BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
Khoa: Tài chính - Ngân hàng
HÀNH VI KHÁCH HÀNG
Đề tài: Phân tích ảnh hưởng của văn hóa khu vực
đến hành vi tiêu dùng của khách hàng
miền Bắc và miền Nam tại Việt Nam.
GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Bích Trâm
NHÓM 2
TP.Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 03 năm 2014
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
Khoa: Tài chính - Ngân hàng
HÀNH VI KHÁCH HÀNG
Đề tài: Phân tích ảnh hưởng của văn hóa khu vực
đến hành vi tiêu dùng của khách hàng
miền Bắc và miền Nam tại Việt Nam.
GVHD: Nguyễn Ngọc Bích Trâm.
Nhóm 2:
1. Lê Thị Thúy Diệu.
2. Gịp Thụy Đạt.
3. Phan Thị Hằng.
4. Vũ Mạnh Hoàng.
5. Cao Sĩ Nhâm.
6. Nguyễn Hữu Long.
7. Huỳnh Minh Nguyễn.
8. Ngô Quỳnh Như.
9. Trần Huỳnh Như.
10. Dương Hiển Đông Phương.
11. Nguyễn Thị Thu Thảo.
để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, những chữ này lại có chung gốc Latinh là
chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh:
trồng trọt, thính ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay
cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp.
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và thay
đổi theo thời gian thuật ngữ văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng
vào thế kỉ XVII- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí, canh tác nông nghiệp.
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương
Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá (văn
minh) thế giới có thể phân ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hoá
của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực
và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B Taylo (E.B. Taylor) là đại
diện của họ. Theo ông, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con
người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.
Ở thế kỉ XX, khái niệm “văn hoá” thay đổi theo F.Boa (F. Boas), ý nghĩa văn
hoá được quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu
cao siêu như “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không
phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá”. Văn hoá
không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt.
A.L. Kroibơ (A.L. Kroeber) và C.L. Klúchôn (C. L. Kluckhohn) quan niệm
văn hoá là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu
5
tượng, và nó hình thành kết quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác,
trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.
Trong phạm vi marketing, văn hóa được hiểu là toàn bộ những niềm tin,
giá trị, chuẩn mực, phong tục tập quán được dùng để hướng dẫn hành vi tiêu dùng
của những thành viên trong xã hội.
Văn hóa tiêu dùng được thể hiện trong cách hiểu biết, cách mua, cách sử
dụng hàng hóa hay dịch vụ và ước muốn của họ về những sản phẩm tốt hơn hoặc
được duy trì bằng truyền thống văn hoá, tức là cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh
nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian. Nó là những giá trị tương đối
ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được
tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ,
phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận… Văn hoá thực hiện chức năng giáo
dục (giáo dục truyền thống) không chỉ bằng những giá trị ổn định mà còn bằng
những giá trị đang hình thành. Các giá trị đã ổn định và các giá trị đang hình thành
tạo nên một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ đó, văn hoá đóng
vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người, dưỡng
dục nhân cách. Một đứa trẻ được sống với cha mẹ sẽ được giáo dục theo truyền
thống văn hoá trong gia đình mình được sinh ra; còn nếu bị rơi vào rừng, đứa trẻ ấy
sẽ mang hành vi, tính nết của loài thú. Không phải ngẫu nhiên mà trong trong các
ngôn ngữ phương Tây khác nhau, thuật ngữ “văn hoá” (cultura, culture) đều có
chứa một nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục, vun trồng… Chức năng giáo dục của
văn hoá sẽ đảm bảo tính kế tục của lịch sử. Nếu gien sinh học di truyền lại cho các
thế hệ sau hình thể con người thì văn hoá được coi là một thứ “ghen” xã hội di
truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau.
Do là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người,
văn hoá có tính nhân sinh đậm nét và trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng
thông qua ngôn ngữ. Nếu như ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hoá là nội
7
dung của nó. Điều đó đúng với giao tiếp giữa cá nhân trong một dân tộc, lại càng
đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và sự giao tiếp
giữa các nền văn hoá khác nhau.
Bằng chức năng giáo dục, văn hoá tạo cho lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi
dân tộc một sự phát triển liên tục.Chức năng tổ chức xã hội và sự phát sinh của chức
năng này là văn hoá có chức năng điều chỉnh xã hội, định hướng các chuẩn mực,
các cách ứng xử của con người. Gần đây, UNESCO cũng như Đảng, Nhà nước ta
cho rằng văn hoá là động lực của phát triển, chính là đề cập đến chức năng này.
