Sáng kiến kinh nghiệm
Về dạy tập làm văn kể lại chuyện đ đọc , đ nghe ã ã
Cho học sinh lớp 4
A - Phần mở đầu
I-Đặt vấn đề:
Giáo dục hiện đại chú ý nhiều đến chức năng phát triển bên cạnh chức năng
giáo dỡng và giáo dục ở phơng pháp dạy học nhằm phát triền nhân cách học sinh
một cách toàn diện. Riêng môn Tiếng Việt ở trờng tiểu học đợc dạy và học thông
qua tám phân môn . Trong đó phân môn tập làm văn là một trong những phân
môn có giá trị đặc biệt quan trọng nó góp phần rèn luyện các hiểu biết, kỹ năng
vận dụng Tiếng Việt và từng bớc hoàn thiện cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng sản sinh văn bản
(nói và viết ). Nhờ vậy Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc đợc xem
xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động
trong quá trình giao tiếp, t duy, học tập Nói cách khác, phân môn tập làm văn
đã góp phần hiện thực hoá mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng
Việt là học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh
hội các tri thức khoa học . ở tiểu học, phân môn tập làm văn có nhiệm vụ rèn
luyện kỹ năng nói, viết với các loại : miêu tả, kể chuyện, tờng thuật, viết đơn, th
từ. Trong đó thể loại miêu tả, kể chuyện và tờng thuật là những kiểu bài chiếm
nhiều thời gian học tập nhất, thuộc phong cách nghệ thuật .
Nghe kể chuyện và kể chuyện cho ngời khác nghe là niềm vui thích của trẻ
thơ. Vì thế ngay từ khi học mẫu giáo trẻ em đã đợc nghe kể chuyện , tập kể
chuyện cho bạn bè, anh chị , cha mẹ nghe . ở bậc Tiểu học, văn kể chuyện là một
kiểu bài của phân môn tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng nói ,
viết, ít nhiều mang tính biểu cảm . Từ lớp 1 đến lớp 5, lớp nào cũng có tiết kể
chuyện . Vì vậy luyện tập viết văn kể chuyện trở thành một yêu cầu đối với học
sinh Tiểu học. Trong nhà trờng Tiểu học kiểu bài văn kể chuyện có ba dạng bài
cơ bản đợc sắp xếp theo mức độ khó dần , từ thấp đến cao đó là : Kể lại truyện đã
đọc, đã nghe . Kể chuyện ngời thật việc thật và cao hơn nữa là kể chuyện nhiều
yếu tố tởng tợng . Vậy muốn học sinh ngày càng làm bài tốt hơn , có hồn hơn
- Mở bài và kết bài cha hợp lý, còn thiếu lôgíc, thiếu chặt chẽ.
- Một số học sinh cha biết thêm các chi tiết cần thiết vào để câu chuyện mình kể
có nét riêng tạo sự hấp dẫn cho ngời đọc .
Để đạt đợc yêu cầu đề ra, chúng tôi đã tiến hành điều tra từ đầu năm xếp loại
đối tợng hai lớp nh sau:
Lớp Số l
-
ợng
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL % SL % SL % SL %
4A 30 7 23,3% 8 26,7% 12 40% 3 10%
4B 30 6 20% 6 20% 14 46,7% 4 13,3%
Từ thực trạng trên chúng tôi đã rút ra đợc một số kinh nghiệm cụ thể để nâng
cao năng lực viết văn kể chuyện cho học sinh cụ thể nh sau:
III. Nhận thức mới và giải pháp
Kiểu bài kể lại chuyện đã đọc, đã nghe là một kiểu bài kể chuyện nhng ở mức
độ thấp vì cốt truyện, nhân vật, chi tiết và ngôn từ đều đã có trong văn bản truyện.
Học sinh chỉ cần nhớ lại sau khi đọc và nghe kể .Tuy nhiên khi kể lại không phải
học sinh chỉ làm nhiệm vụ đọc thuộc lòng câu chuyện không sai một chữ , một
dấu phẩy là đợc . Mà phải dựa vào cốt truyện , nhân vật, chi tiết thậm chí đến cả
một vài ngôn từ của truyện rồi dùng lời kể của mình để kể. Mục đích là giúp ngời
nghe biết đợc câu chuyện , nắm đợc ý nghĩa của chuyện.
