Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 1
NỘI DUNG CHI TIẾT
1. TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH 2
1.1. Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh 2
1.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 3
2. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THÔNG QUA TÒA ÁN 7
2.1. Sơ lược về hệ thống tòa án Việt Nam với chức năng giải quyết tranh chấp kinh doanh 7
2.2. Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh tại tòa án 8
2.3. Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh 12
2.3.1. Thẩm quyền theo nội dung tranh chấp (theo vụ, việc) 12
2.3.2. Thẩm quyền theo cấp tòa án 13
2.3.3. Thẩm quyền tòa án theo lãnh thổ 15
2.3.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn 15
2.4. Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng: 17
2.4.1. Cơ quan tiến hành tố tụng: 17
2.4.2. Người tham gia tố tụng: 17
2.4.3. Người tiến hành tố tụng 18
2.5. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ tranh chấp kinh doanh tại tòa án 19
2.5.1. Thủ tục xét sơ thẩm 19
2.5.2. Thủ tục xét Phúc thẩm 27
2.5.3. Thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật 30
2.6. Vấn đề thi hành các bản án, quyết định của Tòa án 34
3. TÌNH HUỐNG 36
4. TRÒ CHƠI Ô CHỮ 39
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án
và các yếu tố sản xuất phi truyền thống làm phát sinh nhiều dạng tranh chấp mới như:
tranh chấp giữa thành viên công ty và công ty, tranh chấp giữa các thành viên với nhau
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 3
trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể công ty; tranh chấp mua bán các loại cổ
phiếu, trái phiếu; tranh chấp về liên doanh, liên kết kinh tế; tranh chấp trong các lĩnh vực
quảng cáo, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn, giám định,…; tranh chấp liên quan đến hối phiếu
và séc, tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ các bí mật thương mại… Có thể nói, sự thay
đổi về nội dung và hình thức các tranh chấp trong kinh doanh trong quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế mới đã và đang đòi hỏi các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh phải được xây dựng trên cơ sở các nguyên lý cơ bản của cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước.
1.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh và vì vậy giải
quyết các tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ kinh tế. Theo
hiểu biết chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là việc lựa chọn các phương thức,
biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên,
tạo lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện hiện nay cần phải đáp ứng
các yêu cầu sau:
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh.
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh.
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường.
- Kinh tế nhất (ít tốn kém).
Sự tác động của những đặc điểm riêng biệt về phong tục, tập quán, truyền thống,
trình độ phát triển kinh tế-xã hội, đã làm cho các cơ chế giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh của các quốc gia rất khác nhau. Mặc dù vậy, căn cứ vào nhu cầu điều chỉnh của
nhiều quốc gia, hòa giải được xem xét là hình thức giải quyết tranh chấp quan trọng và
đây cũng là cơ sở cho việc ra đời của nhiều trung tâm hòa giải quốc tế. Ở Việt Nam, do
thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể, cũng như các điều kiện chuyên môn, do thói quen
trong thương mại và vì vậy dường như trung gian hòa giải còn mang nặng tính lý tưởng,
chưa được phổ biến.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 5
Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án.
Giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại.
Đây là hai phương thức được sử dụng phổ biến tại Việt Nam hiện nay. Mỗi
phương thức chứa đựng những thế mạnh và hạn chế riêng, do đó việc đi sâu tìm hiểu sẽ
cho chúng ta nhìn nhận được góc nhìn của các nhà lập pháp Việt Nam cũng như sự quan
tâm, của các doanh nghiệp (chủ thể tranh chấp) đối với hai phương thức này.
Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa “Giải quyết tranh chấp thông qua
Tòa án” và “Giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại”
Giống nhau: Đều là các tổ chức xét xử các tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ
kinh tế nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại.
Khác nhau:
Các tiêu chí so sánh
Trọng tài thương mại
Tòa án
1. Cách thức tổ chức
Là cơ quan trung gian – tổ
chức phi chính phủ, một tổ
chức mang tính chất xã hội
– nghề nghiệp.
Là cơ quan tư pháp của Nhà
nước.
quyết tranh chấp
Bảo vệ quyền lợi của bên bị
hại trên cơ sở pháp lý cố
gắng với hòa giải nhân
nhượng.
