Nghiên cứu một số biến đổi máu ngoại vi và chuyển hoá sắt trên một số bệnh lý thiếu máu - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀOTẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ðẠI HỌC Y HÀ NỘI
***********
NGUYỄN THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIẾN ðỔI
MÁU NGOẠI VI VÀ CHUYỂN HOÁ SẮT
TRÊN MỘT SỐ BỆNH LÝ THIẾU MÁU Chuyên ngành
: HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU
Mã số
:
06.72.25

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIẾN ðỔI
MÁU NGOẠI VI VÀ CHUYỂN HOÁ SẮT
TRÊN MỘT SỐ BỆNH LÝ THIẾU MÁU

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ N
ỘI - 2009


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. QUÁ TRÌNH SINH HỒNG CẦU Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH BÌNH THƯỜNG
Hồng cầu (HC) có ñời sống trung bình khoảng 120 ngày, mỗi ngày có
khoảng 1/120 số lượng hồng cầu trong toàn bộ cơ thể bị phá huỷ do già cỗi.
ðể bù lại lượng hồng cầu mất ñi này, mỗi ngày tuỷ xương sản xuất ñược
khoảng 33 – 42 x 10
9
tế bào hồng cầu mới. Khi cơ thể có nhu cầu về máu tăng
lên, tuỷ xương có thể tăng sản xuất và cung cấp gấp 7 – 8 lần so với mức ñộ
bình thường. Quá trình sinh hồng cầu là một quá trình liên tục sinh sản và biệt
hoá, quá trình ñòi hỏi phải có ñầy ñủ các yếu tố cần thiết quan trọng ñó là: tế
bào gốc tạo máu, các yếu tố kích thích - ức chế tăng trưởng và biệt hoá, và các
yếu tố vi lượng cần thiết ñể tạo hồng cầu, ñồng thời quá trình này cũng bị ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố nội sinh và ngoại sinh. [2], [3], [14], [47].
1.1.1. Tế bào gốc sinh máu
Chiếm khoảng 1 – 3 % tế bào tuỷ xương [3]. Tế bào gốc có khả năng
sinh sản và biệt hoá thành các loại tế bào máu trưởng thành có chức năng
khác nhau. Tế bào gốc sinh máu bao gồm tế bào gốc sinh máu vạn năng
(Pluripotential stem cells), tế bào gốc sinh máu ña năng (multipotential stem
cells) và tế bào gốc chỉ sinh ra một dòng tế bào và biệt hoá thành tế bào chín
(ví dụ tế bào mẹ của dòng hồng cầu là BFU-E, CFU-E) [2], [3], [14].
1.1.2. Các tế bào biệt hoá dòng hồng cầu
Từ tế bào nguồn ñầu dòng hồng cầu (CFU-E) tạo ra tế bào ñầu dòng
hồng cầu gọi là tiền nguyên hồng cầu (tiền NHC). Tiền NHC tiếp tục sinh sản
và biệt hoá thành các tế bào nguyên hồng cầu ưa base I, nguyên hồng cầu ưa
base II, NHC ña sắc, NHC ưa acid. NHC ưa acid sau khi nhân thoái hoá tạo
thành hồng cầu lưới (HCL). Thời gian biệt hoá từ tế bào nguồn dòng hồng cầu
(BFU-E) trong tuỷ xương thành tế bào trưởng thành ñầu tiên vào dòng tuần