Khi kể lại học sinh phải giữ đúng ý nghĩa câu chuyện kể trung thành cốt
truyện , nhân vật Nhng có thể dùng lời lẽ khác nhau, cách nhấn mạnh hay lớt
qua, cách sử dụng giọng điệu khác nhau để kể . Những thủ thuật nho nhỏ đó sẽ tạo
2
nên sự hấp dẫn cho ngời kể khiến ngời nghe im lặng theo dõi câu chuyện. Khi kể
lại ngời kể có thể thay đổi ngôi kể.
Ví dụ : Câu chuyện Cây tre trăm đốt có thể kể lại bằng lời của anh trai cày
lúc đó truyện sẽ bắt đầu bằng lời tự giới thiệu.
các chi tiết quan trọng, đúng ý nghĩa câu chuyện .
- Muốn kể hay phải kể bằng lời của chính mình .
- Học sinh có thể thêm một vài chi tiết phụ nh tả nét mặt, tả khung cảnh nơi xẩy
ra sự kiện sao cho hợp lý .
- Muốn kể hấp dẫn học sinh cần phải biết nhấn chỗ này, lớt chỗ khác tức là lợc
bỏ bớt chi tiết rờm rà không quan trọng mà kể rõ hơn, rõ thêm các chi tiết quan
trọng . Song học sinh không đợc quên các chi tiết đã tạo cho câu chuyện sinh
động, lôi cuốn ngời nghe, không kể vắn tắt cốt truyện vì thế ngời đọc sẽ chán, bài
văn sẽ không hấp dẫn .
a. Cách mở bài kể lại chuyện đã đọc, đã nghe .
3
Ví dụ : Từ bài kể lại chuyện : Từ hai bàn tay2 học sinh có hai cách mở bài sau
đây :
Đoạn mở bài thứ nhất :
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức ngời sỏi đá cũng thành cơm.
Điều đó thật đúng khi bạn đợc nghe câu chuyện Sự tích quả da đỏ .Nhân đây
tôi sẽ kể bạn nghe câu chuyện đó nhé .
Ngày xửa ngày xa, có một ngời tên là Mai An Tiêm , chàng hiền lành , làm
việc chăm chỉ nên đợc nhà vua nhận làm con nuôi .
- Cách thứ nhất : Bạn học sinh đa hai câu thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông
nh một chân lý nói rõ câu chuyện Sự tích quả da đỏ có thể chứng minh cho
chân lý đã nêu . Cách mở bài này đi từ xa đến gần , từ ý nghĩa câu truyện đến nội
dung câu chuyện .
Cách thứ hai :Ngời viết giới thiệu nhân vật chính của truyện để vào chuyện luôn .
Đây chính là cách mở bài trực tiếp , cách này nhiều học sinh hay dùng , cũng giới
thiệu nhân vật chính của truyện nhng do cách diễn đạt khác nhau lại tạo ra cách
mở bài cụ thể khác nhau .
Ví dụ : Ngày xa, có một thanh niên tên là Mai An Tiêm . Chàng là ngời thông
minh , tháo vát và là ngời có nhiều tài . Tin đến nhà vua , vua cho mời chàng về
kể. Trong mỗi đoạn cần có câu mở đoạn và câu kết đoạn.Trong khi kể học sinh
nên sáng tạo, tởng tợng để thêm một số chi tiết nh lời nói hoặc các yếu tố phi ngôn
ngữ để bộc lộ nội tâm của nhân vật nh ánh mắt , nét mặt, cử chỉ , điệu bộ Để bài
văn hấp dẫn hơn. Song những chi tiết thêm vào không đợc trái với cốt truyện,
không đợc làm sai lạc ý nghĩa của truyện và cũng không đợc thêm thắt quá nhiều
vì nh thế sẽ làm biến đổi cốt truyện .
Ví dụ : Về cách phân đoạn trong bài Kể lại câu chuyện sự tích Hồ Ba Bể
mà em đã đợc nghe (lớp 4). Học sinh nắm chắc nội dung câu chuyện và rút ra 4 ý
chính nh sau ( ghi vào giấy nháp ).
+ Đoạn 1 : Bà cụ ăn xin xuất hiện .
+ Đoạn 2 :Hai mẹ con bà goá cho bà cụ ăn và ngủ lại.
+ Đoạn 3 : Truyện xẩy ra trong đêm.
+ Đoạn 4 : Sự hình thành Hồ Ba Bể .
Từ 4 ý chính đó học sinh kể thành 4 đoạn. Tất nhiên trong khi kể học sinh cố
gắng sáng tạo thêm .
c, Hớng dẫn học sinh luyện tập cách viết phần kết của kiểu bài kể lại chuyện
đã đọc , đã nghe .
