117 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Ninh Thuận đến năm 2010 - Pdf 25

1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Trang
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. Các khái niệm ............................................................................................01
1.1.1 Dân cư và dân số ..........................................................................01
1.1.2 Nguồn nhân lực .............................................................................01
1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực ............................................................05
1.2. Vai trò của của nguồn nhân lực................................................................06
1.3. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước ..................10
1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ........................................................................10
1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản .............................................................12
1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc .........................................................13
1.3.4 Bài học kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các nước
thực hiện thành công CNH – HĐH ................................................16

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGUỒN
NHÂN LỰC TỈNH NINH THUẬN

2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tỉnh Ninh Thuận .17
2.1.1. Điều kiện tự nhiên .........................................................................17
2.1.2. Kinh tế – xã hội tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 1995 – 2003 ..............20
2.2. Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Ninh Thuận ......23
2.2.1. Thực trạng dân số ..........................................................................23
2.2.2. Thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực ................27
2.2.3. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ...........................................33

3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
I. Nguồn lực con người là động lưcï để tăng năng suất lao động,
nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dòch vụ của doanh
nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, là yếu tố quyết đònh tăng trưởng

kê, Bộ Lao động, Thương binh – Xã hội, Cục Thống kê tỉnh Ninh
Thuận; quy họach phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Ninh Thuận và của
các ngành thuộc Tỉnh,… Phần mềm Eviews 4 được sử dụng để chạy các
mô hình.
4. Kết cấu của luận văn:
V. Luận văn được trình bày thành 3 chương:
- Chương I : Lý luận chung về nguồn nhân lực.
- Chương II : Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Ninh Thuận.
- Chương III : Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Ninh Thuận
đến năm 2010.
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng với kiến thức hạn chế, kinh nghiệm nghiên
cứu chưa toàn diện, nên luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Kính mong
nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy, cô để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện
hơn nữa vấn đề nghiên cứu và nâng cao hơn nữa kiến thức, kinh nghiệm nghiên
cứu.

NNL theo quan niệm như trên gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình
thường và có độ tuổi từ giới hạn dưới của tuổi lao động trở lên.
Ở Việt Nam, theo quy đònh của Tổng cục Thống kê NNL bao gồm bộ phận
dân cư trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 đến 60, nữ từ đủ 15 đến 55) có khả
năng lao động và bộ phận dân cư ngoài độ tuổi lao động có tham gia sản xuất.
Như vậy, giới hạn dưới của tuổi lao động ở Việt Nam là 15 và NNL theo
quy đònh của Việt Nam khác với các nước ở chỗ bao gồm cả lao động trẻ em có
tham gia lao động.
Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng, không nên tính số trẻ em dưới tuổi tham
gia lao động vào NNL vì vi phạm Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
1.1.2.2. Theo nghóa hẹp:
a.
Nguồn lao động:
- Theo từ điển thuật ngữ trong lónh vực lao động của Liên Xô (Matxcơva tái
bản năm 1997 – bản tiếng Nga): Nguồn lao động là toàn bộ những người lao
6
động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao
động chưa tham gia lao động).
Khái niệm nguồn lao động như trên đồng nghóa với khái niệm NNL (vì các
nước đã không tính lao động trẻ em vào NNL).
- Theo quy đònh của Tổng cục Thống kê: Nguồn lao động gồm những người
từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng đang thất nghiệp hoặc đang đi học hoặc đang làm nội trợ
cho gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc. Nói khác đi:
Nguồn lao động =NNL – Lao động trẻ em
Khái niệm này phù hợp với qui đònh của Bộ Luật Lao động về độ tuổi lao động
và thống nhất quan điểm nhiều nước trên thế giới. Nó bao gồm những người lao


7
lao động, nếu xét về tình trạng hoạt động thì khái niệm NNL đồng nghóa với lực
lượng lao động.
Mối quan hệ giữa dân số, NNL, nguồn lao động và lực lượng lao động theo
quan niệm của ngành lao động Việt Nam được minh họa trong sơ đồ1.1
Sơ đồ 1.1: MỐI LIÊN HỆ GIỮA DS-NNL-NLĐ-LLLĐ

Trên tuổi lao động không làm
việc
Dưới tuổi lao động không làm
việc
Lao động là trẻ em
Trên tuổi LĐ đang làm việc
Đang làm việc
Thất nghiệp
Đi học
Nội trợ

Ngoài các khái niệm cơ bản trên, trong thống kê lao động – việc làm hàng
năm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội còn sử dụng một số khái niệm sau
để xác đònh quy mô lực lượng lao động ở một thời điểm.

