thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch kiên giang đến năm 2020 - Pdf 25


1
PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Kiên Giang phương hướng đến năm
2020, ngành du lịch sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn, có đóng góp quan trọng vào sự
phát triển kinh tế của tỉnh.
Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng du lịch rất lớn, vì tạo hoá đã ban tặng cho
Kiên Giang- vùng đất cuối trời Tây Nam Tổ quốc Việt Nam - nhiều danh lam thắng
cảnh đã được du khách trong và ngoài nước biết đến. Đó là thập cảnh Hà Tiên, đảo
ngọc Phú Quốc, Vườn quốc gia U Minh Thượng…Không những thế Kiên Giang còn
có hơn 20 di tích lịch sử cấp quốc gia và nhiều thánh thất đền đài cổ kính. Đặc biệt là
nơi xuất xứ nhiều truyền thuyết như Tao Đàn Chiêu Anh Các ở Hà Tiên, hai cha con
hoá đá tạo nên Hòn Phụ Tử ở Kiên Lương…những anh hùng dân tộc đi vào huyền
thoại như Nguyễn Trung Trực, đi vào thơ ca như Chị Sứ, được nhà văn Anh Đức viết
trong tiểu thuyết “Hòn Đất”…là điều kiện rất tốt để ngành du lịch phát triển du lịch,
đặt biệt những năm gần đây Chính phủ có chủ trương tập trung đầu tư đảo Phú Quốc
thành trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao của khu vực Đông Nam Á. Mặc
khác, do có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi Kiên Giang có cả đồng bằng, rừng núi
và hải đảo, khí hậu ôn hoà… là những điều kiện thuận lợi cho sự đầu tư các dự án về
du lịch.
Thời gian qua, ngành du lịch tỉnh Kiên Giang đã phát triển bước đầu về thị
trường, sản phẩm du lịch, quảng cáo và xúc tiến để thu hút khách du lịch; tiến hành
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch Nhờ có sự quan tâm đặc biệt của
Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đối với phát triển du lịch, cộng với sự nỗ lực của cán
bộ công nhân viên ngành du lịch, du lịch Kiên Giang đã bước đầu phát triển cả về
quy mô, chất lượng và hiệu quả kinh doanh. Ngành du lịch đã đóng góp đáng kể tài
chính vào nguồn thu ngân sách cho địa phương, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- xã hội; giúp cải thiện cuộc sống cho cộng đồng và đang mang lại diện mạo mới, ấn
tượng mới khang trang, sạch, đẹp cho nhiều khu, tuyến, điểm du lịch; du lịch cũng đã

hóa; giải quyết công ăn việc làm. Đến năm 2020 sẽ đạt 648.000 lượt khách quốc tế
và 4.705.000 lượt khách nội địa. 3.812.000 lượt khách tham quan các khu du lịch; đạt
tổng doanh thu 290,1 triệu USD. Tỉnh Kiên Giang được xây dựng thành 4 cụm du
lịch: Cụm du lịch sinh thái biển, đảo Phú Quốc: là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng,

