phát triển bền vững các khu đô thị mới tổng quan kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đánh giá thực tế tại hà nội - Pdf 10



Luận văn
Phát triển bền vững các khu
đô thị mới: Tổng quan kinh
nghiệm quốc tế, trong nước
và đánh giá thực tế tại
Hà Nội 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG ĐÔ THỊ 4
1. 1. Khái niệm về phát triển đô thị bền vững 4
1.1.1. Phát triển bền vững nói chung 4
1.1.2. Phát triển đô thị bền vững (PTĐTBV) 4
1.2. Nguyên tắc, tiêu chí đánh giá PTĐTBV 8
1. 2.1. Nguyên tắc phát triển đô thị bền vững 8
1.2.2. Yêu cầu đối với quá trình PTĐTBV 8
1.2.2.1. Phát triển kinh tế 8
1.2.2.2. Phát triển dân số lành mạnh 9
1.2.2.3. Quy hoạch xây dựng đô thị tạo sự hấp dẫn cho đô thị 9
1.2.2.4. Cung cấp đầy đủ các dịch vụ hạ tầng 9
1.2.2.5. Xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên 10
1.2.2.6. Xã hội hóa công tác quy hoạch và PTĐT và ĐT hóa bền vững 10
1.2.2.7. Quản lý hành chính đô thị 10
1.2.2.8. Tài chính đô thị 10

3.1.3.1. Quy mô các khu đô thị mới 49
3.1.3.2. Tình trạng vi phạm quy hoạch và các tiêu chuẩn xây dựng 51
3.1.3.3. Tình trạng thiếu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội 52
3.1.4. Đánh giá chung về thực trạng phát triển khu đô thị mới trên địa bàn
Hà Nội 56
3.1.5. Những vấn đề đặt ra cần tháo gỡ, cần giải quyết trong thời gian tới 56
CHƯƠNG IV: ĐIỀU TRA MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC ĐÔ
THỊ MỚI TẠI HÀ NỘI 57

4.1. Giới thiệu về cuộc điều tra đánh giá mức độ phát triển bền vững các đô
thị mới tại Hà Nội 57
4.1.1. Mục đích 57
4.1.2.Đối tượng 57
4.1.3. Thời gian 57
4.1.4. Đại điểm và quy mô 57
4.2. Thực tế sau khi điều tra, phỏng vấn người dân tại các khu đô thị mới 58
4.2.1. Vấn đề môi trường 58
4.2.1.1. Chất lượng không khí 58
4.2.1.2. Mức độ tiếng ồn 59
4.3. 1.3. Rác thải 60
4.3. 1.4. Cấp thoát nước 61
4.1. 1.5. Giao thông 63
4.1.1.6. Mức độ che phủ và diện tích m2 đất/người 65
4.2.2. Xã hội 66
4.2.2.1. Giáo dục 66
4.2.2.2. Y tế 68
3.2. 2.3. Dịch vụ 69
3.2.2.4. Quản lý 70
3.2.3. Kinh tế 71
3.2.4. Các mặt khác 73

Bảng 4.8: Kết quả về cấp thoát nước. 62
Bảng 4.9: Biểu đồ đánh giá cấp thoát nước 62
Bảng 4.10: Kết quả về giao thông 63
Bảng 4.11: Biểu đồ đánh tình trạng giao thông 64
Bảng 4.12: Kết quả về mức độ lấp đầy đô thị 65
Bảng 4.13:Biểu đồ mức độ che phủ 65
Bảng 4.14: Kết quả về diện tích căn hộ 66
Bảng 4.15:Biểu đồ diện tích căn hộ 66
Bảng 4.16: Kết quả về giáo dục 67
Bảng 4.17: Biểu đồ về giáo dục đào tạo 67
Bảng 4.18: Kết quả về y tế 68
Bảng 4.19:Biểu đồ số lượng cơ sở y tế 68
Bảng 4.20: Kết quả về dịch vụ 69
Bảng 4.21:Biểu đồ dịch vụ 70

Bảng 4.22: Kết quả về mức độ quan trọng cho việc đầu tư, cải tạo 71
Bảng 4.23: Kết quả về kinh tế 72
Bảng 4.24:Biểu đồ đánh giá về giá đất 72
Bảng 4.25: Các vần đề khác 73
Bảng 4.26:Biểu đồ sức lan tỏa của đô thị 73