IV. Những tính chất và quy luật của văn hoá:
cuộc sống hàng ngày cũng vậy, con người có thể ảnh hưởng lẫn nhau, có ảnh hưởng
chủ động (học người) và ảnh hưởng thụ động (ảnh hưởng mà không biết).
- Tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận (một chiều) các yếu tố văn hóa từ bên
ngoài (ngoại sinh) và biến đổi cho phù hợp với các yếu tố văn hóa bên trong (nội
sinh) để làm giàu cho văn hóa của mình.
- Cưỡng bức VH là sự áp đặt nền VH của kẻ mạnh đối với kẻ yếu, áp đặt
VH dân tộc lớn cho dân tộc nhỏ nhưng cũng có khi nó bị VH của nước nhỏ chinh
phục lại.
Tóm lại: Giao lưu VH là sự vận động thường xuyên gắn với sự phát triển của
văn hóa xã hội. Trong đời sống xã hội, giao lưu càng mạnh mẽ thì mọi sáng tạo văn
hóa được phổ biến và chuyển tải càng rộng rãi, sẽ góp phần nâng cao đời sống văn
hóa của cộng đồng. Ngược lại, đời sống cộng đồng càng được nâng cao càng có
điều kiện mở rộng giao lưu văn hóa. Đó là phép biện chứng của sự phát triển văn
hóa trong cộng đồng xã hội.
Việt Nam có nguồn gốc văn hóa bản địa, là một nền văn hóa nông nghiệp lúa
nước (phi Hoa, phi Ấn), có quá trình giao lưu văn hoá với phương Bắc (1000 năm
Bắc thuộc). Từ thời kỳ Đại Việt vẫn duy trì giao lưu văn hoá với các nước láng
9
giềng, phía bắc với văn hoá Trung Hoa, phía nam với văn hoá Chiêm Thành, Chân
Lạp (Khơme). Trong một trăm năm Pháp thuộc chúng ta có giai đoạn giao lưu với
VH Pháp, tuy bị cưỡng bức văn hoá nhưng do văn hoá bản địa của Việt Nam có
truyền thống lâu đời nên đã không Pháp hoá được văn hoá Việt Nam.
Những năm xây dựng XHCN, ở miền Bắc chúng ta có một giai đoạn ảnh
hưởng văn hóa của các nước như Liên Xô, Đông Âu. Trong miền nam Việt Nam có
giai đoạn chịu ảnh hưởng văn hoá Mỹ. Từ 1986 đến nay, với đường lối mở cửa “đa
phương hoá, đa dạng hoá” trong quan hệ đối ngoại, đất nước ta có điều kiện giao
lưu văn hoá với rất nhiều nước trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực,
trong châu lục để vừa kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống, vừa tiếp nhận
được những thành tựu của loài người, trong các nghị quyết của đảng ta đều chỉ rõ:
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới.
thịt – chăn nuôi gắn liền với trồng trọt, phục vụ trồng trọt. Tính chất thực vật còn
được thể hiện trong đời sống tâm linh mà điển hình là tục thờ cây. Môi trường sông
- nước được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng khi xem xét những vấn đề văn hoá,
con người Việt Nam. Có thể nói đặc trưng nước chính là kết quả tổng thể của những
đặc điểm về địa lí, địa hình cũng như khí hậu. Yếu tố nước mang tính phổ quát và
đặc thù này đã tạo nên sắc thái riêng biệt trong tập quán kĩ thuật canh tác (đê, ao,
kênh, rạch), cư trú (làng ven sông, trên sông “vạn chài, từ chợ búa, bến ” tới những
đô thị ven sông, biển hay ngã ba, ngà tư sông), ở (nhà sàn, nhà mái hình thuyền, nhà
– ao, nhà thuyền…) tới tâm lí ứng xử (linh hoạt, mềm mại như nước - chữ dùng của
GS. Cao Xuân Huy), sinh hoạt cộng đồng (đua thuyền, bơi chài…), tín ngưỡng, tôn
giáo (thờ cá, rắn, thuỷ thần…), phong tục tập quán, thành ngữ, tục ngữ, ca dao,
nghệ thuật (chèo, tuồng, rối nước, hò, lí,…) và truyền thống. Bên cạnh những ưu
đãi, thiên nhiên cũng đặt ra cho con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với không ít
khó khăn thách thức bằng những tai biến bất ngờ, khí hậu thất thường, lũ lụt, bão tố,
ẩm thấp gây vô vàn dịch bệnh cho người, cho động vật, mùa màng. Cuộc đấu tranh
kiên cường, chống chọi hàng ngàn năm với những thứ thách này của thiên nhiên đã
hun đúc nên tính cách kiên cường, tinh thần cố kết cộng đồng của người Việt Nam.