3
giao thương quốc tế, hiện đại, chất lượng cao trong khu vực và thế giới; Cụm du lịch
Hà Tiên – Kiên Lương: là cụm du lịch biển, đảo danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử
gắn với khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Hà Tiên; Cụm du lịch Rạch Giá – Kiên Hải và
phụ cận: là cụm du lịch sinh thái biển, đảo, di tích lịch sử, lễ hội…Cụm du lịch U
Minh Thượng và phụ cận: là cụm du lịch sinh thái gắn với di tích lịch sử U Minh
Thượng. Nhu cầu vốn đầu tư cho ngành du lịch : Dự báo về nhu cầu đầu tư cho du
lịch đến năm 2015 là khoảng 4.152 tỷ đồng, đến năm 2020 là 10.382 tỷ đồng.
Để đạt được mục tiêu và phương hướng đã đề ra đòi hỏi cần có một nguồn
lực tài chính nhất định, bằng hoặc lớn hơn nhu cầu vốn đầu tư cho ngành du lịch đã
dự báo trên. Thực tế tại tỉnh Kiên giang hiện nay nhu cầu các nguồn lực tài chính
cho đầu tư phát triển kinh tế ngày càng gia tăng, trong khi khả năng đáp ứng nguồn
từ NSNN lại có giới hạn; do vậy, nếu chỉ chú trọng đến nguồn vốn đầu tư từ NSNN
mà không có cơ chế, chính sách, giải pháp để huy động các nguồn lực tài chính khác
từ các khu vực doanh nghiệp, tư nhân, các định chế tài chính trung gian, các nhà đầu
tư nước ngoài thì không thể đáp ứng được vốn cho đầu tư phát triển kinh tế nói
chung và ngành du lịch nói riêng. Để phát triển ngành du lịch Kiên Giang là cấp
thiết, đòi cần giải quyết hàng loạt vấn đề, trong đó vấn đề tìm kiếm các nguồn lực tài
chính để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư nhằm khai thác một cách có hiệu quả tiềm
năng mà thiên nhiên ưu đãi cho tỉnh Kiên Giang là vấn đề quan trọng có tính chiến
lược. Với những lý do trên cùng với sự ham thích và mong muốn đóng góp vào công
tác quy hoạch cho đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Kiên Giang - ngành kinh tế mũi
nhọn - tôi chọn đề tài “Thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch Kiên Giang đến
năm 2020” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu của đề tài

thừa các công trình khoa học đã có về lý thuyết về kinh tế và thực tiễn, để mô tả thực
trạng thu hút các nguồn vốn đầu tư và phương pháp định tính được áp dụng trong việc
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào ngành du lịch Kiên
Giang.
5. Tình hình nghiên cứu:
Hiện nay đã có nhiều tác giả và nhiều công trình khoa học, luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về đầu tư phát triển du lịch ở các tỉnh, thu hút vốn đầu tư để phát triển
kinh tế xã hội của địa phương nói chung, cũng như phát triển du lịch nói riêng;

5
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn, trong đó có một
số công trình khoa học tiêu biểu như:
- Trần Tiến Dũng, "Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng",
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005.
- Ngô Vũ Hải, "Các giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát
triển tỉnh an giang đến năm 2010", Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2006, Trường Đại học
Kinh tế TP HCM.
- Nguyễn Thanh Vĩnh, "Phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2020", Luận
văn Thạc sĩ Kinh tế, 2007, Trường Đại học Kinh tế TP HCM.
- Huỳnh Thanh Trung, "Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch thành phố
Hội An", Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2011, Trường Đại học Đà Nẵng.
- Mai Thị Ánh Tuyết, "Phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020", Luận
văn Thạc sĩ Kinh tế, 2007, Trường Đại học Kinh tế TP HCM.
- Trần Thị Thu Vân" Một số giải pháp huy động vốn đầu tư nhằm phát triển
ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2005- 2010", 2004, Luận
văn thạc sĩ, Trường Đại Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh.
- Hồ Đức Phước , Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du
lịch ở Việt Nam , 2009, Luận văn Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
- Châu Thiên Trúc Quỳnh, "Tìm hiểu hoạt động các Quỹ đầu tư tại Việt Nam –
Thực trạng và giải pháp", Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2006, Trường Đại học Kinh tế

7. Kết cấu luận văn: Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận
văn chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đầu tư và thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch.
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Kiên Giang
giai đoạn 2005-2011.
Chương 3: Những giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư cho phát
triển du lịch tỉnh Kiên Giang đến năm 2020. 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN
ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Đầu tư và vốn đầu tư
1.1.1 Đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Hiện nay có nhiều khái niệm về đầu tư. Tuỳ theo cách tiếp cận và đứng trên
các góc độ nghiên cứu khác nhau mà các nhà kinh tế học trong và ngoài nước đã đưa
ra các khái niệm về đầu tư như sau:
- Các nhà kinh tế học nước ngoài:
+ Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng đầu tư là hoạt động mua sắm tài
sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi
nhuận, ông viết: "Đầu tư, theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc Công ty
mua sắm một tài sản. Đôi khi, thuật ngữ này còn bị giới hạn trong việc mua một tài
sản tại Sở giao dịch chứng khoán". Mặc dù ở đây ông có nói đến đầu tư mua tài sản
tài chính, song chủ yếu tập trung nhấn mạnh đầu tư là việc mua thêm tài sản vật chất
mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) để sản xuất nhằm thu về một khoản lợi
nhuận trong tương lai, ông viết: "Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người

bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng
khác thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước
ngoài
Hai là, đầu tư cần phải xác định trong một khoảng thời gian nhất định (có thể
nhiều năm, tháng ). Tuy nhiên thời gian càng dài thì mức độ rủi ro cũng càng cao
bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có thể xảy ra cũng như các nguyên nhân
chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư.
Ba là, mục đích của đầu tư là sinh lời trên cả 2 mặt: Lợi ích về mặt tài chính -
thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt xã hội -
thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng
đồng.
Đồng thời qua các khái niệm nầy ta có thể phân biệt một số loại đầu tư :
Thứ nhất là đầu tư tài chính: là loại đầu tư, trong đó người ta có tiền bỏ tiền ra
cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳ
thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty phát hành.

9
Thứ hai là đầu tư thương mại: là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra
để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá
khi bán.
Thứ ba là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: Người có tiền bỏ tiền ra để
tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng
năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để
tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân. Trong đầu tư tài sản vật chất, có đầu
tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, ngân
hàng… tạo nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Đó là đầu tư kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội. Hay có thể nói đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội bỏ một lượng tiền vào việc tạo mối hay tăng cường cơ sở vật chất, các điều kiện
kỹ thuật, phương tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển.
1.1.1.2. Phân loại đầu tư ở Việt Nam:

dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận
tải, thông tin , điện, nước…); Cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, cơ sở văn
hóa, thể thao…). Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam , cơ sở hạ tầng còn
yếu kém và mất cân đối nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng cần được đầu tư phát triển, đi
trước một bước, tạo tiền đề để phát triển các lĩnh vực kinh tế khác.
+ Đầu tư phát triển công nghiệp: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng các công trình công nghiệp. Trong công cuộc phát triển ở Việt Nam hiện nay
theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước đầu tư công nghiệp là chính yếu,
nhằm gia tăng giá trị sản lượng công nghiệp trong GDP.
+ Đầu tư phát triển nông nghiệp: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng các công trình nông nghiệp. Việt Nam từ điểm xuất phát là một nước nông
nghiệp, với lợi thế so sánh trong nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực cho nên
đầu tư phát triển nông nghiệp có ý nghĩa chiến lược, lâu dài nhằm đảm bảo an toàn
lương thực quốc gia và tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp hợp lý trong GDP.
+ Đầu tư phát triển dịch vụ: Là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng
các công trình dịch vụ (thương mại, khách sạn – du lịch, dịch vụ khác…). Trong bối
cảnh quốc tế hóa nền kinh tế ngày càng cao, đầu tư dịch vụ là xu thế phát triển, nhằm
gia tăng tỷ trọng giá trị dịch vụ trong GDP ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.

11
1.1.2 Vốn đầu tư
1.1.2.1. Khái niệm:
Theo nghĩa rộng, vốn bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế khi đưa vào hoạt
động kinh tế - xã hội. Do đó, vốn không những bao gồm tiền vốn, các tài sản hiện vật
như máy móc, vật tư hàng hóa, lao động, đất đai, hầm mỏ, sông, biển… được con
người khai thác và sử dụng; mà vốn còn bao gồm cả giá trị của những tài sản vô hình
như vị trí địa lý, thành tựu khoa học và công nghệ, quyền phát minh sáng chế, trí tuệ
của người lao động…được sử dụng vào quá trình đầu tư cho nền kinh tế. Theo nghĩa
hẹp, vốn là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.