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HDI

Chỉ số phát triển con người
KT
-
XH


nhanh chóng. Năm 1990, tỷ lệ đô thị hoá mới đạt khoảng 17-18%, đến năm 2000,
con số này đã là 23,6% và hiện nay đạt 28%. Dự báo, năm 2020, tỷ lệ đô thị hoá của
Việt Nam sẽ đạt khoảng 45%. Trong xu thế đó, cùng với thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội là một trong hai thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất. Ước tính đến năm
2011, tỷ lệ đô thị hóa đạt ở Hà Nội là 35 - 40% và nhảy vọt thành 55 - 65% vào năm
2020. Song song với quá trình này là sự gia tăng dân số tại thủ đô. Năm 1990, Hà
Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm 2000 lên được 2,67 triệu thì đến năm 2009 đã
đạt tới con số 6,5 triệu dân. Như vậy trong vòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên
khoảng 4 triệu người, tạo sức ép lớn cho thành phố về vấn đề nhà ở cũng như các
tiện ích xã hội phục vụ dân cư.
Để đáp ứng tốc độ đô thị hóa, đồng thời giải quyết bài toán nhà ở cho dân cư,
một trong các giải pháp được thành phố Hà Nội đưa ra là xây dựng các khu đô thị
mới. Tính đến giữa năm 2010, trên địa bàn thành phố có khoảng hơn 200 dự án đô
thị mới, với tổng diện tích khoảng 30.000 ha, và đang có xu hướng tăng mạnh trong
tương lai.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong các khu đô thị
mới này. Đó là tình trạng hệ thống hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, mật độ xây dựng quá
dày, thiếu các tiện ích xã hội như siêu thị, trung tâm chăm sóc sức khỏe,công viên,
trường học, hệ thống giao thông công cộng; ô nhiễm môi trường nước, không khí, thu
gom và xử lý rác thải và nhiều vấn đề khác liên quan đến công tác quản lý.
Xuất phát từ thực tế phát triển các đô thị hiện nay, còn rất nhiều vần đề bất
cập như đã nêu. Chỉ có con đường duy nhất để cải thiện tình trạng trên là phát triển
bền vững các đô thị (PTĐTBV). Phát triển đô thị bền vững là mục tiêu mà các quốc
gia đang hướng tới trong đó có Việt Nam. Hà Nội, là trung tâm văn hóa, chính trị
của cả nước thì quá trình phát triển bền vững các đô thị là một tất yếu khách quan.
Để các đô thị thực sự phát triển bền vững, cần có những nghiên cứu, đánh giá
hiện trạng phát triển, từ đó tìm ra các vấn đề còn bất cập để có hướng phát triển
trong tương lai. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển bền vững các đô thị để
từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp phát triển các khu đô thị mới trên địa bàn Hà
Nội là hết sức cần thiết.Với mong muốn đóng góp vào việc giải quyết một vần đề

được nhóm tiến hành xử lý, phân tích bằng phần mềm excel
* Nguồn số liệu: nhóm nghiên cứu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp và sơ cấp.
+ Các số liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo của các Bộ, Viện, phòng ban, các
cuộc hội nghị hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học của các tổ chức cá nhân
trong và ngoài nước;
+ Các số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát tai các khu đô thị 3

6. Kết cấu, nội dung của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm các
chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững đô thị
Chương II: Kinh nghiệm phát triển bền vững đô thị và đánh giá phát triển bền
vững các đô thị trên thế giới
Chương III: Thực trạng phát triển và tính bền vững trong phát triển các đô thị
mới tại Hà Nội
Chương IV: Điều tra mức độ phát triển bền vũng các đô thị mới tại Hà Nội

Chương V: Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh việc phát triên các
khu đô thị mới của Hà
chỉ tiêu chủ yểu về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và nhất là hướng tới tương
lai.
1.1.2. Phát triển đô thị bền vững (PTĐTBV)
Cho đến này,chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đô thị.
Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất về
phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiên
cứu.Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sẽ có
những quan điểm khác nhau. Các quan điểm về phát triển đô thị bền vững được
trình bày rất đa dạng.
Quan điểm của thế giới
-Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21 (tổ
chức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đô thị bền
vững: 5

"Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành
phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại
gánh nặng cho các thế hệ tương lai,một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn
vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn. Mục tiêu của chúng ta là nguyên tắc dòng
chảy, dựa trên cân bằng về vật liệu và năng lượng cũng như đầu vào/ra về tài
chính, phải đóng vai trò then chốt trong tất cả các quyết định tương lai về phát triển
các khu vực đô thị"
Phát triển đô thị bền vững trên thực tế được định nghĩa chi tiết hơn tùy theo
từng khu vực địa lý, trình độ phát triển và góc nhìn.
Phát triển đô thị bền vững cũng được xem xét dưới một thuật ngữ khác, đó là
“phát triển cộng đồng bền vững” theo đó:
"Phát triển cộng đồng bền vững là năng lực đưa ra quyết định phát triển tôn
trọng mối tương quan giữa ba khía cạnh – kinh tế, sinh thái, và bình đẳng:

ra bởi các chính sách kế hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có và thực hiện
tái sử dụng, ổn định xã hội, phát triên các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát
triển kinh tế cho các thế hệ tương lai".
Quan điểm của Việt Nam về phát triển đô thị bền vững:
- Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị-Nông Thôn-Bộ Xây Dựng (Dự án VIE),trên
cơ sở các khái niệm về PTBV, một phạm trù PTĐTBV đô thị cũng được xây dựng
mang tính đặc thù hơn.Nhìn chung PTBV đô thị tập trung giải quyết các vần đề
sau:
* Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc
biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị.
* Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống
dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội.
* Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ
ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị.
Như vậy PTĐTBV luôn đồng hành với PTBV nói chung.Đương nhiên,theo
ý nghĩa này, PTĐTBV không bó hẹp theo quan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy
hoạch mà cần mở rộng hơn nhiều lĩnh vực. Phát triển đô thị cần được lồng ghép và
tiếp cận theo cách nhìn nhận mà các tổ chức Quốc tế đã đồng thuận đề ra đó là:
 Là nơi ở cho tất cả mọi người, khái niệm này ý chỉ việc cải thiện nơi ở thông
qua việc thực hiện chính sách nhà ở quốc gia. Hình thành thị trường nhà ở với
những chức năng đầy đủ và thích hợp. Huy động sự tham gia của cộng đồng. Cải
thiện và đảm bảo tính pháp lý và an toàn về quyền sử dụng đất. Cải thiện việc huy
động tài chính nhà ở. Và cung cấp đầy đủ cở sở hạ tầng dịch vụ cơ bản.
 Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèo
bất động sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giải quyết
được 3 tiều chí quan trọng này. Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về 7


nước. Do đó có thể hiểu một cách đơn giản PTĐTBV là một cách sửa chữa những
thiếu sót của quá trình đô thị hóa, trên cơ sở xem xét lại toàn bộ cách thức quy 8

hoạch xây dựng đô thị hiện nay và tìm ra một xu thế phát triển mới trường tồn trong
tương lai.
1.2. Nguyên tắc, tiêu chí đánh giá PTĐTBV
Mặc dù, mỗi quốc gia, mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau về PTĐTBV,
nhưng tựu chung lại PTĐTBV phải đảm bảo các yêu cầu chung nhất.
1. 2.1. Nguyên tắc phát triển đô thị bền vững
Nguyên lý mang tính quy luật của phát triển đô thị bền vững, đó là sự kết hợp
tối ưu giữa các quy luật vận động của tự nhiên và các quy luật vận động kinh tế- xã
hội của đô thị, nhằm xây dựng nên một môi trường nhân tạo (kỹ thuật), đảm bảo
mối quan hệ hài hòa về: Kinh tế, xã hội và môi trường trong đô thị, vùng lãnh thổ
đô thị và ngoài vùng lãnh thổ đô thị theo những giai đoạn phát triển nhất định. Điều
đó có nghĩa là: đô thị sẽ có những biến đổi về chất và lượng (quy mô) theo không
gian và thời gian
Nguyên tắc bao trùm của phát triển bền vững là: thỏa mãn các nhu cầu phát
triển của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu phát triển của thế hệ
tương lai
Cụ thể, phát triển bền vững đô thị có các nguyên tắc cơ bản sau:
* Xu hướng phát triển của đô thị không làm thế hệ tương lai phải trả giá, bởi
sự yếu kém về: Chiến lược phát triển, quy hoạch và quản lý đô thị, nợ nần, suy thoái
môi trường, cũng như các hậu quả xấu khác của thế hệ hiện tại để lại
* Đô thị phát triển cần bằng giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Nói
một cách khác, nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển, đó là sự thay thế liên
tục từ trạng thái cân bằng này đến trạng thái cân bằng khác
* Một đô thị chỉ phát triển bền vững trong mối quan hệ bền vững với vùng