2.Các vùng miền Việt Nam:
2.1 Vùng văn hóa Bắc Bộ:
a. Đặc điểm tự nhiên và xã hội
Về vị trí địa lí, vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu
quốc tế theo hai trục chính: Tây – Đông và Bắc – Nam. Vị trí này khiến cho nơi đây
trở thành vị trí tiền đồn để tiến tới các vùng khác trong nước và trong khu vực Đông
Nam Á, là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng
thế lực vào lãnh thổ Đông Nam Á. Nhưng cũng chính vị trí địa lí này tạo điều kiện
cho cư dân có thuận lợi về giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Mặt khác, khí hậu vùng Bắc Bộ thật độc đáo, khác hẳn với các đồng bằng
khác. Đây là vùng duy nhất ở Việt Nam có một mùa đông thực sự với ba tháng có
12
nhiệt độ trung bình dưới 18
13
mọi phương diện của làng từ lãnh thổ làng đến sử dụng đất đai, từ quy định về sản
xuất bảo vệ môi trường đến quy định về tổ chức làng xã, ý thức cộng đồng làng xã,
vì thế trở thành một sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận.
b. Đặc điểm văn hoá:
Người dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bền
chắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn hoà hợp với cảnh quan. Thường là người Việt Bắc Bộ
muốn trồng cây cối quanh nơi cư trú, tạo ra bóng mát cho ngôi nhà.
Ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ vẫn như mô hình bữa ăn của người
Việt trên các vùng đất khác: cơm + rau + cá, nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu
hướng tới các loại cá nước ngọt. Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các
làng ven biển, còn các làng ở sâu trong đồng bằng hải sản chưa phải là thứ ăn chiếm
ưu thế. Cư dân đô thị, nhất là Hà Nội, ít dùng đồ biển hơn cư dân ở các đô thị phía
Nam như Huế, Nha Trang, Sài Gòn. Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ,
người Việt Bắc Bộ có chú ý tăng thành phần thịt và mỡ, nhất là mùa đông lạnh để
giữ nhiệt năng cho cơ thể. Các gia vị có tính chất cay, chua, đắng quen thuộc với cư
dân Trung Bộ, Nam Bộ lại không có mặt trong bữa ăn của người Việt Bắc Bộ nhiều
lắm.
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn thích ứng với thiên
nhiên châu thổ Bắc Bộ đó là màu nâu. Đàn ông với y phục đi làm là chiếc quần lá
toạ, áo cánh màu nâu sồng. Đàn bà cũng mặc váy thâm, chiếc áo nâu khi đi làm. Lễ
tết, hội hè thì trang phục này có khác hơn: đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy, đàn ông
với chiếc quần trắng, áo dài the, chít khăn đen. Ngày nay, y phục người Việt Bắc Bộ
đã có sự thay đổi khá nhiều.
Mặt khác, nói tới văn hoá châu thổ ở Bắc Bộ là nói tới một vùng văn hoá có
một bề dày lịch sử cũng như mật độ dày đặc của các vùng văn hoá. Các di tích khảo
cổ, các di sản văn hoá hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương. Đền, đình, chùa,
miếu… có mặt ở hầu khắp các địa bàn, tận các làng quê. Nhiều di tích nổi tiếng
không chỉ trong nước mà cả nước ngoài như Đền Hùng, khu vực Cổ Loa, Hoa Lư
14
Với Trung Bộ, làng làm nông nghiệp tồn tại đan xen với làng của ngư dân. Bên
cạnh lễ cúng đình của làng nông nghiệp là lễ cúng cá ông của làng làm nghề đánh
cá. Điều này là lẽ đương nhiên, bởi lẽ đồng bằng Trung Bộ thường là đồng bằng
nhỏ hẹp, sát biển.
Trong văn hoá đời thường, bữa ăn của cư dân Việt Trung Bộ đã bắt đầu có sự
thay đổi, nghiêng về các hải sản, đồ biển. Nói cách khác, yếu tố biển đã đậm đà hơn
trong cơ cấu bữa ăn của cư dân ở nơi đây.