ðể tổng hợp hồng cầu cần các nguyên liệu sau:
 Kim loại: sắt, mangan, cobalt.
 Vitamin: vitamin B12, folate, vitamin C, vitamin E, vitamin B6,
thyroxin, riboflavi, pantothemie acid.
 Amino acid.
 Hormon, cytokin.
 Quá trình tổng hợp hồng cầu chịu ảnh hưởng của các yếu tố ñiều hoà
tổng hợp hồng cầu, bao gồm:
o Yếu tố kích thích: Không ñặc hiệu như yếu tố kích thích ña dòng
IL-3, androgen và ñặc hiệu ñơn dòng: erythropoietin
o Yếu tố ức chế: Yếu tố phát triển chuyển dạng ức chế BFU-E,
subunit ferritin ức chế BFU-E, CFU GEMM [2], [14], [47], [52].
1.1.4. Quá trình tổng hợp huyết sắc tố
Mỗi tế bào hồng cầu trưởng thành chứa khoảng 640 triệu phân tử
hemoglobin, chiếm 33% trọng lượng hồng cầu. Mỗi phân tử hemoglobin có
bốn dưới ñơn vị mà mỗi dưới ñơn vị gồm hai phần hem và globin. Một phân
tử hemoglobin A có trọng lượng 68.000. Hem là một sắc tố chứa sắt hoá trị
(+2), chiếm 4% trọng lượng hemoglobin, có cấu trúc là một vòng porphyrin
5
có 4 nhân pyron liên kết với ion Fe
2+
ở trung tâm [15], [33], [52].
1.1.4.1. Tổng hợp Globin
Globin là một chuỗi polypeptid ñược tổng hợp dựa trên khuôn mẫu gen
globin, có nhiều loại globin thuộc hai nhóm: α globin (α và ξ) có chứa 141
acid amin ñược qui ñịnh bởi 2 gen trên nhiễm sắc thể 16; không α globin (β,
δ, γ, ε) có chứa 146 acid amin do 1 gen trên nhiễm sắc thể 16 qui ñịnh.
Ở người bình thường có sự cân ñối về số lượng chuỗi α globin và
không α globin ñể tạo thành hemoglobin có bốn dưới ñơn vị. Phân tử
hemoglobin có ñặc tính hoà tan rất cao, rất ổn ñịnh trong HC khi lưu hành

trong vòng tuần hoàn với ñời sống trung bình là 120 ngày, HC có thể di
chuyển ñược một chặng ñường dài 300 miles, HC ñi qua những mao mạch rất
nhỏ (ñường kính khoảng 3,5 µm). ðể ñảm bảo chức năng này, HC rất linh
hoạt với cấu trúc ñặc biệt, hình cầu lõm hai mặt, ñường kính 8 µm, với hình
thái này HC ñảm bảo ñược sự cân bằng thẩm thấu mặc dù nồng ñộ protein
(globin) trong tế bào rất cao. Trong HC, hemoglobin chiếm 95% trọng lượng
HC, còn lại là rất ít các protein, lipid, acid amin, vitamin, các nguyên tố vi
lượng [2], [14].
1.2. QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ SẮT Ở NGƯỜI BÌNH THƯỜNG
Sắt là một nguyên tố kim loại phổ biến trong tự nhiên. ðối với con
người sắt là một trong những chất dinh dưỡng vi lượng có vai trò quan trọng
bậc nhất, sắt là thành phần quan trọng của hemoglobin, myoglobin và một số
enzyme oxy hoá khử như catalase, peroxydase, các cytochrom.
1.2.1 Phân bố sắt trong cơ thể người trưởng thành bình thường
Bảng dưới ñây mô tả sự phân bố sắt trong cơ thể người. Lượng sắt
trong cơ thể bằng 0,008% trọng lượng cơ thể [10], [17], [50].
7
Bảng 1.1. Sự phân bố sắt trong cơ thể người
Cơ quan tổ chức Nam (mg Fe/kg) Nữ (mg Fe/kg)
Hemoglobin 31 28
Ferritin và hemosiderin 12 6
Myoglobin 5 4
Các enzyme 2 2
Transferrin <1 (0,2) <1 (0,2)
Tổng cộng 50 40

Như vậy sắt ñược phân bố vào 3 khu vực:
Khu vực chức năng: chiếm khoảng 2/3 lượng sắt trong cơ thể, chủ yếu
trong hemoglobin, 1g hemoglobin chứa 3,3mg sắt, 1ml khối HC có 1mg sắt.
Một lượng nhỏ sắt có trong các enzyme, myoglobin. Sắt là thành phần men

