MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHU CẦU 7
DU LỊCH THỂ THAO BIỂN 7
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ những năm trước công nguyên, thông qua việc tổ chức Đại hội thể
thao Olympic đã chứng mình rằng thể thao đã trở thành một phần quan trọng trong
cuộc sống của con người. Tuy nhiên, phải tới tận những năm 1960 của thế kỷ 20, thì
thể thao mới thực sự trở thành một hoạt động quốc tế, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm
của giới truyền thông, của các nhà đầu tư, của những người tham gia và cả sự quan
tâm của giới chính trị. Trong khi đó, ngành du lịch với hàng triệu lượt khách và
hàng tỷ đô la doanh thu hàng năm đang trở thành một ngành kinh tế xã hội có tốc độ
phát triển nhanh và mạnh nhất. Hai hoạt động: Thể thao và du lịch giờ đây giống
như hai yếu tố cũng hỗ trợ nhau để phát triển trong một thể thống nhất. Những sự kiện
thể thao lớn được tổ chức tại rất nhiều quốc gia trên thế giới thường thu hút những
lượng khách du lịch khổng lồ và đi kèm với nó là những nguồn thu nhập khổng lồ. Ví
dụ như vào năm 1997, giải chạy quốc tế tại New York đã thu hút hơn 28,000 người
tham dự trong đó hơn 12,000 người là đến từ các quốc gia khác ngoài Mỹ. Không chỉ
dừng lại ở các giải thể thao, ngày nay tại rất nhiều điểm du lịch danh tiếng, các hoạt
động thể thao luôn được đưa vào như là một yếu tố gia tăng thêm điểm hấp dẫn du lịch
cho du khách, giúp du khách có nhiều lựa chọn hơn trong thời gian lưu trú tại điểm du
lịch cũng như đa dạng hóa được các sản phẩm du lịch tại điểm.
Tại Việt Nam, trong một số năm gần đây, ngoài việc mở rộng thêm các điểm
du lịch mới thì nhu cầu làm mới lại điểm du lịch cũ cũng đã được chú trọng. Ngoài
là cuốn “”. Tại cuốn sách này, những định nghĩa về du lịch thể thao,
mối tương tác giữa du lịch và thể thao; ảnh hưởng của du lịch thể thao tới nền kinh
tế và xã hội và ngược lại: những ảnh hưởng của các yếu tố xã hội tới du lịch thể
thao; những dự báo về tương lai của du lịch thể thao được hai tác giả này phân tích
một cách rất cặn kẽ và đưa ra nhiều lý giải khoa học trên cơ sở thực tiễn.
3
Bên cạnh đó còn có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu dựa trên thực
tiễn về vấn đề du lịch thể thao nữa như cuốn: “ !
"#$ được xuất bản năm 1997 bởi nhà xuất bản Eastbourne,
Anh. Cuốn sách đưa ra những lý giải và nhận định về du lịch thể thao trong điều
kiện kinh tế phát triển mạnh mẽ, nghiên cứu điển hình tại Anh trong những năm từ
1995 – 1997. Ngoài ra còn rất nhiều cuốn sách khác cũng nghiên cứu về vấn đề này,
tuy nhiên thực tiễn nghiên cứu lại được áp dụng tại Châu Á, điển hình là một quốc
gia láng giềng rất gần gũi về mặt kinh tế cũng như điều kiện phát triển du lịch với
Việt Nam- Đó là Thái Lan thông qua nghiên cứu của Sagawa,T., xuất bản tháng 8
năm 1996: cuốn%&'()*! +%+,")!
$ – Nhà xuất bản Tokyo, Nhật Bản.
Cùng viết về đề tài phát triển du lịch thể thao tại các nước đang phát triển: tác
giả Lea, J. trong cuốn: &-./(0"10
" xuất bản năm 2003 tại nhà xuất bản Routledge, London, Anh lại nêu lên xu
hướng dịch chuyển nhu cầu du lịch thể thao thế giới từ trục Châu Âu và Bắc Mỹ về
tới các nước có nền kinh tế đang phát triển, có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và vẫn
còn giữ được nét hoang sơ và nét văn hóa bản địa đặc sắc như các quốc gia tại Đông
Nam Á, Carrinbean, và vùng Nam Mỹ
Hay như cuốn sách: &(2." của tác giả P.
