kết hợp hoạt động nhóm và lập bản đồ tư duy của một số bài trong môn hóa lớp 12 cb - Pdf 25

1

Nhận xét, xếp loại - Nhận xét:


3
PHẦN 1 – TÓM TẮT
Giáo dục là nền tảng trong sự nghiệp phát triển quốc gia, góp phần đưa
đất nước hội nhập với các nước phát triển. Hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo
đang tích cực đổi mới phương pháp dạy và học. Trong quá trình dạy học trong
trường phổ thông tôi nhận thấy rằng nhà giáo dục không chỉ chú ý đến việc
truyền thụ tri thức, mà quan trọng hơn là phải biết dạy cách học, cách nghiên
cứu, kích thích người học chủ động, sáng tạo, tích cực trong hoạt động học tập
nhất là đối với đối tượng học sinh lớp 12.
Bên cạnh việc dạy chữ còn dạy cho học sinh sống với nhau, dạy cho học
sinh một số kĩ năng, kĩ xảo: thuyết trình, lắng nghe, hợp tác, trao đổi, tính tự
giác và chủ động, biết sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của bản thân để giải
quyết nhiệm vụ chung của nhóm, khả năng nghiên cứu khoa học Từ đó phát
huy lối tư duy tích cực giúp cho học sinh có một số kinh nghiệm làm hành trang
khi bước vào đời. Nhiều học sinh lớp 12 hiện nay vẫn chưa biết cách học, cách

trường THPT Phan Bội Châu trong năm học 2013-2014. Lớp 12A7 là lớp thực
nghiệm và lớp 12A6 là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải
pháp thay thế khi dạy một số bài: bài ”tính chất của kim loại, dãy điện hóa của
kim loại”, bài ”điều chế kim loại”, một số tiết tự chọn trong chương ”kim loại
kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm”. Kết quả cho thấy việc tác động đã có ảnh
hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả
học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Điều đó chứng minh rằng kết hợp hoạt
động nhóm với lập bản đồ tư duy trong dạy học đã nâng cao kết quả học tập các
bài học đồng thời học sinh nắm kiến thức sâu và lâu hơn.

5
PHẦN 2 – GIỚI THIỆU
I – CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Nhóm là gì? Các kĩ năng cần trong quá trình hoạt động nhóm
Nhóm không đơn giản chỉ là một tập hợp nhiều người làm việc cùng nhau
hoặc làm việc dưới sự chỉ đạo của một nhà quản lý. Nhóm là một tập hợp những
cá nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực
hiện một mục tiêu chung. Vì thế các thành viên trong nhóm cần có sự tương tác
với nhau và với trưởng nhóm để đạt được mục tiêu chung. Các thành viên trong
nhóm cũng phải có sự phụ thuộc vào thông tin của nhau để thực hiện phần việc
của mình.
Chúng ta tuy có nhiều hình thức nhóm khác nhau như: Nhóm bạn học tập,
nhóm bạn cùng sở thích, nhóm năng khiếu, nhóm kỹ năng, các câu lạc bộ, các
nhóm làm việc theo dự án, nhóm làm việc trong tổ chức… Một nhóm có thể
hình thành theo nhiều cách khác nhau và nhóm làm việc là nhóm tạo ra được
một tinh thần hợp tác, biết phối hợp và phát huy các ưu điểm của các thành viên
trong nhóm để cùng nhau đạt đến một kết quả tốt nhất cho mục đích mà nhóm
đặt ra. Như vậy, để thực hiện được các hoạt động chung, thì mỗi một thành viên
trong nhóm cần phải có một số các kỹ năng sau đây ngoài sự đồng thuận chung
về quan điểm và mục đích của nhóm: lắng nghe, chất vấn, thuyết phục, tôn

tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức
mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi học kì…
4. Tính chất của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như
bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác
nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề
nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách
riêng, do đó việc lập bản đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của
mỗi người. Bản đồ tư duy phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.
5. Ưu điểm của học tập theo kiểu kết hợp hoạt động nhóm với lập bản đồ
tư duy
Học tập theo nhóm giúp học sinh phát huy tính tự lực, tích cực, trách
nhiệm, phát triển năng lực cộng tác làm việc, bổ sung và chia sẻ kiến thức nhờ
học hỏi lẫn nhau, tăng cường sự tự tin cho học sinh, nâng cao kết quả và tạo
không khí thoải mái trong học tập, nâng cao được khả năng nhận xét, tư duy
logic, thể hiện khả năng sáng tạo trong việc tạo ra ý tưởng và lời giải
mới…Ngoài ra, làm việc theo nhóm giúp học sinh hình thành một số kĩ năng: kĩ
năng phát hiện vấn đề và nắm bắt thông tin, kĩ năng làm việc tập thể, kĩ năng
thương lượng, kĩ năng tự học, kĩ năng lắng nghe…
Bản đồ tư duy sẽ giúp: sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn,
nhìn thấy bức tranh tổng thể, phát triển nhận thức, tư duy, … Mặt khác, bản đồ
tư duy có ưu điểm là: dễ nhìn, dễ viết, kích thích hứng thú học tập và khả năng
sáng tạo của học sinh, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não và rèn luyện
cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic.
Như vậy, kết hợp hoạt động nhóm với lập bản đồ tư duy trong học tập có
hiệu quả sẽ làm cho học sinh tương tác lẫn nhau, hỗ trợ, bổ sung kiến thức cho
nhau và vấn đề đặt ra được giải quyết triệt để và nhanh hơn. Từ đó phần nào đổi
mới phương pháp dạy và học hiện nay, tạo môi trường học tập thân thiện, nhẹ
nhàng và học sinh tích cực. Bên cạnh đó giúp học sinh dần hình thành một số kĩ

phút trong một tiết học, giáo viên không thể chỉnh sửa trên lớp hết toàn bộ mỗi
bản đồ mà học sinh đã lập. Như vậy, cần có hoạt động nhóm để học sinh có thể
tương tác với nhau và học tập lẫn nhau. Thông qua hoạt động nhóm mỗi cá nhân
sẽ tham gia đóng góp ý kiến cho bạn, tham gia thảo luận, thống nhất nội dung
kiến thức đúng từ đó hoàn chỉnh sản phẩm “hội họa và kiến thức” của bản thân.
Sau khi học sinh tự thiết lập bản đồ tư duy kết hợp việc thảo luận nhóm,
cùng nhau bàn bạc, góp ý, đi đến thống nhất ý kiến dưới sự gợi ý, dẫn dắt của
giáo viên, học sinh sẽ ghi lại kiến thức không theo hình thức thông thường mà
theo kiểu lập bản đồ tư duy sẽ giúp phát triển được năng lực riêng của từng học
sinh không chỉ về trí tuệ, mà kiến thức của bài học được học sinh lĩnh hội một
cách nhẹ nhàng, tự nhiên mà hiệu quả. Học sinh trở nên thích thú hơn trong học
tập, phát triển năng lực tư duy, trí tưởng tượng, khả năng tổng hợp, khái quát
nhờ đó kiến thức của học sinh tiếp thu không còn hạn chế và hời hợt mà độ bền
8
và nhớ kiến thức lại lâu hơn. Kết hợp lập bản đồ tư duy với hoạt động nhóm tạo
cho không khí giờ học thân thiện, học sinh thoải mái trình bày ý kiến và quan
điểm. Từ đó học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất
cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng.
Trong vài năm trở lại, giáo dục Việt Nam đang đổi mới toàn diện đặc biệt
là đã áp dụng mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, Global
Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva). Đây cũng được đánh giá
là mô hình sáng tạo của thế kỷ 21 bởi ngoài việc giúp học sinh trải nghiệm, phát
hiện kiến thức thông qua các hoạt động theo nhóm, các em còn được kích thích
sự sáng tạo, rèn luyện tính độc lập và sự tự tin trong mọi hoạt động. Trong 3
năm trở lại đây mô hình này đã được triển khai thí điểm ở nhiều trường tiểu học
của nhiều tỉnh thành trong cả nước như: Hà Giang, Lào Cai, Kon Tum, Khánh
Hòa, Ninh Thuận, Cà Mau, Đồng Nai, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh …
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị triển khai Dự án mô hình trường
học mới tại Việt Nam và sẽ nhân rộng mô hình này ở các cấp học cao hơn trong
thời gian tới.