Dựa vào pháp luật giải quyết.
Giải quyết tranh chấp nhân
danh ý chí của các bên,
không nhân danh quyền lực
tự pháp của nhà nước.
Khả năng tác động của các bên rất
hạn chế, đôi lúc nó không thể hiện
được hết nguyện vọng của các
bên tranh chấp.
Xét xử kín
Xét xử công khai
6. Giá trị phán quyết
khi xét xử
Xử một lần mang tính chung
thẩm (chỉ một cấp xét xử)
Xử qua các bước sơ thẩm, phúc
thẩm, chung thẩm (Qua nhiều cấp
xét xử)
7. Thời gian phán
quyết khi xét xử
Hạn chế tốn kém thời gian
Mất nhiều thời gian
8. Chi phí
Cao
nhân dân cấp huyện không tổ chức thành các toà chuyên trách.
- Toà án nhân dân cấp tỉnh: Gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thư Ký toà án. Trong cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân cấp tỉnh có Uỷ
ban Thẩm phán (gồm Chánh án, các Phó Chánh án Toà án cấp tỉnh, một số Thẩm phán
Toà án cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh
án Toà án cấp tỉnh; tổng số không quá 9 người); Các Toà chuyên trách (Toà hình sự, Toà
dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính). Trong mỗi toà chuyên trách có Chánh
toà, Phó chánh toà, Thẩm phán, Thư ký toà án; Bộ máy giúp việc.
- Toà án nhân dân tối cao: Gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán và
Thư ký toà án. Trong cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao có Hội đồng Thẩm phán
Toà án nhân dân tối cao (gồm Chánh án, các Phó Chánh án và một số thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao; tổng không quá 17 người); các Toà chuyên trách (Toà hình sự, Toà dân
sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm). Trong mỗi Toà
chuyên trách và Toà phúc thẩm đều có các Chánh toà, các Phó Chánh toà, Thẩm phán,
Thư ký Toà án; Bộ máy giúp việc.
Toà kinh tế ở Việt Nam không phải là một hệ thống Toà án riêng biệt mà là một
toà chuyên trách nằm trong hệ thống Toà án nhân dân tối cao và Toà án nhân dân cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong kinh
doanh. Trước đây, theo quy định tại Pháp lệnh về giải quyết các vụ tranh chấp kinh tế
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 8
(1994), hầu hết các vụ tranh chấp kinh tế đều thuộc quyền xét xử của toà án nhân dân cấp
tỉnh. Những vụ việc tranh chấp có giá trị nhỏ (dưới 50 triệu đồng) và không có nhân tố
nước ngoài thuộc thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện. Theo bộ luật Tố tụng
dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, toà án nhân dân cấp huyện được tăng
thêm thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại giữa các cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Việc mở
rộng thẩm quyền và tăng cường đội ngũ thẩm phán toà án cấp huyện về số lượng và chất
phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và sử dụng các biện pháp hợp pháp do pháp luật quy
định để xác minh tội phạm và xử lý người phạm tội. Điều này có nghĩa là, đối với tố tụng
hình sự, tòa án hoàn toàn ở thế chủ động, chỉ cần nhận được tin báo, tố giác về tội phạm
hay tự bản thân phát hiện ra thì cơ quan tiến hành tố tụng lập tức có trách nhiệm khởi kiện
vụ án ngay cả khi không nhận được đơn tố cáo của các bên. Còn đối với hình thức giải
quyết tranh chấp bằng tòa án, các bên đương sự có quyền tự quyết định khởi kiện và mức
độ yêu cầu tòa án giải quyết; lúc này, tòa án hoàn toàn ở thế bị động, nếu như các bên
đương sự không có đơn khởi kiện thì tòa án không có trách nhiệm phải tiến hành giải
quyết vụ án.
Nguyên tắc hòa giải:
(Theo Điều 10 BLTTDS 2004)
Khi thụ lý vụ việc, Tòa án có quyền và nghĩa vụ tiến hành hòa giải và tạo điều kiện
thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Hòa giải
được xem là một thủ tục bắt buộc trong tố tụng tòa án. Khi hòa giải không thành, Tòa án
mới đưa vụ án ra xét xử.