cho đô thị (hấp dẫn mang cả ý nghĩa tạo vẻ đẹp cho đô thị và tạo sự hấp dẫn cho các
nhà phát triển)
Đảm bảo đánh giá tác động môi trường cho các dự án quy hoạch cải tạo và
quy hoạch PTĐT; đề xuất được các dự báo PTĐT ngắn và dài hạn đúng và đủ đối
với điều kiện KT-XH-MT của địa phương.
1.2.2.4. Cung cấp đầy đủ các dịch vụ hạ tầng
Hạ tầng kỹ thuật đô thị cần được quan tâm xây dựng và quản lý đồng bộ các
mặt như: Chuẩn bị kỹ thuật đô thị; Hệ thống giao thông đô thị; Hệ thống cấp nước
và thoát nước đô thị; Hệ thống cấp năng lượng điện, chất đốt đô thị và chiếu sáng đô
thị; Hệ thống quản lý tài chế chất thải rắn, nước thải, vệ sinh môi trường đô thị; Hệ
thống quản lý nghĩa trang và các chất phát thải.
Việc xây dựng và cung cấp các dịch vụ này phải được thực hiện trên quan
điểm tiết kiệm, chống hao mòn thất thoát, chống gây ô nhiễm môi trường và phải
triệt để tuân thủ theo QHXDĐTBV đã được duyệt. 10

1.2.2.5. Xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên
Môi trường đô thị cần quan tâm xử lý môi trường ô nhiễm (gồm phòng chống
ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm chất thải rắn, ô nhiễm công nghiệp, ô
nhiễm tiếng ồn, điện tử, hóa chất độc hại và các chất phóng xạ)
Cải thiện môi trường sinh thái đô thị (gồm xây dựng các tuyền vành đai xanh
đô thị, tăng cường bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, tăng cường quản lý
nguồn nguyên liệu sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng)
Tạo dựng môi trường cảnh quan, môi trường văn hóa, xã hội phù hợp với sinh
thái địa phương và thể hiện rõ tất cả các giá trị vật chất và tinh thần của đô thị.
1.2.2.6. Xã hội hóa công tác quy hoạch và PTĐT và ĐT hóa bền vững
Xã hội hóa công tác PTĐT trên cơ sở quan tâm nâng cao sự hiểu biết của
chính quyền địa phương và cộng đồng về công tác PTĐT và ĐT hóa bền vững,

- Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị;
- Khuyến khích tiết kiệm nước;
- Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;
- Tái sinh vật liệu phế thải.
1.3.2. Các nhà ngân hàng
Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính. Theo họ, phát triển đô thị
bền vững có 4 tiêu chí:
- Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;
- Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;
- Nền tài chính lành mạnh (nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực);
- Quản lý đô thị tốt.
1.3.3. Các nhà quản lý
Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:
- Lấy chỉ tiêu HDI để đánh giá đô thị chứ không dựa vào quy mô dân số, kinh
tế hay xây dựng như trước đây;
- Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị;
- Sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý.
1.4. Thực tiễn về phát triển đô thị bền vững
1.4.1. Tình hình phát triển tại các đô thị trên thế giới
Phát triển đô thị bền vững đã có hơn 30 năm trước. Tuy nhiên mức độ phát
triển đô thị bền vững phụ thuộc vào tỷ lệ đô thị hóa của từng quốc gia. Đối với các
nước phát triển công nghiệp hóa cao như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật… tỷ lệ dân
tập trung tại các đô thị trên 70% thì xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật PTĐTBV đã
đạt được mức độ cao và từng bước đáp ứng được các yêu cầu về PTĐTBV.
Như chúng ta đã thấy đô thị phản ánh cả hai mặt tốt và xấu. Cái được hay không
được là ở chỗ nó sẽ trở nên tốt hay xấu. Thực tế cho thấy sự phát triển tốt hay xấu
có ảnh hưởng rất nhiều đến người dân đô thị. Ngày nay, hiện đại hoá ngày càng 12
13

