1MỤC LỤC
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ 1.
Lý do chọn vấn đề
22.
Mục đích nghiên cứu
23.
Nhiệm vụ nghiên cứu
34.
Đối tượng nghiên cứu
2.1.
Phân loại học sinh cá biệt 5
2.2.
Phương pháp phân loại học sinh cá biệt 5
2.3.
Nguyên nhân dẫn đến hành vi cá biệt của học sinh 63
Biện pháp tiến hành
7
3.1.
Tìm hiểu môi trường sống của học sinh 7
Kết hợp với gia đình
11
114
Hiệu quả
12-16
III
KẾT LUẬN 1.
Ý nhĩa
172.
3.
Bài học kinh nghiệm
Kiến nghị
17
nước, ngày nay chất lượng cuộc sống của con người được nâng lên đáng kể,
song cùng với nó, đạo đức có phần đi xuống, trong đó có một tỉ lệ không nhỏ là
học sinh trung học phổ thông (THPT). Trên thực tế, trong những năm qua ở
trường THPT Phan Bội Châu vẫn còn có những học sinh hạnh kiểm và học lực
yếu, vi phạm quy định của trường, của lớp, vi phạm luật giao thông đường bộ
Là học sinh trung học phổ thông, hầu hết các em đã và đang bước sang
giai đoạn phát triển toàn diện về thể chất. Nên đặc điểm tâm lý của các em cũng
có những biến đổi, các em rất dễ bị kích động từ những yếu tố bên ngoài. Các
em thường muốn tự khẳng định mình là người lớn, đã trưởng thành chứ không
phải là học sinh trung học nữa; các em thấy mình có quyền và đủ điều kiện tự
giải quyết các vấn đề theo kiểu riêng của mình, tự quyết định cho bản thân mà
không nghe theo sự giáo dục, định hướng của người lớn, kể cả thầy cô, ông bà,
cha mẹ hay anh chị… Một số em nghĩ rằng, thầy cô sẽ không làm gì được mình
ngoài việc nhắc nhở, đe dọa, mời phụ huynh từ đó mà các biểu hiện cá biệt của
các em dần dần xuất hiện. Để giảm thiểu số lượng học sinh cá biệt, cần có sự
phối hợp, giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, tôi thiết nghĩ vai
trò của giáo viên chủ nhiệm là vô cùng quan trọng.
Vì vậy, trong năm học 2013-2014, tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh
nghiệm với đề tài: Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục học
sinh cá biệt.
Hy vọng với sáng kiến này sẽ góp phần thêm cho các thầy cô làm công tác
chủ nhiệm trong quản lý, giáo dục học sinh cá biệt những năm tới.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng vai trò của giáo viên chủ
nhiệm trong công tác giáo dục cho học sinh cá biệt, để đề ra những giải pháp
hợp lý, nhằm nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục học sinh và góp phần hoàn
3
thiện nhân cách học sinh ở trường trung học phổ thông. Đồng thời giúp các em
buông lỏng quản lý ) dẫn đến hiệu quả chưa cao. Vì vậy học sinh cá biệt hàng
năm có giảm nhưng không đáng kể.
Trong công tác chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông, nếu làm đúng
vai trò, trách nhiệm thì giáo viên phải bỏ ra rất nhiều thời gian, rất vất vả trong
việc theo dõi, quản lý lớp. Do tính chất không đồng đều giữa các lớp mà có thể
lớp nhiều học sinh cá biệt, lớp ít học sinh cá biệt. Nếu giáo viên chủ nhiệm lớp
có nhiều học sinh cá biệt thì mức độ quan tâm đến lớp càng lớn, bỏ công sức ra
càng nhiều mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tôi cho rằng, công tác chủ
nhiệm là một việc không dễ dàng, công tác này đòi hỏi ở giáo viên không chỉ có
cái "Tâm" mà còn phải có sự tinh tế, khôn khéo và nghệ thuật ứng xử cho phù
hợp; phải thực sự vừa là người thầy, người cha, người chị vừa là nhà tâm lý học.
Vì giáo dục học sinh cá biệt là nhiệm vụ khó khăn nhất trong công tác chủ
nhiệm, đòi hỏi cao sự nhiệt tình, trách nhiệm và cả niềm tin vào sự thành công
của học sinh, của mỗi thầy, cô chủ nhiệm.