Johnson và B. Thomas (Eds.), xuất bản năm 1992 - nhà xuất bản London Mansell,
Anh đã có những nghiên cứu sâu sắc về sự thay đổi nhu cầu của con người trong du
lịch, từ truyền thống tới hiện đại. Cuốn sách cho thấy rằng, nhu cầu về du lịch của
con người là không ngừng nghỉ, không chỉ dừng lại ở một số mục đích như thư
giãn, giải trí mà ngày càng hướng về lựa chọn khám phá, chứng tỏ cái tôi của bản
5. Bố cục của đề tài
Với đề tài: “Xác định nhu cầu du lịch thể thao đối với khách du lịch tại
Vịnh Hạ Long”, bố cục đề tài được sắp xếp như sau:
5
Phần Mở đầu giới thiệu về lý do chọn đề tài, một số nét về các tài liệu đã
nghiên cứu về đề tài, nêu lên đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Phần nội dung của đề tài được chia làm hai chương chính như sau:
Chương 1: nêu các vấn đề về lý luận chung về du lịch thể thao biển. Trong
chương này các vấn để chung mang tính chất lý luận như nhu cầu du lịch, nhu cầu du
lịch thể thao, các phương pháp xác định nhu cầu du lịch thể thao. Đồng thời, trong
chương này cũng giới thiệu về các loại hình du lịch thể thao biển thông dụng, hiện
đang được các quốc gia có điều kiện du lịch tương tự như Việt Nam áp dụng có hiệu
quả kinh doanh cao và được du khách yêu thích. Bên cạnh đó cũng đưa ra những
phân tích về điều kiện để áp dụng, phát triển các loại hình du lịch thể thao biển.
Chương 2: nêu các vấn đề về thực trạng về nhu cầu du lịch thể thao tại Vịnh
Hạ Long. Bằng các phương pháp được áp dụng đểnghiên cứu tình hình thực tế nhu cầu
du lịch của du khách: bao gồm du khách quốc tế và du khách Việt Nam đã tham quan
hoặc có nhu cầu đi du lịch tại Vịnh Hạ Long đối với từng loại hình du lịch biển.
Chương 3: nêu lên các đề xuất, kiến nghị để có thể phát triển du lịch thể thao
tại Vịnh Hạ Long. Sau khi đã phân tích về nhu cầu thực tế của du khách đối với loại
hình du lịch thể thao biển, đồng thời có nghiên cứu tình hình cung cấp thực tế về
loại hình du lịch thể thao này, một số kiến nghị đề xuất sẽ được đưa ra để từ đó có
thể phát triển tốt hơn, tận dụng tốt hơn các nguồn lực tự nhiên và xã hội hiện có ở
vùng Vịnh Hạ Long
Phần cuối cùng là phần kết luận về đề tài.
Tiếp theo là các phần phụ lục và tài liệu tham khảo đã được sử dụng để hoàn
thành đề tài
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHU CẦU
+4*60-
Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu mang tính tổng hợp, dễ dàng nhận thấy
rằng, nhu cầu du lịch của du khách không chỉ dừng ở một nhu cầu nhất định khi
thực hiện chuyến du lịch mà bao gồm rất nhiều các nhu cầu khác nhau như: nhu cầu
nghỉ ngơi (sử dụng các khách sạn/nhà nghỉ), nhu cầu ăn uống, thưởng thức ẩm thực
(sự dụng dịch vụ của nhà hàng), nhu cầu tham quan (tham quan các điểm du lịch),
nhu cầu giải trí (mong muốn được sử dụng các loại hình giải trí), nhu cầu vận
chuyển (sử dụng dịch vụ vận chuyển), nhu cầu được an toàn, được bảo vệ, Như
vậy, nhu cầu du lịch không chỉ đơn giản là một nhu cầu riêng lẻ mà kéo theo nó là
cả một chuỗi các nhu cầu nhỏ lẻ khác nhau và luôn yêu cầu được thực hiện trong
một chuyến đi/hành trình du lịch cụ thể.
+4
Nói nhu cầu du lịch có tính linh hoạt là bởi xuất phát từ việc, nhu cầu du lịch
không phải là một nhu cầu thiết yếu của con người. Do vậy mà việc xuất hiện nhu
cầu đi du lịch đến một điểm nào đó có thể đến rất nhanh, và cũng có thể thay đổi rất
nhanh. Ví dụ: một người có nhu cầu đi du lịch tới vùng biển đảo Cô Tô – Quảng
Ninh và dự định giành quỹ là 1,5 triệu đồng cho chuyến đi. Tuy nhiên, nhu cầu đó
có thể thay đổi và quỹ giành cho du lịch cũng sẽ thay đổi nếu như người đó xuất
hiện những nhu cầu khác cần kíp hơn.