19
ñến 10
31
/M, do ñó nếu còn thừa transferrin
thì không còn Fe
3+
tự do nữa. Trong trạng thái sinh lý bình thường 1/9 số
phân tử transferrin ñược bão hoà sắt ở cả 2 vị trí, 4/9 số phân tử transferrin
ñược bão hoà sắt ở 1 vị trí và 4/9 số phân tử transferrin không gắn sắt, như
vậy có khoảng 16 – 45% vị trí gắn sắt của transferrin ñược gắn sắt (ñộ bão
hoà transferrin). Còn khoảng 2/3 vị trí gắn sắt của transferrin còn bỏ trống
ñược coi là khả năng gắn sắt tiềm tàng. Trong trường hợp quá tải sắt, các vị trí
kết hợp với sắt của transferrin ñã bão hoà hết, sắt có thể gắn không ñặc hiệu
với các chất khác như albumin, citrate, aminoacid và ñường. Những tế bào
ngoài HC, ñặc biệt là gan, tuyến nội tiết, thận và tim thường có ưu thế nhận
sắt từ con ñường không phụ thuộc vào transferrin. Trong trường hợp có sự
cung cấp quá nhiều sắt hem, không thể thực hiện vận chuyển qua transferrin,
Fe
2+
- hem sẽ gắn và tạo phức hợp với haptoglobin hoặc hemopexin.
Nồng ñộ transferrin ñược kiểm soát bởi nồng ñộ sắt trong mô, ñặc biệt
trong tế bào gan. Nồng ñộ sắt thấp sẽ làm tăng tổng hợp transferrin và ngược
lại. Nồng ñộ sắt chức năng không chỉ ñiều tiết nồng ñộ transferrin mà còn cả
TfR. Khi hết sắt dự trữ và sắt chức năng trong mô bị thiếu, transferrin sẽ ñược
tổng hợp nhiều lên ñể tăng quá trình quay vòng sắt. Trong trường hợp thiếu
sắt chức năng do bệnh mạn tính như viêm mạn tính, u ác tính, quá trình tổng
hợp transferrin bị giảm ñi và giải phóng sắt từ nguồn dự trữ cũng giảm, do ñó
ñộ bão hoà transferrin vẫn không thay ñổi. Trong trường hợp quá tải sắt, sắt
dự trữ và sắt chức năng ñều tăng trong khi việc quay vòng sắt giảm ñi, do ñó
ñộ bão hoà transferrin thường >50% [10], [24], [28], [50], [65].

2+
ñi qua. Sắt là chất nền của quá
trình ferroxidase của ferritin với sự tham gia của chuỗi H, sau khi oxy hoá sắt
ñược ñưa vào dự trữ trong lõi của phân tử ferritin ở dạng Fe
3+

[FeO(OH)]
8
[FeO(H
2
PO
4
)] có cấu trúc dạng tinh thể thuỷ tinh. Chỉ khi Fe
3+

ñược chuyển thành Fe
2+
[Fe(H
2
O)
6
2+
], có tính hoà tan mới có thể vận chuyển
qua kênh của phân tử Ferritin vào trong nội bào. Như vậy ferritin có khả năng
nhận, dự trữ và giải phóng sắt, dự trữ sắt ở dạng sinh học ñồng thời bảo vệ tế
bào khỏi bị ñộc do sắt bị ion hoá. Cơ chế ñiều hoà kiểm soát ferritin là do yếu
tố ñáp ứng sắt (IRE) nằm trên vùng 5’ của ferritin – mARNs [50], [60].
10
Ferritin là nguồn cung cấp sắt ñể tổng hợp hemoglobin trong hồng cầu.
Khi HC tăng nhu cầu tổng hợp hemoglobin, lượng sắt trong nội bào cũng như