4
Trong lớp học, giáo viên chủ nhiệm là một hình ảnh gần gũi nhất để các
em noi theo. Mỗi hành động, cử chỉ, ứng xử của giáo viên chủ nhiệm sẽ ảnh
hưởng rất nhiều về cách nhìn nhận, đánh giá và quan niệm sống của học sinh, kể
cả phụ huynh đối với ngôi trường và thầy cô mà các em đang theo học. Chính vì
thế hơn ai hết, mỗi thầy, cô giáo đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm phải là tấm
gương sáng về phẩm chất đạo đức và trí tuệ cho học sinh noi theo. Điều đó
không chỉ thể hiện trên bục giảng hay ở sinh hoạt 15 phút đầu giờ, mà mọi lúc,
mọi nơi và trong cả cuộc sống đời thường. Đây chính là phương pháp giáo dục
không lời nhưng mang lại hiệu quả cao; tấm gương sáng là ngôn ngữ của giáo
dục đạo đức con người. Hồ Chí Minh đã từng nói "Một tấm gương sống có giá
trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền".
Trên thực tế trong những năm qua, ở trường trung học phổ thông Phan
Bội Châu, vẫn còn có thầy cô nhận thức chưa đúng về vị trí, vai trò của giáo
giác cao
5
+ Khó khăn: Hầu như lớp học nào cũng có học sinh cá biệt (hàng năm
số lượng học sinh cá biệt của trường thường chiếm 3 – 3,5 %) những học sinh
này đã gây không ít khó khăn cho giáo viên nói chung trong việc giáo dục và
giảng dạy. Các em đến từ nhiều địa phương khác nhau (vùng núi, nông thôn,
thành thị, hải đảo) nên điều kiện kinh tế và nhận thức của các em cũng khác
nhau. Các em học sinh cá biệt thuộc nhiều đối tượng khác nhau (như em Hoàng
Văn Thạch lớp 12A3 (năm nay) do bố mẹ quá nuông chiều nhưng lại thiếu quan
tâm dẫn đến cá biêt, em Ngô Bá Kế lớp 11A4 do tố chất yếu dẫn đến mặc cảm
tự ti, em Đoàn Thị Kim Khánh lớp 10A2 nhà bên đảo Bình Ba nên phải trọ học
dẫn đến bố mẹ không quản lý được việc học của con cái… )
- Về phía nhà trường và giáo viên
+Thuận lợi: Luân quan tâm, sâu sát, luôn giúp đỡ đồng nghiệp và học
sinh.
+ Khó khăn: Phần lớn giáo vên trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều, con nhỏ
- Phía phụ huynh
+ Thuận lợi: Hầu hết đều qua tâm đến việc học và rèn luyện của con cái,
tin tưởng và luôn phối hợp với nhà trường và giáo viên.
+ Khó khăn: Vẫn còn có những phụ huynh quá tin tưởng vào con cái,
liên hệ khó khăn khi giáo viên chủ nhiệm muốn trao đổi những vấn đề liên quan
đến con em họ, phó mặc con cái cho nhà trường….
- Phía bản thân
+ Thuận lợi: Nhà gần, nhiệt huyết, có tinh thần trách nhiệm cao trong
công việc, luôn thương yêu và sẵn sàng giúp đỡ học sinh, bình tỉnh khi giải
quyết công việc.
+ Khó khăn: Chồng bộ đội, con nhỏ nên đôi khi ảnh hưởng đến công
việc.
+ Tìm hiểu thêm các mối quan hệ xã hội của học sinh, xem các em
thường chơi với ai, với những bạn nào, tốt hay xấu, trong lớp, trong trường hay
bên ngoài …
- Phương pháp quan sát: Nghiên cứu qua quá trình hoạt động, giao tiếp
giữa giáo viên với học sinh. Quá trình quan sát, tiếp xúc của giáo viên và học
sinh sẽ giúp cho giáo viên có những hiểu biết về tâm lý, năng khiếu, sở trường,
tính cách, thói quen của học sinh, để từ đó có những biện pháp giáo dục cụ thể
và hiệu quả.