tư một cách tối đa và có hiệu quả, qua các kênh trực tiếp và gián tiếp. Tác động liên
hoàn của 3 khâu này là: đầu tư hiệu quả sẽ nâng tích lũy, tăng tiết kiệm, huy động tốt
thì đầu tư tăng lên.
1.1.2.2. Phân loại nguồn vốn đầu tư:
Ở góc độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia
thành 2 nguồn:
- Nguồn vốn đầu tư trong nước: Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh
nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí
thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài. Nguồn vốn trong
nước tích luỹ chủ yếu từ tiết kiệm. Tiết kiệm luôn ảnh hưởng tích cực đối với tăng
trưởng, nhất là ở những nước đang phát triển vì làm tăng vốn đầu tư. Hơn nữa, tiết
kiệm đó là điều kiện cần thiết để hấp thụ vốn nước ngoài có hiệu quả, đồng thời giảm
được sức ép về phía ngân hàng Trung ương trong việc hàng năm phải cung ứng thêm
tiền để tiêu hóa ngoại tệ. Tiết kiệm trong nước được hình thành từ các khu vực sau:
- Tiết kiệm của NSNN chính là chênh lệch giữa tổng các khoản thu mang tính
không hoàn lại (chủ yếu là các khoản thu thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách.
Tổng thu ngân sách sau khi chi cho các khoản chi thường xuyên, còn lại hình thành

13
nguồn vốn đầu tư phát triển. Nguồn vốn này phụ thuộc vào khả năng tập trung thu
nhập quốc dân vào ngân sách và quy mô chi tiêu dùng của nhà nước.
- Tiết kiệm của các doanh nghiệp là một nguồn hình thành vốn đầu tư trong
nước. Tiết kiệm của các DNNN cũng như tiết kiệm của các doanh nghiệp tư nhân
(gọi chung là tiết kiệm của công ty) được hình thành từ lợi nhuận đạt được trong kinh
doanh để lại cho doanh nghiệp để đầu tư (không chia) và quỹ khấu hao tài sản cố định
của công ty. Tiết kiệm của công ty là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư nhằm
mở rộng quy mô kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ và nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế .
- Tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức đoàn thể xã hội (sau đây gọi tắt là
khu vực dân cư): Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng

nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển. Các tài trợ
chính thức gồm: khoản viện trợ không hoàn lại ( thường chiếm khoản 25% tổng vốn
ODA) và tín dụng ưu đãi của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho chính phủ và
nhân dân nhận viện trợ.
ODA được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau: Tín dụng thương mại
với các điều kiện mềm như lãi suất thấp, thời hạn trả nợ và thời gian ân hạn dài. Hỗ
trợ dự án đây chính là hình thức chủ yếu của ODA. Nó có thể liên quan tới hỗ trợ cơ
bản hay hỗ trợ kỹ thuật, hoặc cả hai. Hỗ trợ cơ bản được sử dụng chủ yếu về xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Hỗ trợ kỹ thuật tập trung chủ yếu là chuyển giao tri
thức: chuyển giao công nghệ, đào tạo…
ODA có vai trò to lớn đối với quốc gia tiếp nhận: một là bổ sung cho nguồn
vốn trong nước để phát triển kinh tế, hai là tiếp cận nhanh chóng với các thành tựu
khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, ba là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội,
bốn là đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Nhưng các nước tiếp nhận viện trợ thường
xuyên phải đối mặt những thử thách rất lớn là gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai,
chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi
còn gắn cả những điều kiện về chính trị.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FOREIGN DIRECT INVESTMENT - FDI):
Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước khác để đầu
tư trực tiếp. FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến
của nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát

15
triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so sánh. Các
hình thức chủ yếu của FDI ở nước ta là: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh, ngoài ra còn có các hình thức
BOT, BTO, BT…
Nguồn vốn FDI có lợi lớn nhất là không chỉ đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước
sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả
năng tiếp cận thị trường thế giới… Nhưng nó có mặt trái của nó là nước sở tại

