khu công nghiệp còn phụ thuộc vào khả năng tạo ra
các lợi thế so sánh động trong từng thời kỳ của chính bản thân nó. Do đó, việc
xây dựng và phát triển các khu công nghiệp một cách đúng thời điểm, thời cơ
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
8
nghiệm chính sách kinh tế mới tốt nhất, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối
ngoại và là đầu tàu tiên phong trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, khu công nghiệp đem lại những hiệu quả quan trọng về mặt kinh tế
(thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư; tạo điều kiện phát triển các công
nghiệp phụ trợ; phát triển các ngành dịch vụ; phân bố lao động hiệu quả hơn…)
Khu công nghiệp được thành lập, hoạt động và quản lý tốt sẽ thu hút được
nhiều nhà đầu tư và vốn đầu tư, nhờ đó tạo ra những khoản thu rất lớn từ việc
bán quyền sử dụng đất, cho thuê nhà xưởng, các khoản thu từ thuế
Bên cạnh đó, phát triển các khu công nghiệp tập trung là một biện pháp
hữu hiệu nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Đối với các nước đang phát triển như
Việt Nam, do không đủ vốn nên chưa cho phép cùng một lúc hoàn thiện toàn bộ
hệ thống cơ sở hạ tầng. Bởi vậy, việc xây dựng và phát triển các khu công
nghiệp sẽ góp phần tập trung các nguồn lực còn hạn hẹp vào một số khu vực
trọng điểm có nhiều lợi thế hơn các khu vực khác trên địa bàn lãnh thổ, nói cách
khác, vốn được sử dụng có hiệu quả hơn.
Khu công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện dẫn dắt các ngành công
nghiệp phụ trợ, các dịch vụ cần thiết như dịch vụ công nghiệp, dịch vụ tài chính,
ngân hàng, dịch vụ cung cấp nguyên luyện, các dịch vụ lao động trong khu công
nghiệp. Đồng thời, việc thu hút lao động cũng góp phần tạo nên khu dân cư tập
trung, hình thành nên các khu đô thị, thành phố công nghiệp, do đó giúp phân bố
và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lao động của địa phương.
Thứ ba, khu công nghiệp là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu
quả các thành tựu khoa học công nghệ; đây là đầu vào thiết yếu để áp dụng vào
quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Khu công nghiệp có địa bàn tương đối
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
rộng, được quy hoạch theo một kế hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của nền
kinh tế; cộng thêm với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại, đồng
bộ, cùng với những ưu đãi mà Nhà nước dành cho các khu công nghiệp trong
khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp nhằm tái mở rộng sản xuất, đổi
mới trang thiết bị, tích lũy thêm kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sản xuất
kinh doanh, làm cho các doanh nghiệp ngày càng làm ăn có hiệu quả.
Khu công nghiệp còn là nơi sản xuất hàng hóa xuất khẩu hướng ra thị trường
thế giới, là của ngõ giao lưu nền kinh tế trong nước với bên ngoài, góp phần đẩy
nhanh quá trình phân công lao động quốc tế, hội nhập nền kinh tế thế giới.
3.2. Vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển xã hội
Thứ nhất, khu công nghiệp phát triển sẽ góp phần hình thành các khu dân
cư tập trung, các khu đô thị mới. Khu công nghiệp phát triển kéo theo các ngành
dịch vụ đời sống cũng phát triển, từ đó hình thành nên các khu dân cư tập trung,
các khu đô thị mới và hàng loạt các ngành dịch vụ ra đời như chợ, siêu thị, các
dịch vụ bưu điện, du lịch, vận tải công cộng Điều này chứng tỏ rằng phát triển
các khu công nghiệp có tác dụng lan tỏa sang các khu phụ cận, các vùng lãnh thổ
và trong toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế của một vùng kinh tế
cũng như của cả quốc gia.