- Phương pháp đúc kết kinh nghiệm
+ Tham khảo những báo cáo tổng kết hàng năm của nhà trường.
+ Tham khảo kinh nghiệm của các trường bạn.
+ Tham khảo kinh nghiệm của các giáo viên khác cùng trường, đặc biệt
là các thầy cô có kinh nghiệm lâu năm trong công tác chủ nhiệm.
- Phương pháp thử nghiệm: Giữa lớp áp dụng và không áp dụng trước
đây như lớp 10A10 so với 2 lớp 10A4 và 10A2 mà tôi đã có bản tổng hợp so
sánh ở phần hiệu quả.
Giáo viên chủ nhiệm càng thu thập được nhiều thông tin, hiểu biết về các
em càng nhiều sẽ là điều kiện thuận lợi cho công tác chủ nhiệm về sau, nhất là
trong việc giúp đỡ, giáo dục học sinh cá biệt.
2.3. Nguyên nhân dẫn đến hành vi cá biệt của học sinh
- Do hoàn cảnh gia đình:
+ Do bị sốc về tâm lý như cha, mẹ hoặc người có ảnh hưởng lớn đến các
em mất; cha, mẹ sống không hạnh phúc, dẫn đến ly thân, ly hôn ít quan tâm đến
suy nghĩ, cảm xúc, diễn biến tâm lý, sức khỏe, việc học tập của con cái.
+ Do cha, mẹ quá bận bịu với công việc, không có thời gian gần gũi, chăm
sóc con cái.
+ Do cha, mẹ không ở chung với con cái - trường học quá xa nên học sinh
phải trọ học và ở với bạn bè.
+ Do phương pháp dạy con chưa phù hợp hoặc quá chủ quan, tự tin cho
rằng con mình đã ngoan, đã tốt.
đó rồi đòi hỏi thầy cô và bạn bè phải cư xử như mình đang ở nhà. Vì vậy giáo
viên chủ nhiệm phải có trách nhiệm giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng nhận thức,
kỹ năng giao tiếp…để các em có thể hiểu rõ vấn đề. Điều đó luôn đòi hỏi ở
người giáo viên chủ nhiệm phải thực sự khéo léo, thực sự kiên trì, nhẫn nại. Hãy
xem mình là người bạn của các em, nghe các em chia sẻ để từ đó tìm ra biện
pháp giáo dục phù hợp.
- Mặt khác, có một số em do hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ ly hôn, ly thân,
cha mẹ không có việc làm, kinh tế khó khăn, không có điều kiện thường xuyên
gần gũi giáo dục con cái, dẫn đến các em đã tìm đến thế giới bên ngoài để bù
đắp, và các em đã tiếp thu nhiều cái xấu ngoài xã hội lúc nào mà cha mẹ không
hề hay biết.
Do đó, giáo viên chủ nhiệm chỉ có thể làm tốt nhiệm vụ giáo dục học sinh
khi hiểu được các em sống trong hoàn cảnh gia đình như thế nào? Cuộc sống
của các em ra sao, mức độ quan tâm của bố mẹ, người thân của các em? Các em
thường chơi với những đối tượng như thế nào? Tìm hiểu môi trường sống của
các em là bước đầu giúp cho giáo viên chủ nhiệm có định hướng giáo dục các
em một cách đúng đắn, phù hợp.
Ví dụ(1)
Em Nguyễn Thị Phương Dung là học sinh của lớp 10ª2 năm nay tôi chủ
nhiệm. Đầu năm em thường xuyên nghỉ học – chỉ 2 tháng em nghỉ tới 12 buổi,
điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập và rèn luyện của em (đính
kèm ở phần hiệu quả). Thế rồi tôi quyết định tìm đến gia đình em để tìm hiểu sự
việc. Đến nơi, đập vào mắt tôi là một căn nhà nhỏ bằng vách đất nằm chênh
vênh giữa núi rừng Cam Phước Tây. Xúc động, bước vào căn nhà tôi cảm thấy
8
run lên khi không thấy gì ngoài cái bàn thờ tổ tiên và hai chiếc cái giường đã cũ
nát. Tôi không thể nói gì hơn nữa và tôi hiểu vì sao em nghỉ học. Em nghỉ vì
không có thời gian, phải ở nhà phụ giúp mẹ trồng mía, làm cỏ, thậm chí đi làm
đó như thế nào.