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có
liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định”.
1.2.1.2. Phân loại du lịch : Các loại hình du lịch có thể phân chia như sau:
+Du lịch thưởng ngoạn: là hình thức du khách đến một nơi để thưởng ngoạn
phong cảnh thiên nhiên, các di tích văn hoá và các hoạt động vui chơi…nhằm đạt
được sự hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi. Đây là hình thức du lịch chủ yếu
nhất hiện nay.
+Du lịch thương mại: là hình thức du khách là Thương nhân đến một nơi để
để tìm hiểu thị trường, đàm phán mậu dịch, kết giao các hợp đồng kinh doanh…
trong đó có ăn ở khách sạn, mời tiệc, xã giao, du ngoạn.
+Du lịch thăm viếng người thân: là hình thức du khách tìm cội nguồn, thăm
viếng bà con, dòng họ, kết hợp với du ngoạn.
+Du lịch văn hóa : là hình thức du khách (phần lớn là những người có học)
đến một nơi để tìm hiểu văn vật cổ tích, văn hóa nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa
học kỹ thuật giáo dục với mục đích khảo sát văn hóa và giao lưu văn hóa.
+Du lịch hội nghị: là hình thức du khách (phần lớn là những nhà chính trị,
doanh nhân) đến một nơi để dự hội nghị, kết hợp với du ngoạn. Đặc điểm của loại du
lịch này là thời gian lưu lại dài, khả năng mua sắm mạnh.
+Du lịch tôn giáo: là hình thức du khách (phần lớn là những tín đồ) đến một
nơi để cúng bái hoặc thực hiện một số nghi thức tôn giáo.
Việc phân loại du lịch trên có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giúp cho ta khai thác
lợi thế, tiềm năng du lịch, xác định được thế mạnh của cơ sở kinh doanh du lịch, từ

17
đó có thể xác định được cơ cấu khách hàng, mục tiêu của điểm du lịch, tạo điều kiện
đưa hoạt động ngành du lịch ngày càng phát triển tốt nhất.
1.2.2 Thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch
1.2.2.1 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch

Chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp; G: Chi tiêu của chính phủ; XM: xuất khẩu ròng.
Từ công thức
(1.1)
ta thấy đầu tư (I) và GDP tỷ lệ thuận với nhau, nếu tăng I
thì sẽ dẫn đến tăng GDP. Nếu phân tích sâu hơn ta thấy đầu tư (I) có hai vai trò quan
trọng trong tăng trưởng kinh tế của một quốc gia: Thứ nhất, đầu tư là một khoản lớn,
những thay đổi lớn trong đầu tư có ảnh hưởng nhiều đến tổng cầu, đến lượt mình tổng
cầu lại tác động tới sản lượng, công ăn việc làm và kèm theo là sự biến động của giá
cả. Thứ hai, đầu tư tạo ra tích lũy vốn. Đầu tư làm tăng lên quỹ nhà xưởng và máy
móc thiết bị, thúc đẩy sản lượng tiềm năng của quốc gia và kích thích tăng trưởng
trong dài hạn. Vì vậy, đầu tư đóng vai trò kép, đó là tác động tới sản lượng trong
ngắn hạn thông qua ảnh hưởng của nó tới tổng cầu và tác động tới tăng trưởng trong
dài hạn thông qua việc hình thành vốn đối với sản lượng tiềm năng và tổng cung.
Chi tiêu của hộ gia đình du khách (C) đối với các sản phẩm, dịch vụ du lịch;
Chi tiêu của Chính Phủ (G) và Chi tiêu của doanh nghiệp (I) để xây dựng khách sạn,
nhà hàng, khu vui chơi, nhà máy điện, các cơ sở hạ tầng giao thông-viễn thông, các
trang thiết bị sẽ làm tăng GDP.
+Mô hình Harrod – Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư của nền kinh tế có ảnh
hưởng trực tiếp với tốc độ tăng trưởng:

(1.2)
Từ công thức (1.2) ta thấy giữa vốn đầu tư và mức tăng trưởng tỷ lệ thuận với
nhau, nếu tăng vốn đầu tư thì sẽ dẫn đến tăng GDP. Như vậy thu hút đầu tư sẽ làm
cho lượng vốn đầu tư tăng lên, và do đó sản lượng đầu ra cũng tăng lên sẽ góp phần
thúc đẩy phát triển ngành du lịch nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung.
Ở đây ta thấy nó phụ thuộc hệ số ICOR (viết tắt của: Incremental Capital
Output Ratio). ICOR xác định mối quan hệ giữa vốn - tư bản và đầu ra – GDP. Nếu
ICOR lớn thì chúng ta phải mất một lượng tư bản lớn để tạo ra một giá trị GDP gia
tăng. Ví dụ ICOR của một nước bằng 5, có nghĩa để tạo ra 1 đồng GDP gia tăng
chúng ta phải đầu tư 5 đồng. ICOR xác định mức độ sử dụng vốn trong nền kinh tế.