đầu tư bảo vệ sinh thái môi trường và tích cực giúp đỡ chương trình xoá đói giảm
nghèo cùng lúc đó đầu tư cho văn hoá với các dự án bảo tồn di sản.
Sau 1995, UNESCO bắt đầu dành những ngân quỹ lớn hơn cho các đề tài
nghiên cứu về văn hoá - môi trường và PTBV. Hiệu quả bước đầu thể hiện qua việc
tái thiết lập lại các chính sách văn hoá đồng thời xúc tiến xem xét lại sự tồn tại của
các nền văn hoá trên toàn thế giới. Tại các hội nghị thượng đỉnh văn hoá được xem
như là mục tiêu hướng tới phát triển, với hy vọng mang lại sự thịnh vượng cho mọi
người ở tất cả mọi nơi trên trái đất. Văn hoá sáng tạo và biểu lộ sự trưởng thành của
các dân tộc vì vậy việc giữ gìn và củng cố “tính đa dạng văn hoá” là chiến lược
mang tính toàn cầu. (UNESCO,1998 )
Xung quanh chủ đề PTBV vẫn còn khá nhiều tranh cãi, Munn (1992) cho rằng
PTBV là (1) Qua trình tiến hoá nhưng giữ vững được nhịp độ (2) Một số sự cơi nới
được chấp nhận và đáng mong chờ (3) Cải thiện chất lượng cuộc sống. Còn Giles
Clarke (1994) thì cho rằng PTBV cho bất cứ đô thị nào trên thế giới phải tính đến:
(1) Hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng nguồn lực phát triển mà vẫn duy trì được
tiềm lực tự nhiên theo hoặc trên mức độ hiện tại của các của các đô thị (2) Bình
đẳng xã hội trong việc phân phối của sự phát triển giữa chi phí và lợi ích (3) Tránh
những thế chấp không cần thiết cho sự lựa chọn trong tương lai; Dovers (1996)
nhấn mạnh vào mục tiêu chung của xã hội coi trọng đạo đức và tính công bằng giữa
các thế hệ, coi trọng các chính sách và kế hoạch thực hiện cụ thể của chính phủ.
Hiện nay LHQ cùng các các tổ chức quốc tế đang dốc toàn lực nhằm hỗ trợ các
quốc gia xây dựng các tiêu chí PTBV cho riêng họ.
1.5. Thực tiễn phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam
Công cuộc đổi mới đất nước trong gần 20 năm qua chứng kiến nhiều thành tựu
vĩ đại của dân tộc ta, trong đó có sự nghiệp đô thị hóa. Từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trong nhiều năm dài, chúng ta đã dành được độc

là sự tác động của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn đầu đã để lại những mâu
thuẫn khá gay gắt ở các điểm sau:
* Cơ sở kinh tế-kỹ thuật hoặc động lực phát triển đô thị cò yếu, tăng trưởng
kinh tế chưa cân đối vơi tăng trưởng dân số. Điều này được phản ánh qua tốc độ
tăng trưởng kinh tế đô thị trung bình hàng năm của đô thị tuy đạt 13-15 %, mỗi năm
giải quyết được việc làm cho trên dưới 1 triệu lao động, nhưng hai ngành dịch vụ và
công ngiệp - những động lực phát triển đô thị quan trọng nhất mới chỉ thu hút được
27,7% tổng số lao động xã hội.Trên thực tế tỷ lệ dân số trong đô tuổi lao động chưa
có việc làm tại các đô thị vẫn còn cao, nhất là các đô thị lớn chiếm khoảng 15-20%.
Số người sống lang thang, cơ nhỡ, vô gia cư; các khu định cư bất hợp pháp, kém
chất lượng đang là một trong những vần đề xã hội và môi trường bức xúc, cũng
phần lớn xảy ra ở các đô thị lớn.
* Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây
dựng đô thị đang tiềm ẩn mối nguy cơ không nhỏ đối với vần đề an toàn lương thực
và thực phẩm. Thực tế hiện nay cho thấy, trên 70% đô thị và dân số đô thị được
phấn bố tại các vùng đồng bằng, ven biển, nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông 15

nghiệp cả nước, trong đó phân lớn là đất tốt cho năng suất sản phẩm cây lương thực
cao. Nếu giữ nguyên tình trạng phân bố dân cư như hiện nay thì quỹ đất nông
nghiệp sẽ giảm đi trung bình mỗi năm khoảng 3.800 ha. Một con số báo động cho
vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm.
* Cơ cấu tổ chức không gian hệ thống phân bố dân cư trên địa bàn cả nước
mất cân đối, đang tạo ra sự cách biệt giữa đô thị-nông thôn, giữa phát triển-kém
phát triển còn lớn và đang có xu thế diễn biến ngày một xấu hơn. Thực tế cho thấy
hình thức phân bố dân cư đô thi-nông thôn ở nước ta trước đây có mối quan hệ
tương đôi gắn bó giờ đây đang trở nên cách biệt hơn về kinh tế, xã hôi, văn hóa,
dịch vụ và nghỉ ngơi giải trí. Tình trạng này đang duy trì một tỷ lệ cách biệt lớn giữa

đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thi tương xứng với điều kiện công nghiệp hóa-
hiện đại hóa. Một số nét nổi bật về vần đề này cho thấy :
+ Về hạ tầng xã hội, sự hạn chế rõ rệt là diện tích nhà đô thị mới đạt bình
quân 5,8m2 người. Những tình trạng bất bình đẳng về nhu cầu ở còn chênh lệch cao
làm cho một bộ phận dân cư vẫn phải sống trong điều kiện hết sức khó khăn. Nhìn
chung cơ sở hạ tầng xã hội công cộng và kỹ thuật ở các khu đô thị vẫn còn rất thiếu
đồng bộ, nhiều nơi bị xuống câp nghiêm trọng đã tác động tiêu cực không ít đến
chất lượng môi trường ở đô thị.
+ Về hạ tầng kỹ thuật tuy đã có nhiều cố gắng trong đầu tư xây dựng, nhưng
mọi hoạt động vận hành vẫn còn xa mới đáp ứng yêu cầu cuộc sống. Hoạt động giao
thông vẫn chưa thuận lợi trong lưu thông giữa đô thị với các vùng lân cận, với nông
thôn ; chưa thỏa mãn được việc liên kết giữa ba môi trường làm việc, sinh hoạt và
nghỉ ngơi giải trí. Tại các đô thị lớn giao thông công cộng còn chiếm tỷ lệ rất thấp
đã dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông phổ biến. Nhìn chung tỷ lệ đất dành cho
giao thông, nhất là giao thông tĩnh chỉ đạt dưới 5% diện tích đất đô thị.Cấp nước
mới chỉ đảm bảo cho khoảng 47% dân cư đô thị, trong khi tỷ lệ thất thoát nước có
nơi lên tới 45%. Kế hoạch khai thác toàn diện nguồn nước cho phát triển công
nghiệp, sinh hoạt đô thị chưa đặt ra hợp lý. Trong khi đó mạng lưới thoát nước và
vệ sinh đô thị giải quyết chưa tốt và không triệt để cho từng khu vực đã dẫn đến nạn
ngập úng, ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng, nhất là ở các thành phố lớn.Công
tác phân loại thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn cúng đang là một vần đề
bức xúc vì hiện nay mới có khoảng 50% chất thải rắn được thu gom và xử ly tại các
thành phố lớn.Khu vức các thi xã, thị trấn thì hâu như chưa được xem xét để có giải
pháp khắc phục.
* Những vấn đề thời sự có tầm vĩ mô trong mối quan hệ vùng, đô thi với công
tác bảo vệ môi trường đang là mối quan tâm lớn đối với sự phát triển bền vững của
cả nước. Đó là việc tài nguyên thiên nhiên sử dụng chưa thật sự hợp lý thiếu kế
hoạch đang làm cho quỹ rừng bị suy giảm rất nghiêm trọng, nhất là đồi với rừng
phòng hộ và rừng đầu nguồn nên khí hậu đang có nhiều biến động với thiên tai
thường xuyên xảy ra và ngày càng đe dọa nghiêm trọng cuộc sống dân cư ở nhiều

phát triển bền vững trong tương lai. Đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong quá
trình hòa nhập của nước ta để cam kết cùng cộng đồng quốc tế thực hiện nghiêm túc
Chương Trình nghị sự 21(Agenda 21) đã đề ra tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về
nông thôn và phát triển ở Rio de Janero (Braxin) năm 1992 và khẳng định lại tại Hội
nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển bển vững ở Johannesburg( C.H Nam Phi)
năm 2002 vừa qua. Tinh thần này đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt thành
Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam về định hướng chiến lược phát triển bền
vững ở Việt Nam theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004.
Như vậy là mục tiêu phát triển của nước ta trong 10-15 năm đều phải song hành giải
quyết 2 nhiệm vụ chiến lược là « Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển,

Trích đoạn Về quy hoạch – kiến trúc đô thị Quản lý đất đai xây dựng đô thị Về giao thông Quản lý nhà ở Phát triển đô thị với sự tham gia của cộng đồng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status