Ví dụ(2)
Năm học 2011-2012, khi tôi làm giáo viên chủ nhiệm lớp 10A10, em
Hoàng Văn Thạch là một học sinh cá biệt về đạo đức. Khi tôi nhận lớp chủ
nhiệm, nếu nói về nhớ học sinh thì tôi nhớ về em rõ ràng nhất ngay từ buổi đầu
tiên gặp lớp. Tôi nhớ em không phải vì em học giỏi ở cấp II, hay ngoan hiền mà
nhớ gương mặt xương xẩu, gai góc và đầy sẹo của em. Qua quá trình sinh hoạt ở
lớp và tìm hiểu thì tôi được biết em là học sinh có “sở thích” đánh nhau và bỏ
nhà ra đi. Cũng có lẽ vì thế mà ngay từ đầu tôi đã có sự quan tâm đặc biệt đối
với em. Trong suốt năm học, tôi luôn kiên trì động viên, giáo dục, chỉ bảo và
dùng tình thương để cảm hóa em, áp dụng những biện pháp mà tôi vừa nêu trên.
Dần dần tôi nhận thấy sự tiến bộ ở em. Có lúc tôi nhìn thấy sự cảm động trong
9
em mỗi khi tôi hỏi “Dạo này em học thế nào, có ăn được không mà sao gầy thế”.
Và rồi có một lần em đau bụng, em đã tìm đến tôi, hai cô trò cùng nhau vào
bệnh viện trong lúc trời mưa rất to. Kể từ hôm đó, em không giấu giếm tôi
chuyện gì, em đã tiến bộ. Từ một học sinh có hạnh kiểm trung bình ở học kỳ I,
cuối năm em đã trở thành một học sinh ngoan, hạnh kiểm tốt. Hiện em là học
sinh ngoan của lớp 12A3
3.3. Xây dựng cho các em có thói quen, nề nếp tốt trong học tập, rèn
luyện và trong các hoạt động khác
Việc tạo ra những thói quen, nề nếp tốt lúc ban đầu thường không mấy
khó khăn, nhưng để duy trì được những nề nếp, thói quen đó đòi hỏi người giáo
viên chủ nhiệm phải thường xuyên nhắc nhở, chỉ dẫn, uốn nắn. Để đưa các em
học sinh cá biệt vào nề nếp, khuôn phép, chúng ta phải tiến hành những việc như
sau:
- Đưa các em học sinh cá biệt vào hòa nhập với nhóm học sinh ngoan,
gương mẫu. Nên cho các em cùng vui chơi, sinh hoạt với các em học sinh
10
Thường xuyên kể chuyện về những tấm gương đạo đức trong lịch sử và đời
thường (tấm gương càng gần gũi, càng đời thường thì sức giáo dục, thuyết phục
càng cao), những vấn đề liên quan đến tâm lý lứa tuổi hay những vấn đề về khoa
học, để từ đó giáo dục kỹ năng sống cho các em.
- Trong các buổi 15 phút đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần, giáo viên chủ
nhiệm phải thường xuyên đến lớp để theo dõi, nắm bắt tình hình; giáo dục, căn
dặn các em về ý thức học tập, việc chấp hành các quy định của trường của lớp,
những khuyết điểm các em dễ mắc phải; rút kinh nghiệm những hạn chế, yếu
kém của các giờ học trước cũng như biểu dương những cố gắng trong học tập,
rèn luyện của các em; giải đáp kịp thời những vướng mắc của các em.