Thứ hai, khu công nghiệp là môi trường đào tạo ra đội ngũ quản lý bản
lĩnh, có kinh nghiệm, trình độ cao và những công nhân có tay nghề cao, ý thức
tác phong công nghiệp. Trong môi trường các khu công nghiệp luôn luôn cập
nhật không ngừng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại
cùng các kinh nghiệm quản lý, bởi vậy cũng là môi trường đào tạo ra đội ngũ
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quản lý trình độ cao, có bản lĩnh, kinh nghiệm; đào tạo ra những công nhân có
tay nghề cao, ý thức và tác phong công nghiệp do được tiếp cận với những dây
chuyền công nghệ tiên tiến. Ngoài ra, trong môi trường làm việc có kỷ luật cao
sẽ buộc các nhà quản lý cũng như người lao động phải tự thân rèn luyện, học hỏi
không ngừng để nâng cao trình độ chuyên môn của mình, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của công việc.
Thứ ba, khu công nghiệp tạo việc làm cho người lao động, qua đó cải
nhiên)”. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn
định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường
sống. Đây cũng là định nghĩa về “phát triển bền vững” được hầu hết các quốc gia
trên thế giới công nhận, trong đó có Việt Nam.
1.2. Khái niệm và quan điểm phát triển bền vững các khu công nghiệp ở
Việt Nam
Trên cơ sở về phát triển bền vững nói chung, có thể hiểu phát triển bền
vững các khu công nghiệp là sự phát triển đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định,
có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân các khu công nghiệp (các doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả, tạo ra nhiều giá trị sản xuất công nghiệp, tạo việc
làm cho người lao động, tăng thu ngân sách địa phương ), đồng thời gắn liền với
việc bảo vệ và giữ vững môi trường sinh thái trong khu vực có khu công nghiệp
cũng như toàn lãnh thổ vùng, quốc gia.
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vậy để phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Việt Nam cần đảm bảo
hai yếu tố: phát triển bền vững nội tại các khu công nghiệp và phát triển bền
vững ngoài hàng rào các khu công nghiệp.
Trước hết, bản thân các khu công nghiệp phải được đặt ở những vị trí
thích hợp, có tính chiến lược lâu dài; hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ,
đặc biệt là phải có khu xử lý nước thải, rác thải tập trung; tình hình thu hút đầu
tư khả quan, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp hoạt động có hiệu quả,
đóng góp cho ngành, địa phương, tạo việc làm cho người lao động Bên cạnh
đó, việc xây dựng, hình thành các khu công nghiệp cần chú ý bảo vệ, giữ vững
môi trường sinh thái khu vực ngoài hàng rào các khu công nghiệp.
Song song với vấn đề môi trường là sự đấu nối, kết hợp hài hòa hệ thống
các công trình, dịch vụ kinh tế - xã hội trong và ngoài khu công nghiệp như giao
thông, bưu chính viễn thông, nhà hàng, khách sạn, nhà ở công nhân, bệnh viện,
nghiệp - dịch vụ - đô thị. Đặc biệt là sự thiếu gắn bó, hợp tác và liên kết giữa các
doanh nghiệp trong một khu công nghiệp, giữa các khu công nghiệp với nhau và
giữa các khu công nghiệp với các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cũng như với
các khu kinh tế trên phạm vi địa phương và cả nước.
Như đã nói ở trên, phát triển các khu công nghiệp luôn có tính hai mặt.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng phát triển các khu công nghiệp luôn luôn là sự
lựa chọn đúng đắn, hiệu quả và tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước. Vấn đề là cần tìm ra, bổ sung và chủ động thực hiện các giải pháp
cần thiết, đồng bộ, hiệu quả để phát triển các khu công nghiệp theo hướng bền
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vững, nhằm phát huy các tác dụng tích cực, đồng thời hạn chế, giảm thiểu các tác
động trái chiều của quá trình này.
3. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững các khu công nghiệp ở
Việt Nam
Với cách tiếp cận vấn đề phát triển bền vững các khu công nghiệp như
trên, hệ thống các tiêu chí đánh giá được chia thành 2 nhóm tiêu chí: Các tiêu chí
đánh giá phát triển bền vững nội tại khu công nghiệp và các tiêu chí đánh giá tác
động lan tỏa của khu công nghiệp.