Mặt khác, người dân Việt Trung Bộ do tính chất khí hậu, nói rộng hơn là
điều kiện tự nhiên chi phối nên sử dụng nhiều chất cay trong bữa ăn.
2.3 Vùng văn hoá Nam Bộ:
a. Đặc điểm tự nhiên và xã hội:
Về vị trí địa lí, Nam Bộ là vùng đất nằm ở cuối cùng đất nước về phía Nam,
trọn vẹn trong lưu vực của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu Long, mà lại là phần hạ
lưu của hai dòng sông. Trong khi đó, Nam Bộ lại gần biển Đông.Nói khác đi, đây là
vùng đất cửa sông giáp biển. Vị thế địa lý - văn hoá này của Nam Bộ tạo cho nó có
những đặc điểm văn hoá riêng.
Mặt khác, khí hậu của Nam Bộ khác hẳn khí hậu Bắc Bộ ở chỗ Nam Bộ chỉ
có hai mùa: mùa khô và mùa mưa, sáu tháng mùa mưa, sáu tháng mùa khô tạo cho
vòng quay thiên nhiên, mùa vụ có phần khác biệt so với đồng bằng Bắc Bộ. Nói tới
Nam Bộ là người ta nói đến cánh đồng tít tắp chân trời, một khung cảnh thiên nhiên
khoáng đạt và vùng đất với chằng chịt kênh rạch. Sông nước ở hạ lưu chảy chậm,
mang lượng phù sa lớn khác với sông nước miền Trung Bộ.
b. Đặc điểm văn hoá:
Nói đến nền văn hoá Nam Bộ là nói đến văn hoá của các tộc người ở đây.
Ngoại trừ các tộc người sống ở ven đồng bằng miền Đông, các tộc người Việt,
Khơme, Chăm, Hoa đều không phải là cư dân bản địa ở đây. Vì vậy, văn hoá của họ
16
là văn hoá ở vùng đất mới. Đặc điểm tiếp theo của vùng văn hoá Nam Bộ là quá
trình giao lưu văn hoá diễn ra với một tốc độ mau lẹ. Đơn cử người Việt cùng chung
sống với người Khơme, người Việt đã tiếp thu chiếc bếp cà ràn dùng cho việc nấu
yếu giữa người tiêu dùng hai miền là thiên hướng “Tôi” so với “Chúng ta” của họ.
Thiên hướng “Tôi” chiếm đa số ở miền Nam. Người miền Nam quan tâm ít
hơn đến ý kiến của người khác và khi cần quyết định tiêu dùng, họ chủ yếu dựa vào
nhu cầu mong muốn của bản thân mình. Người miền Nam rất thoáng và rất dễ chấp
nhận cái mới, chỉ cần sản phẩm đó khoác vào người trông đẹp, gọn gàng, thoải mái,
che đi được các khuyết điểm trên cơ thể là sẽ được chấp nhận.
Thiên hướng “Chúng tôi” lại chiếm đa số ở thị trường miền Bắc. Nó thể hiện
ở sự đồng nhất trong cách tiêu dùng và thói quen “thu nhặt” ý kiến từ nhiều nguồn
như ý kiến của bạn bè, bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người khác và các định kiến xã
hội. Nhưng họ là những người tiêu dùng rất phức tạp: họ muốn được chú ý và nổi
bật trong đám đông và bạn bè, nhưng đồng thời cũng không muốn phá vỡ những
quy tắc chuẩn mực xã hội. Họ muốn có những trang phục mà khi khoác vào phải trở
nên nổi bật và phải được mọi người trầm trồ khen ngợi cho dù món đồ đó khoác vào
cầu kì và có phần hơi khó chịu.