- Nếu có học sinh vi phạm, giáo viên chủ nhiệm cần cho các em làm
tường trình kiểm điểm, tổ chức sinh hoạt lớp để đưa ra các hình thức xử lý
phù hợp, đúng người, đúng khuyết điểm theo Nội quy đã đề ra. Không vì vị
nể mà xử lý học sinh này nhẹ, học sinh kia nặng để đảm bảo tính nghiêm
minh, công tâm của người thầy. Khi đưa ra các hình thức kỷ luật phải yêu cầu
bắt buộc học sinh đó thực hiện nghiêm túc. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm và
Ban cán sự lớp cần thường xuyên theo dõi học sinh vi phạm trong quá trình
thực hiện; gần gũi, động viên học sinh đó nỗ lực phấn đấu, không tự ti, mặc
cảm. Mỗi khi học sinh cá biệt làm được một việc tốt, đạt điểm tốt thì nên
động viên, khuyến khích các em kịp thời. Vì bản thân các em học sinh cá biệt
vốn thường ương ngạnh, tâm lý bất cần, khó dạy bảo, hay so sánh, tị nạnh
nhưng thích được người khác quan tâm, khen ngợi, để ý. Nếu giáo viên chủ
nhiệm không khéo trong quản lý, giáo dục lập tức các em sẽ phản ứng ngược
lại. Vì thế, nếu phải cân nhấc giữa hai mức hạnh kiểm cho học sinh thì hãy
chọn mức cao hơn. Hãy chấp cho đứa trẻ đôi cánh, hãy tin ở em, cho em hi
vọng.
3.5. Xếp chỗ ngồi
viên chủ nhiệm. Sự quan tâm của nhà trường sẽ động viên giáo viên chủ nhiệm
hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
Ví dụ(3)
Năm học 2012-2013, khi tôi tiếp nhận chủ nhiệm lớp 10A4. Đầu vào của
học sinh lớp tôi thấp hơn so với các lớp khác về số lượng học sinh giỏi. Nhưng
điều đó không quan trọng bằng việc khi có điểm khảo sát đầu năm và điểm kiểm
tra 15 phút. Lớp tôi có em Nguyễn Bá Kế thi khảo sát đầu năm có tới 7/12 môn
dưới điểm trung bình. Kiểm tra 15 phút có môn em bỏ giấy trắng. Đặc biệt kết
thúc học kỳ I, mặc dù em là một học sinh ngoan, nhưng bị hạnh kiểm khá với lý
do học lực yếu. Kết quả học kỳ I em có 5 môn dưới trung bình, đặc biệt môn
Toán và môn Anh văn dưới 3,0. Buồn vì học sinh, nhưng tôi cũng buồn cho bản
thân mình vì không giúp gì về việc học tập cho em ngoài bộ môn của mình. Thế
rồi tôi đã tìm đến các thầy cô bộ môn, phối hợp cùng gia đình tìm cách giúp đỡ
em, động viên và tạo cho em niềm tin để vượt qua khó khăn. Tôi đã nhờ cô Lê
Thị Hồng Ân giáo viên bộ môn toán kèm em. Với lòng nhiệt huyết của một cô
giáo trẻ mới ra trường, hiểu tâm lý học sinh, theo thời gian em đã cảm nhận và
làm được những điều mà cả cô giáo, gia đình và em đều mong muốn. Từ một
học sinh yếu của học kỳ I, sang học kỳ II em có học lực trung bình, hạnh kiểm
tốt. Điều tiến bộ nhất ở em đó là môn toán, từ 2,9 của học kỳ I, lên 6,8 của học
kì II. Hiện nay em đang là học sinh lớp 11A4.
3.7. Phối hợp với gia đình
Đã làm cha, làm mẹ thì ai cũng yêu quý, chăm lo đến con cái, nhất là khi
các em còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Song mức độ và cách quan tâm của
mỗi gia đình luôn khác nhau.
Vì vậy, ngay khi tiếp nhận, quản lý học sinh, ngoài các thông tin về lý
lịch, giáo viên chủ nhiệm cố gắng đăng ký được số điện thoại của cha mẹ học
sinh. Đây là cơ sở thuận lợi nhất giúp giáo viên chủ nhiệm trao đổi gián tiếp với
học sinh.
- Đối với học sinh cá biệt, hàng tháng (hoặc khi có sự bất thường của các
em), giáo viên chủ nhiệm nên thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của các
lớp 10A10 (chưa thực hiện) 10A4, 10A2 (thực hiện) để quý thầy cô thấy rõ.