+4785
Tính mùa vụ được thể hiện tại cả hai nơi: nơi cấp khách và nơi nhận khách.
8
Đối với nơi cấp khách, nhu cầu du lịch của du khách có thể sẽ tập trung theo văn
hóa, thời tiết, thời gian nghỉ dài ngày của du khách. Từ đó, ảnh hưởng tới nơi nhận
khách. Tuy nhiên cũng có trưởng hợp tại nơi nhận khách có tồn tại tính mùa vụ, nên
quay ngược trở lại tác động tới nhu cầu du lịch của du khách. Ví dụ, khách có nhu
cầu đi du lịch tại Lào, nhưng hầu hết đều tránh đi vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10 vì
đây là thời điểm mùa khô của Lào, thời tiết rất nóng bức.
+4)97
Tính nhạy cảm ở đây có nghĩa là, nhu cầu du lịch có thể dễ dàng nhanh chóng
Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính
biện chứng. Phương pháp này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng mà các
nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó. Trong nghiên cứu định tính,
một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước,
nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện
trong quá trình thu thập. Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa phương pháp
định tính và phương pháp định lượng
'B501>00?@0860
Sử dụng nghiên cứu định tính trong trường hợp
- Chủ đề nghiên cứu mới và chưa được xác định rõ
- Nghiên cứu thăm dò, khi chưa nắm được những khái niệm và các biến số
- Khi không cần thiết phải liên hệ những phát hiện với các bối cảnh xã hội
hay văn hóa rộng hơn hay bối cảnh này đã được hiểu biết đầy đủ
- Khi cần tìm hiểu về ý nghĩa hơn là tần số
10
Khi cần có sự linh hoạt trong hướng nghiên cứu để phát hiện những vấn đề
mới và khám phá sâu một chủ đề nào đó Khi cần khái quát hóa và so sánh kết quả
trong quần thể nghiên cứu
Sử dụng nghiên cứu định lượng trong các trường hợp:
- Chủ đề nghiên cứu đã được xác định rõ và đã quen thuộc
- Khi những vấn đề cần đo lường khá nhỏ hay đã từng được giải quyết
- Khi cần thăm dò sâu, khi muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa những khía cạnh
đặc biệt của hành vi với ngữ cảnh rộng hơn
- Khi cần sự mô tả chi tiết bằng các con số cho một mẫu đại diện. Khi khả
năng tiến hành lại sự đo lường là quan trọng
- Nghiên cứu sâu và chi tiết những vấn đề được chọn lựa kỹ càng, những
trường hợp hoặc các sự kiện
"CD?@4
Nghiên cứu định tính đặc biệt có giá trị trong các lĩnh vực: nghiên cứu các
hiện tượng du lịch, sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình,… vì nó cho phép:
gợi một cách có hiệu quả, tức là khả năng kích thích người trả lời cung cấp thêm
thông tin.
b) Phỏng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn bán cấu trúc là phỏng vấn dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các
chủ đề cần đề cập đến. Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ
cảnh và đặc điểm của đối tượng phỏng vấn. Các loại phỏng vấn bán cấu trúc gồm:
12
=IJ/K
Được sử dụng để tìm hiểu thật sâu một chủ đề cụ thể, nhằm thu thập đến mức
tối đa thông tin về chủ đề đang nghiên cứu phỏng vấn sâu sử dụng bản hướng dẫn
bán cấu trúc trên cơ sở những phỏng vấn thăm dò trước đó về chủ đề nghiên cứu để
có thể biết được câu hỏi nào là phù hợp.
3?@"1L60
Nhằm thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu về các trường hợp đang
quan tâm. “Một trường hợp” ở đây có thể là một cá nhân, một sự kiện, một giai
đoạn bệnh, một chương trình hay một cộng đồng. Nghiên cứu trường hợp đặc biệt
cần thiết khi nghiên cứu viên cần có hiểu biết sâu về một số người, vấn đề và tình
huống cụ thể, cũng như khi các trường hợp có nhiều thông tin hay mà có thể đem lại
một cách nhìn sâu sắc về hiẹn tượng đang quan tâm.