Có vô vàn cách mở đầu nên cũng có vô vàn cách kết thúc. Đa số học sinh mở
bài theo cách này nhng lại kết thúc bài theo một cách khác. Nên phần kết thúc bài
của các em luôn thiếu một cái gì đó. Nguyên nhân là các em cha hiểu rõ mối quan
hệ giữa cách mở bài và kết thúc câu chuyện đợc kể lại .
Sau đây là một số kết bài hợp lý.
+ Nếu chọn cách mở bài trực tiếp kể luôn vào câu chuyện thì kết thúc câu
chuyện bằng chính một chi tiết trong chuyện.
Ví dụ: Mở bài Thuở ấy vào thời vua Hùng thứ 18,nớc Âu lạc có một nàng công
chúa sắc đẹp tuyệt trần ,tính tình hiếu thảo tên là Mị Nơng.
Kết bài : Hằng năm Thuỷ Tinh lại làm cho lũ lụt ,bão tố hòng chiếm đoạt đợc
công chúa nhng đều thất bại .
Hoặc:
+ Nếu chọn cách mở bài gián tiếp, học sinh đứng ra xngTôithì mở bài có thể là
- Ngời anh tham lam sang gạ em đổi gia tài lấy cây khế, ngời em nhận lời .
- Thấy chim lạ đến ăn, ngời anh than thở xin đừng ăn khế chim cũng nói nh nói
với ngời em .
- Ngời anh may túi mời hai gang . Đến núi vàng, ngời anh nhét vàng đầy túi to t-
ớng .
- Chim không bay qua biển đợc. Ngời anh bị rơi xuống biển chết .
Bớc 3: Từ những ý chính của từng đoạn học sinh nhớ, tởng tợng thêm các tình tiết
cần thiết để kể lại chuyện bằng lời văn của mình .
L u ý : Đối với kiểu bài kể lại chuyện dựa theo tranh thì học sinh cần hiểu nội
dung của từng bức tranh, sắp xếp các nội dung đó theo trình tự diễn biến và kể lại .
Bằng cách hớng dẫn học sinh làm bài qua các bớc nh trên học sinh đã nắm đợc cốt
truyện và làm bài tơng đối đạt yêu cầu . Sau đây là một số bài văn của học sinh .
Bài 1 (Trần Văn Hùng - 4A - HS trung bình )
Hai anh em nhà kia chia gia tài sau khi bố mẹ chết . ngời anh tham lam chiếm
hết gia tài , ngời em chỉ đợc cây khế .
Một hôm có con chim lạ đến ăn khế . Ngời em xin chim đừng ăn vì nhà nghèo .
Chim dặn may túi ba gang và sẽ đa đi lấy vàng . Ngời em nghe lời bèn may túi ba
gang . Đợc chim đa tới núi vàng và ngời em trở nên giàu có . Ngời anh thấy thế
bèn gạ gẫm ngời em lấy cây khế . Chim lạ cũng đến ăn khế, ngời anh xua đuổi.
Chim dặn ngời anh may túi mời hai gang, khi chim đa tới núi vàng, ngời anh nhét
vàng đầy túi mời hai gang. Vì thế khi trở về chim không chở nổi . Ngời anh bị rơi
xuống biển và chết chìm .
Hùng là học sinh trung bình thờng gặp phải khó khăn trong khi viết văn. Nh-
ng nhờ tuân thủ các bớc làm bài của bài văn kể chuyện vì thế bài văn mặc dù cha
có sáng tạo nhng đảm bảo nội dung của yêu cầu .
Sau đây là bài của một học sinh khá (Nguyễn Thị Anh - lớp 4A):
Bài làm :
6
Ngày xa ở một gia đình nọ có hai anh em, sau khi bố mẹ qua đời, ngời anh
bèn chia gia tài. Cậy thế mình là anh cả, anh ta liền chiếm mọi tài sản trong gia
Bụt cho câu thần chú thế nào để tạo thành cây tre trăm đốt? Cảnh phú ông và gia
đình bị dính vào cây tre trăm đốt ra sao và kết cục anh lấy đợc con gái phú ông.
+ Hai cách kể này giống nhau là cùng cốt truyện, khác nhau ở ngôi kể .
Cách kể thứ nhất là dùng lời ngời dẫn chuyện .
Cách kể thứ hai là dùng lời của nhân vật chính trong truyện : Anh Khoai ở sách
giáo khoa lớp 4( trang 142) kiểu bài chuyển đổi ngôi kể .