Nguyên nhân dẫn đến
hành vi cá biệt của HS
Do kinh
tế
Tư chất
yếu
Nguyê
n nhân
khác
Lớp Sĩ
số
Năm học
Số SH
cá
biệt
(Đầu
năm)
Số SH
cá biệt
(HKI)
Số SH
cá
biệt
(cuối
2012-2013 6 em 3 em 0 em 1 0,23
2 0,46
3
0,69
10A2 41
2013-2014 5 em 1 em 0 em 2 0,48
0 0 3
0,73
13
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ HỌC LỰC VÀ HẠNH KIỂM LỚP 10A10
NĂM HỌC 2011 - 2012
STT
Xếp loại
(Học kì I)
Xếp loại
22 Nguyễn Đình Phong K T G T G T
23 Nguyễn Thị Thanh Phương TB K TB K TB K
24 Bùi Thị Kim Quy G T G T G T
25 Liêu Thị Thu Quyên K T K T K T
26 Đầu Công Thành Y TB TB TB TB TB
27 Huỳnh Thị Thanh Thảo TB T K T K T
28 Nguyễn Phương Dạ Thảo K T K T K T
29
Lữ Ngọc Thạch Y Y TB K TB K
30 Nguyễn Trọng Thắng TB T TB T TB T
31 Huỳnh Thanh Thuý Y K TB K TB K
32 Huỳnh Thị Minh Thư TB T K T K T
33 Nguyễn Thị Thanh Thư K T TB T TB T
34 Nguyễn Thị Thủy Tiên K T K T K T
35
Nguyễn Thị Phương Trinh Y K Y K Y K
36 Phạm Bảo Trung TB K Y K Y K
37
Ngô Minh Tuấn Y K TB K Y K
38 Võ Thúy Hoài Uyên TB T TB T TB T
39 Tô Trường Khánh Viên K T G T G T
40
Nguyễn Quang Vinh Y K Y K Y K
41 Huỳnh Quốc Vương K T K T K T
42 Nguyễn Huỳnh Thanh Vy TB K TB K TB K
14
17 Đỗ Thị Mỹ Lệ TB T K T K T
18 Nguyễn Phi Long TB K TB T TB T
19 Nguyễn Thị Thu Ngân TB T TB T TB T
20 Nguyễn Trọng Nghĩa TB T TB T TB T
21 Nguyễn Hồng Ngọc K T K T K T
22 Nguyễn Hoàng Trung Nguyên TB T TB T TB T
23
Tô Thị Hồng Nhi Y K TB T TB T
24 Nguyễn Thị Quỳnh Như TB T TB T TB T
25 Phan Minh Quân K T K T K T
26 Võ Minh Quân K T K T K T
27 Nguyễn Văn Thắng TB T TB T TB T
28 Nguyễn Thị Thanh K T G T G T
29 Phan Phước Thiện K T K T K T
30 Lê Quỳnh Thư TB T TB T TB T
31 Lê Thanh Thuận TB T TB T TB T
32 Lương Thị Ngọc Thuận K T K T K T
33 Bùi Nguyễn Thủy Tiên G T K T K T
34 Mai Đình Tiến TB T K T K T
36 Đào Thị Nguyệt Trinh TB K T K T
37 Trịnh Việt Trung K T G T G T
38
Nguyễn Minh Tuấn Y K TB T TB T
39 Võ Xuân Tùng TB K TB T TB T
40 Nguyễn Đồng Thu Vân TB T K T K T
41 Nguyễn Trần Thái Việt TB K TB T TB T
42 Mai Thị Thuý Vy TB T TB T TB T
43 Nguyễn Thị Hà Vy Y K TB T TB T
13 Đặng Thị Kim Hương TB T K T K T
14
Nguyễn Đình Liên Hương TB T K K K T
15
Đoàn Thị Kim Khánh Y T Y K TB T
16 Nguyễn Ngọc Ái Khuê K T G T G T
17 Phạm Thị Tuyết Mai K T G T G T
18 Võ Minh Ngà K T G T G T
19 Lê Nguyễn Kim Ngân K T K T G T
20 Nguyễn Minh Nhã TB T K T K T
21 Lê Hoàng Yến Nhi TB T K T K T
22 Phan Anh Quỳnh Như K T G T G T
23 Đặng Mỹ Linh Nữ K T K T G T
24 Trương Bảo Phúc K T K T K T
25 Lê Thị Phương K T K T K T
26 Trần Quang Thanh TB T K T K T
27 Lê Ái Thi K T G T G T
28 Nguyễn Phước Thiện TB T TB T TB T
29 Trần Thạch Thiện TB T K K K K
30 Nguyễn Thị Thanh Thủy G T G T G T
31 Trần Bích Thủy G T G T G T
32 Trần Lưu Đông Tiên G T G T G T
33 Phan Thị Bích Trang G T G T G T
34 Đặng Thị Bảo Trâm K T K T K T
35 Trương Thị Đoan Trinh G T G T G T
36 Hoàng Huy Trường TB T K T K T