Du lịch phát triển làm cho mọi người sử dụng kỹ thuật hiện đại ngày nhiều
hơn, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông. Điều nầy cũng dễ hiểu, vì xuất
phát từ nhu cầu của du khách và nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. Trong thực tế du

20
khách, nhất là du khách từ các nước phát triển, sử dụng dịch vụ viễn thông,
internet…như là một nhu cầu không thể thiếu. Đối với các doanh nghiệp du lịch để
đáp ứng nhu cầu nầy họ phải trang bị những kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng lực
quản lý điều hành kinh doanh, sử dụng công nghệ thông tin một cách hữu hiệu Do
đó, thu hút vốn đầu tư để phát triển ngành du lịch sẽ góp phần tăng cường ứng dụng
khoa học kỹ thuật thông qua các dự án đầu tư được triển khai, thay thế các thiết bị,
công nghệ lạc hậu. Đồng thời sẽ góp phần nâng cao được trình độ quản lý, năng lực
điều hành của một số nhà doanh nghiệp.
1.2.2.1.4 Thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch góp phần tạo công ăn việc
làm cho địa phương và tăng nguồn thu cho NSNN.
Đặc thù của ngành du lịch là ngành dịch vụ nên có hệ số sử dụng lao động
cao, do đó du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Hàng năm vào mùa du
lịch chính, các cơ sở kinh doanh du lịch thường tiếp nhận một số lượng lớn lao động
vào làm hợp đồng trong doanh nghiệp tạo nguồn thu nhập cho họ. Ngoài ra, sự phát
triển của du lịch còn kích thích các ngành khác phát triển, từ đó còn tạo nhiều việc
làm. Về thu NSNN, ngành du lịch đóng góp vào ngân sách quốc gia thông qua thuế
gián thu đánh trên người tiêu dùng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá
nhân. Theo báo cáo của Hội đồng du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) về đóng góp
của ngành du lịch vào nền kinh tế thế giới cho thấy số thuế ( bao gồm VAT, thuế thu
nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) do ngành du lịch đóng góp 1.200 tỉ USD
vào năm 2005 và đã đạt đến 1.765,3 tỉ USD vào năm 2010.
1.2.2.1.5 Thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch góp phần phát triển văn
hoá xã hội:
Thông qua các cuộc tiếp xúc giữa khách du lịch với dân cư của địa phương
giúp con người mở mang những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán,

TS
. Trần Văn
Tín-VHTT & Du lịch TPHCM và một số chuyên gia, khách du lịch Có hơn
15 nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội
nói chung và ngành du lịch nói riêng. Tác giả nghiên cứu và nhận thấy rằng có
10 nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư vào phát
triển ngành du lịch; Các nhân tố này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến
các dòng vốn đầu tư, ảnh hưởng của các nhân tố này được thể hiện như sau
:
- Nhân tố thứ nhất:
Lợi thế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch
của địa phương:
Sự phát triển của ngành du lịch gắn liền với việc khai thác sử dụng các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, các di tích lịch sử và nhân văn, do đó tài nguyên thiên nhiên
như núi, rừng, biển, đảo, sông ngòi, ghềnh thác, ao hồ, cảnh quan thiên nhiên, di tích
lịch sử, con người… là những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu hút đầu tư
vào ngành du lịch. Những địa phương có nhiều điều kiện về tài nguyên du lịch thì sẽ
có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch. Tài nguyên du

22
lịch là tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ của khách du lịch được ngành du
lịch vận dụng để tạo ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du
lịch. Tài nguyên du lịch được phân làm 3 loại:
+ Tài nguyên thiên nhiên du lịch là những tài nguyên mà thiên nhiên đã ban
tặng để con người tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi điều dưỡng, du
ngoạn tham quan và khảo sát khoa học bao gồm sông núi nổi tiếng, biển đảo mênh
mông, suối thác kỳ vĩ, hoa thơm cỏ lạ…
+ Tài nguyên du lịch nhân văn là những của cải vật chất và của cải tinh thần
do con người sáng tạo ra từ xưa cho đến nay, có thể thu hút mọi người tiến hành du
lịch như các truyền thuyết, huyền thoại, di tích lịch sử, kiến trúc cổ điển, di tích văn