3.1. Nhóm các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại các khu
công nghiệp
Phát triển bền vững nội tại các khu công nghiệp là yêu cầu quan trọng
nhất, phản ánh hiệu quả bền vững của các khu công nghiệp. Từ đó, có thể xác
định được ảnh hưởng lan tỏa của khu công nghiệp đến khu vực xung quanh sẽ là
tích cực hay tiêu cực. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tiêu chuẩn đánh giá sự phát
triển nội tại của các khu công nghiệp tập trung vào các vấn đề sau:
Vị trí địa lý của các khu công nghiệp: thể hiện ở một số yêu cầu:
Địa hình: cao hay thấp, trũng; bằng phẳng hay lồi lõm; đất sản xuất
nông nghiệp hay đất định cư. Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến suất đầu tư, chi
Cơ cấu sử dụng đất trong khu công nghiệp: diện tích của một khu công
nghiệp được chia thành nhiều loại đất khác nhau: đất xây dựng nhà máy sản
xuất, đất giao thông, đất cấp điện, nước, đất trồng cây xanh, hạ tầng kỹ thuật…
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Một khu công nghiệp hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững, thường có cơ
cấu sử dụng đất theo tỷ lệ:
Đất xây dựng nhà máy sản xuất: 65 - 75%;
Đất khu điều hành: 1,5 - 2%;
Đất giao thông: 9 - 15%;
Đất cây xanh, mặt nước: 10 - 15%;
Đất đầu mối hạ tầng kỹ thuật khác: 4 - 10%;
Tỷ lệ lấp đầy trong các khu công nghiệp: Tiêu chí này được đo bằng tỷ
lệ diện tích đất khu công nghiệp đã cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư thuê so với
tổng diện tích khu công nghiệp. Tuy nhiên, không phải khu công nghiệp nào sau
khi xây dựng xong là được lấp đầy ngay, mà nó cần phải có một lộ trình nhất
định. Đối với một khu công nghiệp phát triển đạt yêu cầu bền vững, lộ trình đó
có thể như sau:
Thời gian xây dựng cơ sở hạ tầng: 2 - 3 năm;
2 - 3 năm tiếp theo: tỷ lệ lấp đầy khoảng 50%;
2 năm tiếp theo: tỷ lệ lấp đầy tăng lên là 70%;
2 năm tiếp theo: tỷ lệ lấp đầy đạt 100%.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong khu công
nghiệp: Tiêu chí này thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu; tổng giá trị gia
tăng; tổng lao động thu hút; tổng vốn kinh doanh; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng
doanh thu; năng suất lao động tính theo doanh thu; thu nhập bình quân của một đơn vị
lao động.
Trình độ khoa học công nghệ của các doanh nghiệp trong khu công
nghiệp: Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nội
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhà đầu tư khác, do đó tạo cơ sở cho khu công nghiệp phát triển. Tiêu chí này
được thể hiện cụ thể ở:
Mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội của
khu công nghiệp như: điện, nước, cây xanh, kho tàng, đường xá, phương tiện vận
chuyển, vệ sinh môi trường
Chủng loại, quy mô và chất lượng hoạt động của hệ thống cơ sở hạ
tầng kinh tế phục vụ hoạt động cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp như:
bưu chính viễn thông, thông tin, tài chính, ngân hàng, khách sạn, giáo dục, y tế…
Mức độ hài lòng về vị trí, địa hình, khí hậu thủy văn nơi đặt khu
công nghiệp.
Mức độ hài lòng về yếu tố con người: cơ chế chính sách ưu đãi, thu
hút đầu tư, thủ tục hành chính, thái độ của công chức địa phương, chất lượng
nguồn nhân lực.
3.2. Nhóm các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của khu công nghiệp
Tác động về kinh tế: Thể hiện qua các chỉ tiêu đo lường:
Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa
phương, so với mức chung của cả nước.
Cơ cấu kinh tế của địa phương có khu công nghiệp: xác định theo 3
lĩnh vực: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu theo thành phần kinh tế và cơ cấu theo
khu vực thể chế, trong số đó đặc biệt chú ý cơ cấu ngành.