3+
thông qua TfR 2, cơ chế này không ñiều hoà bởi nồng ñộ
sắt trong tế bào mà ñược ñiều hoà bởi sự thiếu IRE trên vùng 3’ của mARN.
ðiều này ñã giải thích tại sao tế bào gan bị quá tải sắt trong bệnh
hemochromatosis di truyền. Mỗi tế bào gan có 3 x 10
4
vị trí gắn với sắt. Cơ
chế nhận sắt từ ferritin bị ức chế bởi chất gắp sắt và ñược tăng cường bởi
ascorbate. Chloroquin ức chế nhận sắt của tế bào gan. Acid ascorbic ức chế sự
thoái giáng của ferritin [28], [40], [50].
1.2.2. Chuyển hoá và ñộng học sắt trong cơ thể
Phần lớn chuyển hoá sắt ñược thực hiện trong hệ thống khép kín giữa
các khu vực với nhau. Ở người trưởng thành, 95% nhu cầu sắt ñể tạo HC
ñược tái sử dụng từ quá trình phân huỷ HC già, chỉ có 5% lượng sắt ñược lấy
thêm bằng hấp thu từ thức ăn. Do ñó cơ thể chỉ cần 1mg sắt trong 1 ngày là ñủ
cho nhu cầu tạo HC bình thường.
1.2.2.1. Mất sắt và hấp thu sắt
Hàng ngày cơ thể mất ñi khoảng vài mg sắt qua bài tiết mồ hôi, nước
tiểu, phân và bong các tế bào ở da, lông, tóc móng. Phụ nữ trong ñộ tuổi sinh
ñẻ, mỗi chu kỳ kinh sẽ mất khoảng 30mg sắt.
ðể bù lượng sắt mất ñi này cơ thể sẽ hấp thu sắt từ thức ăn. Với chế ñộ
ăn trung bình có khoảng 10-25mg sắt, cơ thể chỉ cần hấp thu 10% lượng sắt
trong thức ăn ñó (tỷ lệ này có thể cao hơn trong trường hợp thiếu sắt hoặc
tăng nhu cầu sử dụng sắt như phụ nữ thời kì sinh ñẻ, có thai, trẻ em tuổi dậy
thì). Theo Carpenter, Mahoney, chia quá trình hấp thu sắt thành 3 giai ñoạn:
tiêu hoá sắt, hấp thu sắt và sử dụng sắt.
Quá trình tiêu hoá và hấp thu sắt bắt ñầu ở dạ dày nhưng chủ yếu tại
hành tá tràng và ñoạn ñầu hỗng tràng. Sắt trong thức ăn có hai loại, sắt non-
hem nguồn gốc từ thực vật và sắt hem nguồn gốc từ ñộng vật. Sắt non-hem
12

3+
[64], [65].
Sự kiểm soát quá trình hấp thu sắt và lượng sắt ñược vận chuyển vào
máu tĩnh mạch cửa phụ thuộc vào nhu cầu sắt của cơ thể và kho dự trữ sắt của
cơ thể. Trong trường hợp thiếu sắt, một lượng lớn sắt ñược hấp thu qua riềm
bàn chải vào tế bào niêm mạc ruột và vào máu về tĩnh mạch cửa, và transferrin
cũng ñược tăng tổng hợp. Ngược lại khi cơ thể quá tải sắt, lượng sắt ñược hấp
thu vào tế bào biểu mô ruột giảm ñi. Một yếu tố khác ảnh hưởng ñến quá trình
hấp thu sắt là sự ñiều hoà hấp thu sắt tại riềm bàn chải của ruột non. Lượng sắt
hấp thu thừa sẽ kết hợp với apoferritin ñể tạo thành ferritin, ferritin sẽ ñược thải
ra ngoài cùng với sự bong ra của tế bào này. Có nghiên cứu còn cho rằng
gastroferrin là chất ức chế hấp thu sắt, trong hemachromatosis, gastroferrin
13
giảm nặng nên cơ thể tăng hấp thu sắt từ thức ăn [10], [17], [60], [65].
1.2.2.2 Chuyển hoá và vận chuyển sắt
Trong suốt quá trình tế bào HC già sinh lý, các gốc acid neuraminic ở
tận cùng các glycoprotein của màng HC bị mất dần làm cho cấu trúc màng tế
bào bị thay ñổi, dễ gắn kết với các IgG, là tín hiệu cho các ñại thực bào ở gan
và lách ñến thực bào, mỗi ngày có khoảng 1/120 số lượng HC bị thực bào.
Sau khi bị thực bào thành phần globin bị thuỷ phân thành các acid amin hoặc
ñược sử dụng ñể tạo protein mới hoặc bị giáng hoá thêm nữa. Sắt ñược giải
phóng khỏi hem sẽ gia nhập vào các isoferritin ñể dự trữ tạm thời, từ ñó ñược
transferrin ñến lấy. Ở tốc ñộ tuần hoàn sinh lý, mỗi ngày có khoảng 5g – 6g
hemoglobin bị phân huỷ tạo ra khoảng 16,5 – 20mg sắt, lượng sắt này sẽ ñược
tái sử dụng ñể tạo HC mới [10], [17].
Như vậy transferrin chủ yếu lấy sắt từ các ñại thực bào ở gan và lách,
chỉ một lượng nhỏ từ tế bào biểu mô ñường ruột. ðại thực bào giải phóng sắt
theo chu kỳ trong ngày, lượng sắt ñược giải phóng cao nhất vào buổi sáng và
thấp nhất vào buổi chiều. Phức hợp Fe
3+