Đây là một nguyên tắc đặc biệt có trong luật tố tụng dân sự mà không có trong luật
tố tụng hình sự, theo đó Tòa án sẽ tạo điều kiện cho các bên tiến hành hòa giải, thỏa thuận
để thông cảm và hiểu nhau hơn, từ đó có thể giữ vững mối quan hệ hợp tác lâu dài.
Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh:
(Theo Điều 6 BLTTDS 2004)
Theo nguyên tắc này, khi giải quyết vụ tranh chấp kinh tế, Tòa án căn cứ vào các
chứng cứ mà đương sự đưa ra. Các bên đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 10
chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Ngược lại, khi phản đối yêu
cầu của người khác đối với mình thì cũng phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.
Tuy nhiên, đối với luật tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về
của mình. Nguyên tắc này cũng bao gồm cả việc đương sự có quyền yêu cầu tòa án áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ các quyền hợp pháp của mình.
Trong BLTTHD 2003, nguyên tắc này cũng thể hiện rõ ở Điều 11 quy định về việc
bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, việc áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời không được quy định ở Luật tố tụng Hình sự.
Có thể khái quát bằng bảng so sánh sự khác nhau giữa các nguyên tắc của Luật tố
tụng Dân sự và Luật tố tụng Hình sự bằng bảng sau:
Nguyên tắc
Luật Tố tụng dân sự 2004
Luật Tố tụng hình sự 2003
Quyền tự định đoạt
của đương sự
- Có quyền tự do lựa chọn
phương thức giải quyết.
- Có quyền tự quyết định việc
khởi kiện, quyết định về phạm
vi, mức độ yêu cầu tòa án giải
quyết.
- Không có giá trị.
- Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm khởi tố vụ án.
Hòa giải
Thủ tục bắt buộc trước khi Tòa
án xét xử.
Không có nguyên tắc hòa giải.
Nghĩa vụ chứng
minh
Đương sự
khỏi. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị xâm phạm là nghĩa vụ
của Nhà nước, và thẩm quyền này được giao cho Toà án.
Quyền khởi kiện vụ án hay yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình là một trong các quyền cơ bản của cá nhân; tổ chức được pháp luật ghi nhận (Theo
Điều 4 BLTTDS 2004). Và thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại của
toà án được quy định tại điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS), bao gồm:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh của cá nhân, tổ chức có đăng kí
kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: Cung ứng dịch vụ; Phân
phối; Đại diện, đại lý; Kí gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, Kỹ thuật;
Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa; Vận
chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu,
trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tư tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai
thác. (Theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004)
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ
chức với nhau nhau và đều có mục đích lợi nhuận. (Theo khoản 2 Điều 29 BLTTDS
2004)
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,
chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. (Theo khoản 3 Điều 29 BLTTDS
2004)
- Các tranh chấp khác về kinh doanh mà pháp luật có quy định. (Khoản 4 Điều 29
BLTTDS 2004)
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 13
Ngoài những thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên, toà án cũng có thẩm quyền
giải quyết những yêu cầu khác về kinh doanh như: yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài
Thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng
tài Thương mại; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh
thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, tòa án nước ngoài.
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án
nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài; yêu cầu
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước ngoài.