Đóng góp của khu công nghiệp cho ngân sách địa phương. Mức
đóng góp càng lớn càng chứng tỏ khu công nghiệp hoạt động có hiệu quả và tác
động tích cực đến địa phương có khu công nghiệp đó.
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội của
địa phương có khu công nghiệp. Tiêu chí này phản ánh tình hình xây dựng cơ sở
thành công trong phát triển các khu công nghiệp đã đem lại những tác động tích
cực cho nền kinh tế và những biến đổi sâu sắc về mặt xã hội, cũng như những tác
động về môi trường. Kinh nghiệm mà các quốc gia đó để lại từ quá trình xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp của mình đã trở thành những bài học quý
báu cho những nước đi sau như Việt Nam, cũng như cho tỉnh Ninh Bình nói
riêng. Nhật Bản và Thái Lan là hai quốc gia đại diện cho những nước đã từng
thành công với những mô hình khu công nghiệp phát triển của khu vực châu Á,
gần hơn là Đông Nam Á (Thái Lan). Đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành,
từng bước đi phát triển các khu công nghiệp của hai quốc gia này sẽ mang lại
những bài học kinh nghiệm quý báu để phát triển bền vững các khu công nghiệp
ở Việt Nam nói riêng và tỉnh Ninh Bình nói chung.
1.1. Kinh nghiệm từ Nhật Bản
Những năm 70 của thế kỷ XX, Nhật Bản được biết đến như một câu
chuyện “thần kỳ” trong phát triển kinh tế - xã hội với những thành tựu đáng
khâm phục. Thực tế trong suốt thời kỳ tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản, các
khu công nghiệp đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển
các ngành sản xuất công nghiệp và đảm bảo phát triển cân đối giữa các vùng,
miền của Nhật Bản.
Quá trình phát triển các khu công nghiệp của Nhật Bản diễn ra từ sau
chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt là sau khi Luật phát triển các thành phố công
nghiệp mới được ban hành vào năm 1962. Thời kỳ này, nhiều cơ sở công nghiệp
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quy mô lớn dưới hình thức các khu công nghiệp tập trung được thành lập tại các
thành phố trên cả nước. Các ngành công nghiệp nặng như công nghiệp luyện
kim, lọc dầu hóa đã hình thành dọc theo các vùng ven biển và trở thành những
khu vực phát triển công nghiệp dẫn đầu trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Các
cơ sở công nghiệp phân bố thiếu cân đối, cùng với việc phát triển cao các ngành
công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất đã gây ra tình trạng ô nhiễm trầm trọng,
nghệ cao như chế tạo bán dẫn, công nghệ sinh học
Về hệ thống quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp, Nhật Bản có
3 cơ quan chính là: Bộ Thương mại và công nghiệp quốc tế (MITI), Cơ quan
quản lý đất quốc gia (NLA) và Bộ Xây dựng (MOC). Tùy theo chuyên môn của
mình, mỗi cơ quan có những chức năng và nhiệm vụ riêng, đồng thời phối hợp
các nhiệm vụ với nhau để quản lý quá trình xây dựng, phát triển các khu công
nghiệp một cách đồng bộ, hợp lý nhất có thể. Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp (MOA)
và Bộ Vận tải (MOT) cũng là những cơ quan tham gia quản lý những vấn đề
khác có liên quan.
Về chính sách hỗ trợ phát triển các khu công nghiệp, Nhật Bản rất chú
trọng đến việc hỗ trợ phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng. Năm 1955, tổng vốn đầu
tư của Nhà nước cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng công nghiệp là 80 tỷ Yên,
tương đương 0,9% GDP. Đến năm 1970, số vốn này đã lên tới 1.876 tỷ Yên,
tương đương 2,5% GDP. Chính phủ cũng đã áp dụng một số biện pháp khuyến
khích và hỗ trợ các xí nghiệp theo các luật về phát triển công nghiệp vùng và các
quy định của chính quyền địa phương như: hỗ trợ về thuế (miễn, giảm thuế; áp
dụng mức khấu hao đặc biệt cho từng xí nghiệp, từng địa phương, vùng, khu
Nguyễn Quỳnh Phương Kế hoạch 47A
25