/BL/;
Thông tin về lịch sử đời sống của cá nhân thường được thu thập qua rất nhiều
cuộc phỏng vấn kéo dài (thường là phỏng vấn bán cấu trúc và không cấu trúc)
c) Phỏng vấn có cấu trúc hoặc hệ thống
- Là phương pháp phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau.
Thông tin thu được bằng phương pháp này có thể bao gồm cả các con số và các dữ
liệu có thể đo đếm được. Các phương pháp này được coi là một bộ phận trong
nghiên cứu định tính vì chúng giúp cho việc mô tả và phân tích các đặc điểm văn
hóa và hành vi của đối tượng nghiên cứu.
Các phương pháp này nhằm phát hiện và xác định rõ các phạm trù văn hóa
thông qua sự tìm hiểu “những quy luật văn hóa” trong suy nghĩ của cá nhân, tìm
e) Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn cung cấp các thông tin về quan niệm, thái độ, giá
trị và hành vi tự thuật của đối tượng. Các phương pháp quan sát cung cấp thông tin
về hành vi thực cho phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu.
- Người ta có thể quan sát trực tiếp các hành vi thực tế hoặc có thể quan sát
các dấu hiệu của hành vi
- Các hình thức quan sát
Quan sát tham gia/ hoặc không tham gia
Quan sát công khai/ hay bí mật
Giải thích rõ mục tiêu của quan sát/ hoặc không nói rõ về mục đích thực
của quan sát cho đối tượng bị quan sát biết
Quan sát một lần/Quan sát lặp lại
Quan sát một hành vi/Quan sát tổng thể
Quan sát thu thập số liệu định tính, mở và mô tả/Quan sát thu thập số liệu
định lượng dựa trên danh mục các điểm cần quan sát.
Chọn mẫu trong nghiên cứu định tính
Vì không có đủ thời gian và nguồn lực để có thể phỏng vấn hoặc quan sát từng
cá nhân trong quần thể do đó nghiên cứu viên phải tiến hành chọn mẫu đại diện cho
quần thể nghiên cứu.
- Có 2 loại chọn mẫu chủ yếu:
Mẫu chọn xác suất nhằm bảo đảm kết quả thu được mang tính đại diện có ý
nghĩa thống kê cho quần thể nghiên cứu mà từ đó mẫu được rút ra. Mẫu chọn xác
suất bao gồm các mẫu ngẫu nhiên đơn, mẫu ngẫu nhiên phân tầng và mẫu chùm.
Chọn mẫu không xác suất có thể có tính đại diện về mặt lý thuyết cho quần
thể nghiên cứu nếu sử dụng tối đa phạm vi và sự đa dạng của đối tượng nghiên cứu.
15
- Lựa chọn thực địa nghiên cứu
Vì nghiên cứu định tính chủ yếu tập trung vào một số lượng nhỏ cộng đồng
hoặc khu vực và trong các khu vực này, vào một số lượng nhỏ các dối tượng cung
cấp thông tin nên việc chọn địa điểm nghiên cứu có vai trò rất quan trọng. Qua trình
Chọn mẫu đồng nhất: Tập trung vào các đối tượng có đặc điểm giống nhau
đơn giản cho việc phân tích, giúp đỡ cho việc phỏng vấn nhóm.
Chọn trường hợp điển hình : Làm rõ hay nhấn mạnh cái gì là điển hình,
thông thưòng và trung bình
Chọn mẫu có mục đích phân tầng (chọn người cung cấpthông tin từ các tiểu
nhóm đối tượng mà ta quan tâm) Minh họa các đặc điểm của từng nhóm cụ thể ta
quan tâm; hỗ trợ cho việc so sánh.
Chọn trường hợp, địa điểm nghiên cứu, sự kiện, cá nhân mà giúp nhấn
mạnh một lý thuyết nào đó Thu thông tin đến mức tối đa khi các nguồn lực có hạn
có thể làm hạn chế số địa điểm nghiên cứu hay cỡ mẫu chung
:;:;<;M=1>00N9I
=1>00N9I: Phương pháp bảng hỏi là một phương pháp được sử
dụng trong nghiên cứu khoa học trong đó người mở cuộc điều tra nhằm thu thập
thông tin từ mọi người (đôi khi là các tổ chức) mà họ quan tâm. Các loại thông tin
sẽ tập trung vào trình độ kiến thức của người được phỏng vấn, thái độ, phẩm chất cá
nhân, sự tự tin và sự thích thú của người được phỏng vấn. Một bảng câu hỏi được
cấu trúc chặt chẽ cho phép thu thập nhiều loại thông tin từ nhiều người theo cùng
một cách thức giống nhau và vì thế dữ liệu sẽ được phân tích một cách cẩn trọng và
có tính hệ thống. Bảng câu hỏi được sử dụng tốt nhất nhằm thu thập các thông tin
17
có thực và việc thiết kế các câu hỏi thích hợp là điều hết sức cần thiết nhằm đảm
bảo thu được các phản hồi có giá trị.