37 Huỳnh Thị Ánh Tuyết K T G T G T
38
Nguyễn Hà Uyên Y K K T K T
39 Trương Nữ Phương Uyên K T K T K T
Vị thứ
Lớp
Vị thứ
10a1 3 10a1 3 10a1
2
10a1
3
10a2 9 10a2 15
10a2
1
10a2
1
10a3 10 10a3 13 10a3 14 10a3 15
10a4 7
10a4 3
10a4 6 10a4 8
10a5 2 10a5 7 10a5 3 10a5 6
10a6 4 10a6 9 10a6 4 10a6 4
10a7 9 10a7 6 10a7 5 10a7 5
10a8 5 10a8 14 10a8 15 10a8 14
10a9 8 10a9 10 10a9 11 10a9 10
10a10
12
10a10 1 10a10 13 10a10 13
10a11
14 10a11 4 10a11 12 10a11 12
10a12
sinh noi theo. Giáo viên cần phải luôn cân nhắc cẩn trọng trong từng lời nói, cử
chỉ đến hành động của mình. Người giáo viên cần phải ghiêm túc trên bục giảng,
nhưng nhẹ nhàng, gần gủi, cởi mở, tình cảm trong đời thường để các em có thể
tâm sự với cô những vấn đề khúc mắc trong lòng mà các em không thể nói với
cha mẹ hay bạn bè. Từ đó các em tìm thấy điểm tựu nơi thầy cô mà cố gắng
phấn đấu. Tôi xin nhắc lại một lần nữa câu nói của Hồ Chí Minh “Một tấm
gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”
- Bài học về tìm hiểu học sinh
Giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu phải kỹ lưỡng, chính xác, biết chắt lọc
thông tin, không áp đặt chủ quan. Phối hợp tìm hiểu từ gia đình, nhà trường và
xã hội đặc biệt là địa phương nơi em đang sinh sống. Tìm hiểu qua học bạ các
năm, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm những năm học trước.
- Bài học kinh nghiệm trong giáo dục
Giáo dục học sinh nói chung, học sinh cá biệt nói riêng không nên nóng
vội. Chúng ta hãy kìm chế, bình tĩnh, kiên trì và mềm mỏng. Luôn thể hiện sự
thương yêu, gần gũi và tin tưởng các em. Chúng ta hãy luôn theo dõi, giúp đỡ,
giáo dục các em và đừng bao giờ đánh mất niềm tin. Tình thương yêu, lòng kiên
trì và niềm tin luôn là chìa khóa thành công trong công tác giáo dục học sinh cá
18
biệt. Đồng thời, xử phạt đúng người, đúng tội, khen thưởng kịp thời khi các em
có biểu hiện tiến bộ cho dù là việc nhỏ. Qúy thầy cô hãy cố nhìn thấy những ưu
điểm ẩn sâu trong mỗi em, hãy chắp cho các em những đôi cánh.
- Bài học về phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội
Giáo dục học sinh cá biệt cần phải có sự đồng thuận và cũng là trách
nhiệm của cả gia đình, nhà trường và xã hội; do đó, giáo viên chủ nhiệm cần
phải phối hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình và xã hội, không nên giáo dục
bằng lí thuyết mà bằng những việc làm cụ thể, điển hình.
3. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tâm lý học đại cương - Hà Nội 1995 - PGS. Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên)
2. Thực hành về giáo dục - Hà Nội 1995 - TS. Nguyễn Đình Chỉnh.
3. Phương pháp dạy học tích cực - Nguyễn Kỳ, NXB giáo dục 1995.
4. Thông tư 58/TT-BGD-ĐT (ngày 12/12/2011) Về việc ban hành quy chế
đánh giá, xếp loại học sinh THPT - Bộ GD&ĐT.
5. Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, 6/1968 - Hồ
Chí Minh.