Nghiên cứu FTA trong tháng 5/2009 cho thấy, người miền Bắc là những
người cẩn trọng và khắt khe nhất trong việc lựa chọn sản phẩm. Họ có thể thay đổi
suy nghĩ vài lần trước khi đưa ra quyết định. Họ cũng bị ảnh hưởng bởi ý kiến của
người khác nhiều hơn trước khi đưa ra quyết định (99% bị ảnh hưởng bởi lời giới
thiệu của gia đình, 91% bởi bạn bè, 94% bởi hàng xóm, 83% bởi đồng nghiệp và
đối tác) và sẽ không bao giờ mua những gì mà người khác không mua.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao vai trò của ý kiến tập thể và các định kiến
xã hội giữa 2 thành phố lại có nhiều khác biệt đến như vậy? Các đặc điểm nào của
văn hóa vùng miền ở hai thành phố đã ảnh hưởng đến các quyết định mua sắm cũng
như thị hiếu tiêu dùng của người tiêu dùng ở hai thành phố này? Thực tế từ nghiên
cứu của Neilsen Việt Nam cho thấy người tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh sống cho bản
thân nhiều hơn và không quan tâm “lắm” về những gì người khác nghĩ, họ là những
18
người tiêu dùng có xu hướng sống cho hiện tại mà không lo nghĩ nhiều đến tương
lai. Trong nền văn hóa phía Nam là sự giao thoa của rất nhiều văn hóa, mỗi văn hoá
có nét riêng khác biệt, nhưng hòa quyện với nhau tạo nên nền văn hóa đa dạng,
hàng hay bất cứ tổ chức tài chính nào cho nhu cầu tiêu dùng. Trong mắt người miền
Bắc, việc vay mượn hay bị phụ thuộc tài chính vào tổ chức nào đó sẽ khiến họ bị
“mất mặt”.
Người miền Nam có xu hướng mua sắm nhanh và tùy hứng. Không bị áp lực
bởi tâm lý khẳng định bản thân, thể hiện đẳng cấp và cũng không có thói quen tiết
kiệm để có thể chi trả cho các sản phẩm đắt tiền nên họ có khuynh hướng mua
những món đồ rẻ hơn và mua sắm cũng thoãi mái hơn. Nhưng chỉ 62% lên kế hoạch
chi tiêu trong tháng, không nhiều và chặt chẽ như người tiêu dùng miền Bắc. Họ
thích một mức giá cố định hơn là phải mặc cả. Trong khi 55% người tiêu dùng miền
Bắc thích mặc cả thì có 28% người tiêu dùng miền Nam thích hình thức này.
3. Miền Bắc coi trọng bề ngoài, miền Nam ưu tiên giá trị đích thực
Đối với người tiêu dùng ở cả hai miền, chất lượng bao giờ cũng là yếu tố được
quan tâm đầu tiên. Tuy nhiên, việc định nghĩa như thế nào là “chất lượng” còn phụ
thuộc vào từng loại sản phẩm cụ thể cũng như trình độ, kinh nghiệm của từng
người. Có thói quen tiết kiệm nhưng người tiêu dùng miền Bắc lại rất chuộng hàng
hiệu, đặc biệt là những mặt hàng có thể giúp họ thể hiện đẳng cấp của mình. Không
chỉ là để họ thõa mãn tâm lý coi vẻ bề ngoài, thích nổi bật trước đám đông mà còn
do suy nghĩ về lâu dài bởi mua một sản phẩm chất lượng sẽ tiết kiệm hơn (Ví dụ
như áo quần không bị co dãn, màu áo không phai, không ra màu khi giặt, không bị
đứt chỉ, rách và có thể có bảo hành….) 70% sẵn sàng trả thêm tiền để có một sản
phẩm mới hoặc độc đáo, trong khi đó tỷ lệ này ở miền Nam chỉ có 55%. Họ cũng
quan tâm đến chất lượng, xuất xứ của hàng hóa nhiều hơn những nơi khác và tỉ lệ
này là tuyệt đối trên 94%. Hà thành cũng là nơi đòi hỏi phải được đối xử như một
khách VIP cao nhất. Tiềm năng hình thành phân khúc thời trang cao cấp giúp người
tiêu dùng trông tự tin và gây ấn tượng đối với người khác là rất lớn.
Trong khi đó, người miền Nam thường chọn sản phẩm thời trang dựa trên
những trải nghiệm chính thức từ sản phẩm hay dịch vụ đem lại. Bao gồm những giá
20
trị hữu hình và vô hình như tính năng của sản phẩm dịch vụ. Nhưng họ không bỏ
qua những lợi ích cảm tính mang lại từ sản phẩm hay dịch vụ đó. Người miền Nam
biệt, do có thói quen lắng nghe người khác và bị ảnh hưởng bởi cộng đồng nên
người thủ đô cũng có khuynh hướng trung thành với thương hiệu nội hơn miền
Nam.