Đối tượng để thiết kế bảng hỏi: có hai đối tượng trong việc thiết kế một bảng hỏi:
- Tối ưu hóa sự cân đối của chủ đề các câu trả lời;
- Khám phá các thông tin chính xác cho cuộc điều tra của người tổ chức điều tra;
Để tối đa hóa các câu trả lời, người cần điều tra phải cân nhắc cẩn thận xem
làm thế nào để có thể quản lý chúng, thiết lập mối quan hệ hài hòa giữa chúng, giải
thích mục đích của cuộc điều tra và xem có ai không trả lời câu hỏi hay không. Độ
dài của câu hỏi nên được cân nhắc cẩn trọng để có thể phát hiện những thông tin
chính xác, chúng ta phải tự đặt ra các câu hỏi như chúng ta sẽ hỏi những câu hỏi
+@N9).7@#
Hỏi đúng mức độ chi tiết theo như yêu cầu là rất quan trọng. Ngoài ra, bạn có
thể không hoàn thoành mục đích của cuộc điều tra nếu bỏ sót một vài chi tiết quan
trọng. Thêm vào đó cần thiết phải tránh những chi tiết không cần thiết. Mọi người
không có khuynh hướng hoàn thành những bảng câu hỏi dài. Điều này đặc biệt quan
trọng với những thông tin riêng tư nhạy cảm như là các vấn đề tài chính của bản
thân hay là các mối quan hệ hôn nhân.
+@7.J!)97
Rất khó đạt được sự chính xác trong các câu trả lời đối với các câu hỏi nhạy cảm.
+@4.2(KI086016I% Có các dạng
câu hỏi sau đây câu hỏi đóng hoặc câu hỏi mở.
19
Các câu trả lời có thể ở dạng đóng hoặc mở. Ở dạng câu hỏi mở, người trả lời
có thể đánh các câu trả lời của chính họ.
Ở dạng đóng, người trả lời buộc phải chọn trong nhiều lựa chọn được đưa ra.
Mỗi dạng có những ưu điểm riêng và thể hiện dưới hình sau. Nên sử dụng kết hợp
cả hai dạng câu hỏi trên, ví dụ, đưa ra một danh sách chọn “khác” theo sau đó là
một khoảng trống để người trả lời.
Ngoài các dạng này ra, xếp hạng thường ít được sử dụng vì các câu trả lời khó
liên quan với nhau để ghi chép và phân tích.
Ưu điểm của câu hỏi đóng và mở
Câu hỏi mở
- Cho phép phát hiện các chủ đề liên quan một cách chuyên sâu hơn
- Có thể được sử dụng bao hàm một phạm vi các lựa chọn thay thế khổng thể
làm thỏa mãn
- Câu hỏi đóng là loại câu hỏi bắt buộc lựa chọn
- Dễ dàng nhanh chóng để hoàn thành
- Tác dụng cả với những người ít học (trong các câu hỏi tự vấn) hay kém lưu
loát (trong các câu hỏi phỏng vấn)
- Dễ mã hóa, ghi chép và phân tích các kết quả định lượng.
quan trọng sau khi kết thúc cuộc điều tra.
+@71LN.TK7$.7#.H9VN9I;
Có vài cách để quản lý bảng hỏi. Nó có thể được tự chuẩn bị hoặc được đưa ra
bởi những người phỏng vấn. Việc tự đánh giá bảng hỏi có thể thông qua cách gửi
21
qua đường bưu điện, email. Các bảng hỏi phỏng vấn có thể thực hiện thông qua
điện thoại hoặc tiếp xúc cá nhân.
Ưu điểm của bộ câu hỏi tự chuẩn bị bao gồm:
- Rẻ và dễ quản lý.
- Được bảo vệ cẩn thận.
- Có thể được hoàn thành với sự vui vẻ của các bên.
- Có thể được quản lý trong một cách thức chuẩn.