học kì I môn Hóa
Lớp Thực nghiệm
12A7
Lớp đối chứng
12A6
Giỏi 10 28,57%

18 47,37%
Khá 20 48,57%

16 42,11%
Trung Bình 7 20% 4 10,53%
Yếu 1 2,86% 0 0%
Kém 0 0% 0 0%
Điểm trung bình
học tập chung
6,64 6,93

II – THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 12A7 là nhóm thực nghiệm và 12A6 là nhóm
đối chứng. Tôi dùng bài kiểm tra 45 phút lần 2 học kì I môn Hóa làm bài kiểm
tra trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có
sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh
lệch điểm số trung bình giữa 2 nhóm trước khi tác động.
Kết quả trước tác động:
Bảng 1. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Lớp thực nghiệm (12A7) Lớp đối chứng (12A6)
TBC 6,12 5,93
p = 0,436
p = 0,436 > 0,05 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai

duy bất kỳ nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ
đề, một chương theo mạch logic của kiến thức.
Hướng cho học sinh có thói quen tư duy logic theo hình thức sơ đồ hoá
trên bản đồ tư duy. Có 2 cách đó là vẽ trên giấy và sử dụng phần mềm trên máy
tính. Chúng ta cần gì để tạo bản đồ tư duy trên giấy: một tờ giấy trắng, bút và
chì màu, bộ não để suy nghĩ, trí tưởng tượng của bạn. Giáo viên giới thiệu cho
học sinh một số phần mềm vẽ bản đồ tư duy: Imindmap 4.0, Imindmap 5.0…
2. 7 bước để tạo nên một bản đồ tư duy
Bước 1. Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Tại sao lại phải
dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử
dụng trí tưởng tượng của mình. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập
trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn.
Bước 2. Luôn sử dụng màu sắc. Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích
thích não như hình ảnh.
Bước 3. Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh
cấp hai,… Các đường nối càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm
hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều
thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng.
Bước 4. Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường nối.
Bước 5. Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu
sắc,…).
Bước 6. Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các
đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
các đường thẳng buồn tẻ.
Bước 7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
Cho học sinh thực hành vẽ bản đồ tư duy trên giấy: Chọn key words- tên
chủ đề hoặc hình vẽ của chủ đề chính cho vào vị trí trung tâm, chẳng hạn: phản
ứng hoá học, clo, để học sinh có thể tự mình ghi tiếp kiến thức vào tiếp các
nhánh cấp 1, cấp 2, theo cách hiểu của các em. Vẽ bản đồ tư duy theo nhóm

Lưu ý: Bản đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các
nhóm học sinh có chung một kiểu, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về
mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần).
Tiến hành dạy thực nghiệm: từ chương 5 đại cương về kim loại đến cuối
chương 6 kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm. Thời gian tiến hành thực
nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo thời khóa biểu
để đảm bảo tính khách quan.
5. Giới thiệu một số hình ảnh về hoạt động nhóm kết hợp lập bản đồ tư
duy trong chương trình hóa học phổ thông lớp 12 cơ bản
Ví dụ 1: Chương 5 - “ Đại cương về kim loại ”
Đặc điểm của chương này là học sinh đã được làm quen với tính chất
và một số đặc điểm của kim loại từ các lớp dưới. Vì vậy khi dạy học các bài
12
trong chương này nên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm và lập bản đồ tư
duy. Tôi đã chọn “bài tính chất của kim loại và dãy điện hóa của kim loại” để
mỗi học sinh thiết lập bản đồ tư duy ở nhà. Từ việc làm này sẽ phát huy được
tính tích cực của học sinh, nâng cao hiệu quả giờ học. Bản đồ tư duy này không
chỉ thiết lập trong một tiết học mà được dàn trải trong nhiều tiết giảng dạy. Vào
các tiết học trên lớp giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm chỉnh sửa và hoàn
chỉnh sơ đồ cho các thành viên của nhóm.