CHƯƠNG 5. Bên cạnh đó, miền Nam là nơi có số người thích mua
sắm tại kênh hiện đại nhiều nhất. Người miền Nam cũng ưa thích các hoạt đông
marketing tại điểm bán nhiều hơn những khu vực khác. Vì thế, việc chú ý đến các
kênh phân phối, các hoạt động khuyến mãi và trưng bày trong cửa hàng đóng vai trò
rất quan trọng. Họ cũng là người coi trọng bao bì thiết kế của sản phẩm nhất, tuy
nhiên thiết kế này phải theo hướng nghệ thuật chứ không thích màu sắc như người
miền Bắc.
CHƯƠNG 6.
22
CHƯƠNG 7.
I. Các hình thức chiêu thị tác động đến hành vi tiêu dùng của người
miền Bắc và người miền Nam (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh).
CHƯƠNG 8. (Nguồn: Nielsen Reglonal Differences Quantitative Study)
CHƯƠNG 9.
CHƯƠNG 10. SÀ
I GÒN
CHƯƠNG 11. H
À NỘI
CHƯƠNG 12. Quảng
cáo.
CHƯƠNG 13. 41
%
CHƯƠNG 14. 91
%
CHƯƠNG 15. Báo và
tạp chí.
CHƯƠNG 16. 42
của quảng cáo cũng được họ chú ý và yêu thích hơn người tiêu dùng TP.Hồ Chí
Minh. Tỉ lệ yêu thích những mẫu quảng cáo lạ, độc đáo và hài hước lẫn những mẫu
quảng cáo có nội dung ẩn ý một cách có ý nghĩa cũng cao hơn một cách khác biệt.
Chỉ 6% người tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh thích xem quảng cáo và bị ảnh hưởng bởi
những gì chiếu trong quảng cáo đó, trong khi tỉ lệ này ở Hà Nội là 23% – theo số
liệu của FTA. Điều đáng chú ý là sự yêu thích phong cách quảng cáo giữa các miền
23
cũng rất khác nhau. Theo nghiên cứu của FTA, người tiêu dùng Hà Nội thích những
mẫu quảng cáo âm hưởng “đao to búa lớn”, trong khi người tiêu dùng TP. Hồ Chí
Minh thích những mẫu quảng cáo hài hước hơn.
CHƯƠNG 29. Bên cạnh việc dễ dàng bị tác động bởi quảng cáo, người
tiêu dùng Hà Nội cũng hứng thú với những hoạt động khuyến mại trong cửa hàng
và dịch vụ hậu mãi. Các chương trình khuyến mại tập trung vào giá và giảm giá là
hình thức họ yêu thích nhất. Với tỉ lệ là 69% muốn mua sản phẩm trong thời kì
khuyến mại và chỉ có 57% sẵn sàng trả thêm tiền để có dịch vụ hậu mãi tốt hơn, tuy
nhiên vẫn phải đảm bảo chất lượng. Đối với người tiêu dùng thành phố Hồ Chí
Minh chỉ có 52% muốn mua sản phẩm trong thời kì khuyến mại và sẵn sàng trả
thêm tiền để có dịch vụ hậu mãi tốt hơn chỉ có 34%. Người tiêu dùng TP.Hồ Chí
Minh thì phức tạp hơn, chỉ một hình thức không thôi thì chưa đủ để họ lưu tâm.
Không chỉ thích nhiều loại hình khuyến mại cùng một lúc, mỗi hình thức còn phải
phù hợp với từng ngành hàng ví dụ như: thêm dung lượng sản phẩm hay kèm quà
tặng cho những ngành hàng thông dụng như dầu gội, nước uống hay giảm giá bán
cho những sản phẩm có giá trị lớn như tivi, tủ lạnh … cũng như đa dạng hoá các
chiến lược marketing nói chung.
I. Giải pháp Marketing.
1. Sản phẩm.
CHƯƠNG 30. Tại thị trường Hà Nội, đối với những sản phẩm cao cấp,
ngoài mẫu mã sản phẩm phải sang trọng, bắt mắt thì chất lượng là yếu tố cần được
chú trọng hàng đầu. Người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn để có thể mua
một sản phẩm vừa đẹp vừa bền nhằm thể hiện đẳng cấp của bản thân. Nhưng đối
dùng ở đây. Do đó, các hoạt động khuyến mãi cần đa dạng, ngoài giảm giá có thể
đẩy mạnh hình thức tặng kèm sản phẩm, tặng voucher mua hàng…Miền Bắc người
tiêu dùng quan tâm duy nhất vào giá cả trong hoạt động khuyến mãi, hậu mãi nên
25