tư vào những nơi mà Chính phủ muốn khuyến khích đầu tư. Trong đó, những ưu đãi
về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính dành cho đầu
tư. Chính sách thương mại được thông thoáng theo hướng tự do hóa sẽ bảo đảm khả
năng xuất – nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản phẩm,
tức là bảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước. Sự hỗ trợ tín dụng cùng với các dịch vụ tài chính,
bảo lãnh của Chính phủ, của các cơ quan tín dụng xuất khẩu và của các tổ chức tài
chính đa phương như WB, ADB…sẽ đóng vai trò to lớn làm tăng dòng vốn đầu tư,
nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước. Khi có sách ưu đãi đầu tư dẫn
đến các rủi ro giảm xuống, tỷ lệ lợi nhuận tăng lên, các luồng vốn đầu tư sẽ đổ vào
nhiều và ổn định, ngay cả khi tốc độ tăng trưởng chung của nơi đó chưa cao.
Lực cản lớn làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm ra, phiền
phức gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư. Bộ máy hành chính
hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn của toàn bộ
quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi
địa phương. Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy bén. Đối với
những thủ tục hành chính, những quy định pháp luật cần phải được đơn giản, công
khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao,
được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp luật.
- Nhân tố thứ tư
: Công tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch, xúc
tiến đầu tư du lịch, Công tác tổ chức, quản lý Nhà nước về du lịch:

24
Khi đã có các chính sách thu hút đầu tư, ưu đãi đầu tư, công việc quan trọng
gắn liền với nó mà Lãnh đạo một địa phương cần thực hiện quyết liệt ngay là phải
tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch, xúc tiến đầu tư để các doanh nghiệp trong
và ngoài nước biết và đến tham quan tìm hiểu, qua đó họ mới tiến hành đầu tư.
Các hình thức truyền quảng bá và xúc tiến du lịch, xúc tiến đầu tư là tổ chức
cho các doanh nghiệp tham gia hội nghị, hội chợ triển lãm du lịch của tỉnh nhà…

cận được những nguồn vốn lớn phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình bằng việc phát
hành chứng khoán, trái phiếu …
Sự phát triển của ngân hàng đóng vai trò quan trọng việc thu hút vốn đầu tư, vì
thông qua ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng, nhà đầu tư cũng như du khách trực tiếp
sử dụng các dịch vụ của các ngành này để thanh toán, dịch vụ đổi tiền
- Nhân tố thứ bảy
: Sự phát triển của đội ngũ lao động, trình độ quản lý,
trình độ lao động trong ngành du lịch:
Đội ngũ nhân lực có tay nghề cao là điều kiện rất quan trọng để một nước và
địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp
dẫn các nhà đầu tư. Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà quản lý cao
cấp, các nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ khoa học – công nghệ sẽ
khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư để triển khai các dự án của họ,
làm chậm và thu hẹp lại dòng vốn đầu tư chảy vào một lãnh thổ và địa phương.
Một hệ thống doanh nghiệp trong lãnh thổ và địa phương phát triển, đủ sức
hấp thu công nghệ chuyển giao, và là đối tác ngày càng bình đẳng với các nhà đầu tư
là điều kiện cần thiết để lãnh thổ và địa phương tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được
nhiều hơn và hiệu quả hơn luồng vốn đầu tư.
- Nhân tố thứ tám
: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội và công tác
bảo vệ môi trường :
Quan điểm phát triển của đa số nhà đầu tư ngành du lịch hiện nay là phát triển
bền vững, bảo vệ môi trường tổng thể sạch đẹp, lâu dài. Vì đặc điểm của ngành du
lịch là vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn, thời hạn thu hồi vốn khá dài, nên chỉ bảo vệ
môi trường tốt trong thời gian dài mới có thể thu hút các nhà đầu tư.
Một nhà đầu tư muốn đầu tư vào ngành du lịch của một tỉnh nào đó họ thường
tìm hiểu rất kỹ về hiện trạng về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội có liên quan
đến hoạt động du lịch. Công tác bảo vệ môi trường tự nhiên nếu được duy trì thường
xuyên tại các khu du lịch; vấn đề rác thải, chất thải và khu vực ô nhiễm cục bộ dần
dần nếu được khắc phục sẽ thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status