nhôm, sắt Do đó giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh thiết lập một bản đồ tư
duy xuyên suốt cho nhiều bài thông qua các bước như phần trên đã đề cập, đó
cũng là điểm lợi thế của bản đồ tư duy là một bản đồ mở có thể bổ sung kiến
thức nếu người học thấy thiếu vào bất kì nhánh nào trong bản đồ
Ví dụ 2: Dạy một số tiết tự chọn trong chương 6 “kim loại kiềm, kim
loại kiềm thổ, nhôm”
Đôi khi một số bài tập hóa học khó, yêu cầu học sinh vận dụng nhiều
kiến thức mới giải quyết được thì việc hoạt động nhóm, thảo luận, cùng nhau lập
sơ đồ tư duy lại có hiệu quả. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động nhóm hoàn
thành nhiệm vụ giáo viên giao của lớp thực nghiệm trong một số tiết học.
15
Không chỉ ngồi một chỗ nghe giáo viên giảng mà các bạn thoải mái trao đổi và
bổ sung kiến thức cho nhau, cùng thảo luận nhóm để giải quyết vấn đề.
16
19
PHẦN 4 - PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
I - PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Tôi đã dùng bài kiểm tra 45 phút lần 1 học kì II để kiểm tra kết quả sau
tác động.
Bảng 3. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động

Số học sinh
Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn
(SD)
Nhóm thực nghiệm
(12A7)
38 8,51 0,98
Nhóm đối chứng


Không quan tâm 3 8 0 0
Rất hứng thú 6 16 29 76
Hứng thú 18 47 8 21
Không hứng thú 13 34 1 3
2. Mức độ hứng thú của
bạn đối với môn hóa học
Hoàn toàn không thích 1 3 0 0
Lên lớp nghe giảng
25 66 10 26
Thảo luận và làm việc
theo nhóm
10 26 35 92
3. Bạn thích tham gia vào
hoạt động học tập nào?
Nghiên cứu tài liệu 5 13 17 45
Không hề nghĩ tới 30 79 6 16 4. Trong quá trình tư duy,
học tập gặp vấn đề khó
khăn bản thân không tự
giải quyết được bạn có
nghĩ tới bạn bè có thể trợ
Có nghĩ tới 8 21 32 84
8,51 – 7,43
1,29
20
giúp bạn trả lời không?
Trình bày và lắng nghe
ý kiến của thành viên
trong nhóm
20 53 9 24

đề, giải quyết vấn đề
23 61
Kĩ năng linh hoạt, tích
cực, sáng tạo
19 50
Kĩ năng thuyết trình
trước đám đông
21 55
Kĩ năng làm việc hợp
tác
36 95
7. Những kĩ năng bạn
được rèn luyện sau khi
được giáo viên hướng dẫn
hoạt động nhóm kết hợp
với lập bản đồ tư duy
trong học tập.
Kĩ năng chọn lọc kiến
thức và tổng hợp kiến
thức
30 79

II – BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Sau tác động điểm trung bình bài kiểm tra của nhóm thực nghiệm là 8,51
(SD = 0,98) và của nhóm đối chứng là 7,43 (SD = 1,29). Độ chênh lệch điểm số
giữa hai nhóm là 1,08; điều đó cho thấy điểm trung bình chung của hai lớp đối chứng
và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao
hơn lớp đối chứng. Mặt khác, sau khi tác động điểm trung bình của lớp thực nghiệm
tăng lên 2,39 điểm trong khi đó lớp đối chứng chỉ tăng 1,5 điểm.
21

nhóm, thích ghi bài theo cách của mình hơn là ghi chép theo cách truyền thống.
Qua thống kê cho thấy một số kĩ năng mà giáo viên muốn rèn luyện cho học
sinh thông qua việc hướng dẫn lập bản đồ tư duy kết hợp hoạt động nhóm trong
học tập hóa học đều vượt trên 50% học sinh trong lớp lựa chọn bản thân được
nâng cao. Từ đó cho thấy việc tác động đã làm cho học sinh trở nên linh hoạt,
sáng tạo, hứng thú, thích làm việc tập thể và yêu thích môn hóa hơn. 6.12
5.93
8.51
7.43
22
PHẦN 5 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I- KẾT LUẬN
Khi học sinh đã thiết kế bản đồ tư duy và tự “ghi chép” phần kiến thức
như trên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ sách giáo
khoa theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của
mình. Thông qua bản đồ tư duy giáo viên yêu cầu học sinh thuyết trình thành
quả “kiến thức + hội họa” trong hoạt động nhóm, qua đó rèn cho học sinh kĩ
năng thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây
cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học sinh nước ta hiện nay.
Kết hợp hoạt động nhóm với lập bản đồ tư duy trong truyền thụ kiến thức
mới và hệ thống kiến thức đã góp phần nâng cao chất lượng học tập, giúp học

Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm,
chia sẻ và có thể ứng dụng đề tài này vào việc dạy học không chỉ riêng môn hóa
mà tất cả các môn học khác để tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học
sinh. 24
PHỤ LỤC

Phụ lục 1: ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN BÀI KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
A- ĐỀ KIỂM TRA
Caâu 1. Cho m gam hỗn hợp hai α - amino axit no, đều chứa một nhóm chức
cacboxyl và một chức amino tác dụng vừ đủ với 200ml dung dịch NaOH 1M.
Đốt cháy m gam hỗn hợp 2 α - amino axit trên và cho tất cả sản phẩm cháy vào
bình KOH dư, thấy khối lượng bình tăng 32,8g. Tên gọi của amino axit có khối
lượng phân tử nhỏ hơn là.
A. glyxin B. Alanin C. Valin D. lysin
Caâu 2. Chất không có khả năng tham gia phản ứng trùng hợp là:
A. Propen B. Toluen C. Stiren D. Isopren.
Caâu 3. Trùng hợp hoàn toàn 16,8 g etilen thu được polietilen. Số mắc xích –
CH
2
-CH
2
- trong lượng polietilen trên là:
A. 3,720. 10
23
B. 3,614.10
23
C. 12,46. 10

O, N
2
,
có tổng khối lượng là 27,6gam. Nếu cho 22,68gam Y cho tác dụng hoàn toàn
với dung dịch HCl dư, sau phản ứng cô cạn dung dịch thì thu được bao
nhiêu gam chất rắn?

A. 40,14 g B. 27,0 g C. 37,23 g D. 26,28 g
Caâu 7. Phát biểu nào sau đây không đúng?
A. Bậc của amin là bậc của nguyên tử cacbon liên kết với nhóm amin.
B. Amin no, có từ 2 nguyên tử cacbon trong phân tử bắt đầu xuất hiện đồng
phân.
C. Các amin khí có mùi tương tự amoniac và rất độc.
D. Độ tan của amin giảm dần khi số nguyên tử cacbon trong phân tử tăng.
Caâu 8. Quá trình điều chế tơ nào dưới đây là quá trình trùng hợp?
A. tơ capron từ axit

-aminocaproic.
B. tơ nilon-6,6 từ hexametilen điamin và axit ađipic.
C. tơ nitron (tơ olon) từ acrilonitrin.
D. tơ lapsan từ etilen glicol và axit terephtalic.
25
Caâu 9. Khi cộng HCl vào cao su buna (polibutadien) ta được mạch cao su có
chứa 14,06% clo. Hỏi trung bình có bao nhêu mắc xích cộng 1 phân tư HCl
A. 2 B. 4 C. 3 D. 5
Caâu 10. Để nhận biết các lọ mất nhãn đựng các dung dịch và chất lỏng: glixerol,
anilin, anbumin, alanin, ta lần lượt dùng các hóa chất sau:
A. Dung dịch CuSO
4
, dung dịch H

không tồn tại được trong dung dịch NaOH loãng, đun nhẹ là:
A. 6 B. 8 C. 5 D. 7
Caâu 13. Tổng số đồng phân có tính chất lưỡng tính ứng với công thức phân tử
C
2
H
7
O
2
N là A. 1 B. 4 C. 2 D. 3
Caâu 14. Polime X có phân tử khối là 280000 và hệ số trùng hợp n=10000.
Monome tạo nên X là
A. CH
2
=CH-CH
3
B. CH
2
=CH
2

C. CH
2
=CHCl D. CH
2
=CH-CH=CH
2

Caâu 15. Cho 8,9 gam α -aminoaxit X (chứa một nhóm –NH
2

A. Các amin đều có tính bazơ.
B. Lực bazơ của anilin yếu hơn NH
3
.
C. Amin tác dụng với axit HCl cho ra muối.
D. Amin là hợp chất hữu cơ có tính chất lưỡng tính.
Caâu 18. Cho các phát biểu sau:
(1). Peptit là hợp chất chứa từ 2 đến 50 gốc α- amino axit;
(2). Tất cả các peptit đều phản ứng màu biure.
(3). Số liên kết peptit trong phân tử peptit mạch hở có n gốc α- amino axit
là n-1.
(4). Khi thủy phân peptit trong môi trường kiềm dư, thu được các
α- amino axit.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status