Nhưng theo điểm b khoản 1 Điều 33 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, theo số 65/2011/QH12, tranh chấp về kinh doanh, thương
mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của BLTTDS đều thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện. Và theo khoản 3 Điều 33 của Bộ luật này,
những tranh chấp trên có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư
pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho
Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Trong một số trường hợp cần thiết, Toà án nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền sơ
thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện mà tòa án
nhân dân cấp tỉnh lấy lên để xét xử. Thông thường, tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy các
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện lên để giải quyết trong những
trường hợp việc vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn, phức tạp; việc điều tra
thu thập chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phải giám định kỹ thuật phức tạp; đương sự là
cán bộ chủ chốt ở địa phương, những người có uy tín trong tôn giáo mà xét thấy việc xét
xử ở tòa án nhân dân cấp huyện không có lợi về chính trị hoặc vụ việc có liên quan đến
thẩm phán, phó chánh án, chánh án tòa án nhân dân cấp huyện. Theo yêu cầu của đương
sự, tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng có thể lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án
nhân dân cấp huyện lên để xét xử nếu thấy có lý do chính đáng. (Theo khoản 2 Điều 34
BLTTDS 2004)
Ngoài ra, theo pháp luật tố tụng dân sự, các tranh chấp về thẩm quyền giữa các tòa
án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh do chánh án tòa án nhân dân cấp tỉnh giải
quyết.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 15
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 16
- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu
cầu tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải
quyết; (Điểm a khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2004)
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể
yêu cầu tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết; (Điểm b
khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2004)
- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể
yếu cầu toàn án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết. (Điểm c khoản 1 Điều 36 BLTTDS
2004)
- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa
án nơi hợp đồng được thức hiện giải quyết. (Điểm d khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2004)
- Nếu các vị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có
thể yêu cầu tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết. (Điểm h
khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2004)
- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều đia phương khác nhau thì
nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết. (Điểm i
khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2004)
Tình huống:
Công ty CP Phúc Sinh được thành lập vào năm 2001 tại Hải Phòng và được Cục
Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chữ Phúc Sinh.
Đến cuối năm 2008, công ty ký hơp đồng làm việc với 1 công ty khác và phát hiện
Công ty CP Thương mại xuất nhập khẩu nông sản Phúc Sinh tại Đồng Nai này có ngành
nghề đăng ký kinh doanh trùng nhiều lĩnh vực với công ty. Ngoài ra, phần tên riêng Phúc
Sinh trong tên thương mại Công ty CP Thương mại xuất nhập khẩu nông sản Phúc
Sinh cũng được xem là không có khả năng phân biệt vì trùng với nhãn hiệu của Công ty
CP Phúc Sinh đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại này ra đời.
Người tham gia tố tụng được gọi chung là đương sự.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 18
Theo Điều 56 BLTTDS, đương sự có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao
gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nguyên đơn là
người khởi kiện vụ án;
- Bị đơn chính là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của mình bị người đó xâm phạm;
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là người không khởi kiện cũng không bị
kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ nên được
quyền tham gia.
Ngoài ra, tham gia tố tụng còn có: người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự (thường là Luật sư), người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,
người đại diện.
2.4.3. Người tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thư kí tòa án; Viện trưởng viện kiểm sát và Kiểm sát viên (Khoản 2, Điều 39, BLTTDS
2004). Nhiệm vụ chính của người tiến hành tố tụng như sau:
- Chánh Tòa án là người tổ chức công tác giải quyết vụ việc dân sự thuộc thẩm
quyền của Tòa án (Khoản 1a, Điều 40).
- Thẩm phán là người tiến hành lập hồ sơ vụ án, tiến hành hòa giải, quyết định đưa
vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia phiên tòa. (Theo Điều 41)
- Hội thẩm nhân dân là người nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa. (Theo
Điều 42)
- Thư kí tòa án là người chuẩn bị các công tác nghiệp vụ trước khi khai mạc phiên
tòa, phổ biến nội quy phiên tòa, báo cáo danh sách những người được triệu tâp đến phiên
tòa, ghi biên bản phiên tòa. (Theo Điều 43)
- Viện trưởng viện kiểm sát là người tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát
Luật thương mại 2005 về thời hiệu khởi kiện, theo đó, thời hiệu khởi kiện các tranh chấp
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 20
trong hoạt động thương mại là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm,
trừ trường hợp được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 Luật Thương mại.
(Theo khoản 1 điều 167 BLTTDS 2004) Sau khi nhận đơn khởi kiện, tòa án
nghiên cứu đơn và những tài liệu có liên quan do nguyên đơn cung cấp. Nếu xét thấy vụ
việc thuộc thẩm quyền, tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án. (Theo điều 171 BLTTDS 2004)
Tòa án thông báo cho người khởi kiện yêu cầu nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ
án kể từ khi người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn (trừ những trường
hợp được miễn theo quy định).
(Theo điều 172 BLTTDS 2004) Sau khi thụ lý vụ án, tòa án phân công một Thẩm
phán trực tiếp giải quyết vụ án; (Điều 174 BLTTDS 2004) đồng thời thông báo bằng văn
bản (về việc đã thụ lý) cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan và cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.