- Ưu điểm của phỏng vấn với bộ câu hỏi được chuẩn bị trước bao gồm:
- Cho phép sự tham gia của cả những người ít học.
- Cho phép làm sáng tỏ các vấn đề mơ hồ.
Phương pháp tối ưu nhất phụ thuộc vào việc ai sẽ là đối tượng cuộc phỏng vấn.
+@71LN.?47.NKI;
Công việc này thường bị bỏ qua và đôi khi gặp khó khăn thậm chí với các
chuyên gia ngay trong lần đầu tiên áp dụng. Bộ câu hỏi phải được kiểm tra trước –
hay nói cách khác là phải thí điểm trước – trong một phạm vi nhỏ có các đặc điểm
trong cuộc khảo sát. Trong một khảo sát nhỏ, có lẽ chỉ cần thử trước các câu hỏi
phác thảo. Còn trong một khảo sát có quy mô lớn hơn, cần thiết phải tiến hành 3
giai đoạn thí điểm. Trong phần đầu, ta có thể hỏi mỗi người một lượng giới hạn các
câu hỏi: hiệu quả của việc dùng từ, cái gì hiện ra trong đầu họ khi đưa ra câu trả lời
đặc biệt, làm cách nào họ hiểu các từ đặc biệt (chuyên ngành)…. Trong giai đoạn
thứ hai toàn bộ các câu hỏi được góp ý bởi những người được phỏng vấn. Phân tích
các câu trả lời và các phản hồi của người phỏng vấn được cho là sẽ cải thiện chất
lượng của bộ câu hỏi hơn. Theo lý thuyết, sẽ có sự đa dạng trong số các câu trả lời
giữa những người phỏng vấn; mỗi câu hỏi nên đánh giá các đặc tính khác nhau –
quả thật, sự tương tác giữa hai thành tố bất kỳ nào không nên có sự tương quan với
thương mại mà hoạt động du lịch xa nhà ở và nơi làm việc hiện thời của du khách.
Theo hai tác giả này, du lịch thể thao được phân chi thành hai hình thức chính
căn cứ theo các loại hình du khách. Đó là du khách du lịch thể thao Dvà du
khách du lịch thể thao N.
Những du khách du lịch thể thao chủ động là những du khách chủ động đưa hoặc
đăng ký tham gia các hoạt động thể thao trong kỳ nghỉ của mình, trong kỳ nghỉ đó,
hoạt động thể thao phải là hoạt động chính và chủ yếu của chuyến đi hoặc trong những
kỳ nghỉ có hoạt động thể thao – tại nơi mà các hoạt động thể thao được tổ chức.
Có hai dạng kỳ nghỉ bao gồm hoạt động thể thao như sau:
a) Những kỳ nghỉ chỉ đơn thuần có các hoạt động thể thao: đây là những kỳ
nghỉ mà có một sự kiện thể thao được tổ chức nhằm vào kỳ nghỉ
b) Những kỳ nghỉ có kết hợp nhiều hoạt động thể thao, tại đó được tổ chức
nhiều môn thể thao khác nhau và được đánh giá quan trọng như là một phần trải
nghiệm của kỳ nghỉ (ví dụ, một kỳ nghỉ được tổ chức bởi một câu lạc bộ thể thao)
Hai dạng kỳ nghỉ bao gồm hoạt động thể thao được phân định như sau:
a) Các hoạt động thể thao mang tính chất hoạt động tập thể diễn ra trong suốt
cả kỳ nghỉ (thường là các nhóm, ví dụ như là tham gia thi đấu các trò chơi bãi biển
giữa các nhóm thi đấu)
b) Các hoạt động thể thao mang tính chất cá nhân độc lập trong kỳ nghỉ (ví dụ
như đi bộ hoặc chơi golf)
Khách du lịch thể thao thụ động cũng có thể được nhóm lại tùy theo mức độ
quan trọng của thể thao được quyết định trong chuyến đi của họ. Những người này
được ví như là những nhà quan sát thể thao chuyên nghiệp chỉ liên quan tới các hoạt
động thể thao một cách bị động ví dụ: chỉ tham gia xem chứ không tham gia trực
tiếp vào các bộ môn thể thao tại điểm du lịch. Mô hình dưới đây giúp nhìn nhận rõ
hơn các loại hình du lịch có liên quan tới thể thao theo quan niệm của Joy
Standeven và Paul De Knop.
24
Bảng 1.1: Các dạng du lịch thể thao
3Z%'0""/7[\)']].=]Y0-":<