Ví dụ : Kể lại câu chuyện Vua tàu thuỷ Bạch Thái Bởi . Bằng lời của một chủ
tàu ngời pháp hoặc ngời hoa có thể viết nh sau :
Tôi là một chủ tàu ngời Pháp, đã từng bán tàu của mình cho Bạch Thái Bởi. Bị
thua lỗ, tôi rất buồn nhng dẫu sao cũng phải kính phục ngời đã hạ gục mình .
Bạch Thái Bởi mồ côi cha từ nhỏ
7
* Một chuyện có nhiều nhân vật, có thể kể lại chuyện đó bằng lời của bất kỳ
nhân vật nào trong truyện nhng đặc biệt nhất là nhân vật chính, nhân vật quan
trọng biết nhiều việc, nhiều ngời, nhiều cảnh .
2. Những nét đặc sắc khi thay đổi ngôi kể .
Cách thay đổi ngôi kể làm cho mỗi lần kể câu chuyện lại có nét riêng .Nghe
anh Khoái, nhân vật chính kể lại câu chuyện Cây tre trăm đốt ta thấy nh không
phải nghe một chuyện cổ tích mà nghe lời tâm sự của anh về những cảnh ngộ
mình trải qua. Bởi thế anh xng tôivà đổi chỗ có điều kiện bộc bạch tâm trạng
của mình .
Ví dụ : Tôi đi hết ngày này sang ngày khác trong rừng đếm mãi mà chẳng có
cây tre nào đủ trăm đốt cả. Tôi buồn chán quá, thấy mình thua cuộc rồi bật khóc .
Tôi đang nức nở khóc bỗng có ai đặt tay lên vai tôi và một giọng êm ái cất lên
Tại sao con lại ngồi khóc giữa rừng ?
Đối với dạng bài này , giáo viên cần giúp cho học sinh xác định ngôi kể, chuyển từ
ngời dẫn chuyện sang lời nhân vật kể . khi mà nhân vật kể thì phải điều chỉnh ngôi
kể ( dùng đại từ tôi ) . Trong quá trình kể cần bộc bạch tâm trạng của nhân vật .
3.Các bớc làm một bài văn kể lại chuyện đã đọc, đã nghe có thay đổi ngôi kể
so với văn bản truyện .
Lớp Số lợng
học
sinh
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm
yếu
SL % SL % SL % SL %
4A 30 em 14 46,7% 11 36,7% 5 16,6% 0
4B 30 em 13 43,3% 10 33,3% 7 23,4% 0
Qua kết quả khảo sát chúng tôi thấy rằng Phơng pháp luyện tập viết bài văn
kể lại chuyện đã đọc, đã nghe cho học sinh lớp 4 đã có kết quả rõ rệt .Đặc biệt
không có em nào bị điểm yếu. Mặt khác học sinh không những kể lại đầy đủ nội
dung cốt truyện mà lời văn trôi chảy, biết dừng đoạn, biết sáng tạo biết bộc lộ nội
tâm nhân vật. Nói chung là bài văn khá hấp dẫn.
Qua đó chúng tôi nhận thấy rằng: Phơng pháp luyện tập viết bài văn kể lại
chuyện đọc đã nghe đã có kết quả. Nhiều em đã phát triển năng lực viết văn bộc
lộ năng khiếu của mình. Đặc biệt với phơng pháp này đã rèn kĩ năng nhớ lại các
chi tiết , nhân vật , diễn biến chính của câu chuyện , rèn kỹ năng sắp xếp chi tiết ,
biết nhấn mạnh chi tiết chính , lớt qua các tình tiết phụ . Học sinh biết dùng từ đặt
câu và đặc biệt rèn kỹ năng đọc lại bài , sửa chữa bài văn của mình để bài văn hấp
dẫn ngời đọc .
V. Bài học kinh nghiệm
Sau một năm tiến hành nghiên cứu về dạy tập làm vănkể lại chuyện đã
đọc,đã nghe cho học sinh lớp 4 và tiến hành thực nghiệm trên học sinh và đã thu
đợc kết quả. Chúng tôi rút ra kết luận nh sau :
+ Đối với bài kể chuyện . Kể lại chuyện đã đọc , đã nghe theo ngôi kể của văn
bản truyện hay kể lại truyện đã đọc đã nghe có thay đổi ngôi kể so với văn bản
truyện thì giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ lại chuyện hoặc nhớ lại một cách đầy
đủ, chính xác chuyện.
+ Sau đó liệt kê ra giấy các chi tiết chính tạo nên cốt truyện , nhân vật chính
của chuyện . Nguyên tắc là không để thiếu chi tiết chính , các nhân vật chính . Sau