(Theo điều 175 BLTTDS 2004) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
thông báo, người được thông báo (bị đơn) phải nộp cho tòa án bản ý kiến của mình đối
với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có. (Theo khoản 1 Điều
176 BLTTDS và Luật sửa đổi bổ sung 2011) Người được thông báo có quyền yêu cầu
tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi
kiện. Trong một số trường hợp, bị đơn có quyền kiện ngược lại nguyên đơn (phản tố).
Yêu cầu phản tố cũng phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về
thủ tục khởi kiện.
Hòa giải và chuẩn bị xét xử
(Theo khoản 1 Điều 179 BLTTDS 2004) Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là
bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là
vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 22
Nếu việc hòa giải giữa các đương sự không thành và vụ án không bị tạm đình chỉ,
đình chỉ giải quyết (theo Điều 191 BLTTDS 2004) trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì
tòa án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. (Theo khoản 2 Điều 195 BLTTDS 2004)
Quyết định này phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra
quyết định. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tòa án
phải mở phiên tòa sơ thẩm. Nếu có lý do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng.
Phiên tòa sơ thẩm
- Các bên đương sự phải có mặt tại phiên tòa khi tòa án xét xử vụ án. (Theo Điều
199, 200, 201 BLTTDS 2004 và luật sửa đổi bổ sung 2011) Trường hợp đương sự vắng
mặt (lần thứ nhất) có lý do chính đáng thì tòa án hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, nhằm tránh trường hợp đương sự cố tình vắng mặt để
trốn tránh nghĩa vụ, nên luật tố tụng dân sự quy định:
o (Theo khoản 2 Điều 199) Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện, và tòa án ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét cử vắng mặt. Trong trường
hợp này, nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
o (Theo khoản 2 Điều 200) Nếu bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt thì tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
o (Theo khoản 2 Điều 201) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt
họ.
- Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự, hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có 1 thẩm
phán và 2 hội thẩm nhân dân, trường hợp đặc biệt thì có thể gồm 2 thẩm phán và 3 hội
thẩm nhân dân. Trong các vụ tranh chấp dân sự, kinh doanh, kiểm sát viên chỉ bắt buộc
phải tham gia phiên tòa kinh tế đối với những vụ án do tòa án thu nhập chứng cứ, mà
Bước 2: Thủ tục hỏi tại phiên tòa
- Thủ tục hỏi tại phiên tòa được bắt đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa hỏi nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, … hay không. (Theo Điều 218 BLTTDS
2004) Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc
thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu. Nếu có đương
sự tự nguyện rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình, thì Hội đồng xét xử chấp nhận
và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu mà đương sự đã rút.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án 24
- (Theo Điều 220 BLTTDS 2004) Trong bước tố tụng này, Chủ tọa phiên tòa hỏi
các đương sự xem họ có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không.
Nếu các đương sự thỏa thuận được và các thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp
luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của
đương sự về việc giải quyết vụ án.
- (Theo khoản 1 Điều 221 BLTTDS 2004) Trường hợp có đương sự vẫn giữ
nguyên yêu cầu của mình và các bên không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu thực hiện việc hỏi bằng việc nghe lời trình bày
của các đương sự theo trình tự sau:
o Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu của
nguyên đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến.
o Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối
với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn và chứng cứ để chứng
minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến.
o Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người
Sau khi kết thúc việc hỏi, hội đồng xét xử chuyển qua phần tranh luận tại tòa. Việc
tranh luận nhằm tạo điều kiện cho các bên đương sự được trình bày quan điểm của mình
về vụ việc, phản bác quan điểm của bên kia hoặc có những ý kiến bổ sung. Qua tranh
luận, Hội đồng xét xử có được cái nhìn toàn diện về bản chất vụ việc. (Theo khoản 1
Điều 232 BLTTDS 2004) Trình tự phát biểu khi tranh luận được quy định như sau:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu. Nguyên đơn có
quyền bổ sung ý kiến.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu. Bị đơn có quyền bổ
sung ý kiến.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phát biểu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.