TfR có vai trò chủ yếu trong việc cung cấp sắt cho tế bào. Ái lực của
TfR ñối với phức hợp Fe
3+
- transferrin trong môi trường máu (pH kiềm yếu)
phụ thuộc vào mức ñộ tải sắt của transferrin, ái lực tối ña ñạt ñược khi
transferrin chứa 2 ion Fe
3+
. Phức hợp TfR-Tf-Fe ñi qua kênh của một gradient
pH vào tế bào. Trong các túi lưới ở trong tế bào có pH acid (khoảng pH = 5),
phức hợp TfR-Tf-Fe giải phóng nguyên tử sắt, sau ñó phức hợp TfR-Tf trở lại
màng tế bào nơi có pH trung tính và Tf ñược giải phóng ra khỏi tế bào ñể tiếp
tục vận chuyển sắt [28], 50], [65].
Trong tế bào, sắt ñược chuyển ñến ty lạp thể, tại ñây sắt ñược gắn vào
protoporphyrin ñể tổng hợp hem hoặc dự trữ trong ferritin.
ðiều hoà chuyển hoá sắt trong tế bào: Cơ chế tổng hợp apoferritin,
TfR, ALA synthase, apotransferritin, aconitase, DMT-1 và ferroportin ñược
ñiều hoà theo cơ chế quặt ngược (feed back). Nồng ñộ transferrin và TfR
ñược ñiều hoà bởi nồng ñộ các ion Fe
3+
. Khi quá tải sắt cả nồng ñộ
transferrin, TfR hoà tan trong huyết thanh ñều thấp. Ngược lại khi nhu cầu sắt
của tế bào cao, nhưng nồng ñộ sắt trong huyết thanh thấp thì transferrin, TfR
15
hoà tan trong huyết thanh sẽ tăng cao, có thể tăng gấp 7 lần [10]. Có nhiều
protein ñảm bảo cân bằng nội mô của sắt ñược ñiều hoà thông qua sự kết hợp
của một protein ñiều hoà sắt (IRP) với yếu tố ñáp ứng sắt (IRE). IRP-1 trong
bào tương sẽ kết hợp với IRE khi không còn sắt trong bào tương. IRP-2 bị bất
hoạt khi có có sắt trong bào tương. Khi nồng ñộ sắt cao, IRPs kết hợp với
IREs ở ñầu 5’ của mRNA sẽ ngăn chặn quá trình sao chép do ñó lượng TfR
không tăng nhưng tăng tổng hợp apoferritin. Ngược lại khi nồng ñộ sắt thấp,

liên quan ñến quá trình tổng hợp và chuyển hoá của các chất dẫn truyền thần
kinh như dopamin, norepinephrine và serotonin. Sắt còn liên quan ñến quá
trình tạo vỏ myelin sợi thần kinh, nó có thể ảnh hướng ñến tổ chức và hình
thái lưới thần kinh [28]. Hàng rào bảo vệ cơ thể cũng bị ảnh hưởng, thiếu sắt
gây suy giảm chức năng miễn dịch, giảm ñề kháng với nhiễm trùng do sắt
tham gia vào quá trình biệt hoá lympho T ở ngoại vi. Ảnh hưởng ñến phát
triển thể lực, trẻ thiếu sắt thường thấp và dễ bị còi cọc. Tổn thương ở mô,
thiếu sắt có thể làm thay ñổi mô của nhiều cơ quan. Giảm quá trình sinh sản
và biệt hoá của các tế bào, nhất là những tế bào bề mặt các tạng rỗng, ñặc biệt
là những tế bào nhậy cảm với sự thiếu hụt sắt. Teo niêm mạc lưỡi, thực quản,
dạ dày và ruột non [17], [36], [40], [61], [67].
1.3.2. Tình trạng thừa sắt
Trạng thái quá tải sắt thường gặp nhất là do truyền máu nhiều lần ở
những bệnh nhân sinh HC không hiệu lực (suy tuỷ xương, rối loạn sinh tuỷ,
bệnh thalassemia), ngoài ra còn do sự tăng hấp thu sắt một cách không thích
hợp trong khi dự trữ sắt vẫn ñầy ñủ ở một số bệnh lý (hemachromatosis) và
do ñiều trị sắt không thích hợp.
Truyền máu nhiều lần: vì 1 ml khối HC có 1mg sắt, do ñó khi truyền
350 ml máu toàn phần, tương ñương 175 ml khối HC, sẽ tích luỹ thêm 175
17
mg sắt vào cơ thể mà không bị thải ra khỏi cơ thể. Sau khi truyền 10 -20 ñơn
vị máu (tương ñương cơ thể tích luỹ thêm 1750 ñến 3500 mg sắt ) sẽ xuất
hiện các dấu hiệu thừa sắt [13].
Trong thalassemia, do ñặc ñiểm màng HC không bền vững dễ gây tan
máu, khi tan máu lại gây ức chế hepcidine, tạo ra nghịch lý trong thalassemia
là do hepcidine giảm nên cơ thể tăng hấp thu sắt trong khi bệnh nhân vẫn
phải truyền máu nhiều lần do vậy càng làm thừa sắt [21].
Sinh HC không hiệu lực (suy tuỷ xương, rối loạn sinh tuỷ, thalassemia,
thiếu men pyruvate kinase), cơ chế giữa sinh HC không hiệu lực, phá huỷ tế
bào non dòng HC trong tuỷ xương với cơ chế kích thích tăng hấp thu sắt hiện

a. Tan máu bẩm sinh: là do tổn thương gen gây nên bất thường về cấu trúc và
chức năng thành phần tế bào HC, bao gồm:
• Bất thường huyết sắc tố: Bệnh thalassemia: Alpha thalassemia, beta
thalassemia, huyết sắc tố E, beta thalassemia + HbE.
• Bất thường màng tế bào: HC hình cầu, HC hình elip;
• Bất thường enzyme trong tế bào: thiếu enzyme G6PD, pyruvate kinase.
b. Tan máu mắc phải: chia hai loại: tan máu do miễn dịch và không do miễn
dịch
• Tan máu miễn dịch: (Test Coomb dương tính): Tan máu tự miễn, tan máu
miễn dịch ñồng loài, tan máu do thuốc.
• Tan máu không miễn dịch (Test coomb âm tính): do thuốc, tan máu trong
lòng mạch: ñái huyết tố kịch phát, hội chứng tan máu giảm tiểu cầu huyết
khối (TTP), hội chứng tan máu tăng ure huyết (HUS), ñông máu rải rác
trong lòng mạch (DIC)…
1.4.1.2. Thiếu máu do mất máu
• Mất máu cấp tính như bị chấn thương, phẫu thuật;
• Mất máu mạn tính như, loét dạ dày, tá tràng, trĩ, kinh nguyệt nhiều ở phụ
19
nữ, giun móc. Khi mất máu kéo dài sẽ gây ra thiếu sắt và gây thiếu máu.
1.4.1.3. Sinh HC không hiệu lực
• Thiếu máu bất sản: Suy tuỷ xương, rối loạn sinh tuỷ, sau nhiễm virus, sau
ñiều trị bằng một số thuốc, hoá chất, tia xạ, nhiễm phóng xạ, …
• Bất thường cấu trúc huyết sắc tố;
• Thiếu máu trong lơ xê mi, u lympho,ña u tuỷ xương, xơ tuỷ, ung thư di
căn tuỷ xương;
• Thiếu yếu tố cần thiết trong quá trình sinh sản vào biệt hoá hồng cầu,
thiếu các yếu tố vi lượng cần thiết trong quá trình tạo HC: thiếu sắt, acid
folic, vitamin B12, vitamin B6, protein, thiếu erythropoietin trong bệnh
thận mạn tính, nhiễm HIV, viêm khớp mạn tính.
1.4.2. Phân loại theo hình thái HC

HOÁ SẮT
1.5.1. Thiếu máu thiếu sắt
Thiếu sắt là tình trạng giảm toàn bộ lượng sắt của cơ thể (ferritin <
15ng/dl). Thiếu máu thiếu sắt xảy ra khi thiếu sắt nặng dẫn ñến giảm sinh
hồng cầu và gây ra thiếu máu.
Nguyên nhân gây thiếu sắt:
• Ở ñiều kiện sinh lý khi nhu cầu sắt tăng lên hoặc sự mất sắt tăng lên (tuổi
dậy thì, phụ nữ có kinh nguyệt hoặc có thai, người cho máu…) mà không
cung cấp ñủ.
• Bệnh lý: như chảy máu kéo dài (trĩ, loét dạ dày-hành tá tràng, giun móc,
polip ñường tiêu hoá, rong kinh). Giảm hấp thu sắt do cắt dạ dày, cắt ñoạn
ruột non.
Thiếu sắt của cơ thể ñược biểu hiện qua các giai ñoạn:.
Giảm dự trữ sắt là giai ñoạn ñầu tiên của sự thiếu sắt, khi cung cấp
không ñủ nhu cầu sắt của cơ thể, cơ thể sẽ huy ñộng lượng sắt dự trữ từ
21
ferritin trong các ñại thực bào, sau ñó sắt tiếp tục ñược giải phóng ra từ
hemosiderin. Giảm dự trữ sắt dẫn ñến cơ thể tăng tổng hợp transferrin, TfR.
Do vậy trong giai ñoạn này xét nghiệm về tế bào máu có thể chưa thấy sự
thay ñổi, tuy nhiên về sinh hoá sẽ thấy: ferritin huyết thanh giảm, transferrin
tăng, TfR tăng, TIBC và UIBC tăng.
Khi sắt dự trữ ñã cạn kiệt sẽ dẫn ñến giảm sắt chức năng, ảnh hưởng
sớm và rõ nhất quá trình tạo máu do không cung cấp ñủ lượng sắt cho NHC,
HCL ñể tổng hợp Hb. Sự tổng hợp Hb trong các NHC giảm do ñó sau 4 lần
phân bào bình thường nồng ñộ Hb trong các NHC vẫn chưa ñạt ñến mức bình
thường (320g/l), các NHC vẫn tiếp tục phân bào (lần 5, 6) làm cho HC tạo
thành có kích thước nhỏ. Bên cạnh ñó do sắt cạn kiệt làm giảm tổng hợp
enzyme ribonucleotide reductase, là enzyme duy nhất trong quá trình tổng
hợp deoxyribonucleotide (ADN) dẫn ñến giảm sinh HC.
Xét nghiệm trong giai ñoạn này sẽ thấy thay ñổi cả về tế bào máu ngoại

thương hệ miễn dịch, tất cả những nguyên nhân này ñều dẫn ñến sinh HC
không hiệu lực [12], [43], [51]. Bệnh nhân bị rối loạn sinh tuỷ cũng bị quá tải
sắt do sắt không ñược cơ thể tái sử dụng ñể tạo HC mặt khác bệnh nhân cũng
phải thường xuyên truyền máu.
Vì thế nhóm bệnh này có thay ñổi cả về tế bào học và sinh hoá như:
Hb và số lượng HC giảm, HC bình thường sắc, kích thước tương ñối ñồng
ñều. Sắt và ferritin huyết thanh tăng, transferrin giảm, TIBC và UIBC giảm,
ñộ bão hoà transferrin cao.
1.5.3. Bệnh Thalassemia
Thalassemia là bệnh thiếu máu tan máu di truyền gây ra do giảm hoặc
mất hẳn sự tổng hợp của một loại chuỗi globin. Bình thường ở người lớn, Hb
A1 (α
2
β
2
) chiếm 96% - 98%. Trong bệnh thalassemia có sự mất cân bằng
giữa tổng hợp chuỗi α và β và gây nên hai loại chính là α thalassemia (thiếu
23
chuỗi α globin) và β thalassemia (thiếu chuỗi β globin) [20], [34].
Gen chỉ ñạo tổng hợp chuỗi β (gen β) nằm trên cánh ngắn nhiễm sắc
thể 11 cùng các gen δ, γ, ε. Nếu nhiễm sắc thể tổn thương mất hoàn toàn khả
năng chỉ ñạo tổng hợp chuỗi β gọi là β
0
. Nếu gen β tổn thương làm giảm tốc
ñộ tổng hợp chuỗi β gọi là β
+
[7], [19], [20]. Có nhiều ñột biến ở gen β gây β
thalassemia. ðến nay phát hiện ñược khoảng 200 ñột biến của gen tổng hợp
chuỗi β globin [7], [8]. Hb E là một ñột biến gen tổng hợp chuỗi β globin tại
vị trí 26, glutamic ñược thay thế bằng lysine.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status