Dân số hoạt động kinh tế:
Dân số hoạt động kinh tế chính là lực lượng lao động và được chia thành 2
loại:
- Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên là những người thuộc dân số hoạt
động kinh tế trong 12 tháng qua có tổng số ngày làm việc và ngày có nhu cầu
làm thêm lớn hơn hoặc bằng183 ngày.
- Dân số hoạt động kinh tế không thường xuyên là những người thuộc dân
số hoạt động kinh tế trong 12 tháng qua có tổng số ngày làm việc và ngày có
nhu cầu làm thêm nhỏ hơn 183 ngày.

Dân số không hoạt động kinh tế:
Dân số không họat động kinh tế bao gồm toàn bộ số người từ đủ 15 tuổi trở
lên không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm. Những người này
8
không hoạt động kinh tế vì các lý do: đang đi học; nội trợ; già cả; không có khả
năng lao động hoặc ở vào tình trạng khác.

Người có việc làm:
Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động
kinh tế trong tuần lễ trước thời điểm điều tra (gọi tắt là tuần lễ tham khảo):
- Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng
tiền hay hiện vật.
- Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi

9
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu lực lượng lao động theo tình trạng việc làm
Lực lượng lao động
Lao động có việc làm
Lao động thất nghiệp
Đủ việc làm
Thiếu việc làm
Thất nghiệp dài hạn Thất nghiệp ngắn hạn

1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực:
- UNESCO quan niệm: Phát triển NNL là toàn bộ sự lành nghề của dân cư
trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước.
Quan niệm của UNESCO như trên giống với quan niệm phát triển NNL của
các nhà kinh tế, phát triển NNL phải gắn với phát triển sản xuất, và chỉ nên giới
hạn phát triển NNL trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với
yêu cầu về việc làm.
- ILO cho rằng: Phát triển NNL không chỉ ở phạm vi trình độ lành nghề hay
vấn đề đào tạo nói chung mà là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó
của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thoả mãn về nghề
nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng
cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc nhằm đáp ứng những kỳ vọng của
con người.
Quan niệm của ILO về NNL có phạm vi rộng hơn, phát triển NNL không
chỉ có sự chiếm lónh ngành nghề mà còn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng năng
lực, thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân trong xã hội.
Qua một số đònh nghóa nêu trên, có thể thấy rằng: phát triển NNL là quá
trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu

có nhiều lãnh đòa.
Vai trò của người lao động trong những thời kỳ này không được coi trọng do
năng suất lao động lúc này phụ thuộc vào bản thân anh ta ít hơn vào đất đai và
điều kiện tự nhiên của nó. Hơn nữa, dưới chế độ nô lệ, phong kiến, người lao
động phụ thuộc nặng nề vào chủ nô và điền chủ, họ chưa làm chủ được sức lao
động của họ.
Vậy, quá trình phát triển kinh tế trong các thời kỳ phát triển từ nguyên thủy
đến phong kiến chòu tác động của 3 yếu tố phát triển theo trật tự như sau: đất
đai, vốn, con người.
Dưới thời kỳ phát triển TBCN, quá trình phát triển kinh tế bước sang một
giai đoạn mới với tốc độ phát triển và mở rộng sản xuất nhanh hơn nhiều so với
các thời kỳ trước đó. Yếu tố khởi nguồn cho sự tăng tốc chính là sự thay đổi mối
quan hệ giữa 3 yếu tố tạo nên sự phát triển.
Các nhà kinh tế trước thế kỷ XX như Adam Smith và Các Mác đã đưa ra
những luận thuyết tích luỹ tư bản, khẳng đònh vai trò then chốt của tích luỹ tư
bản trong việc tạo ra tiến bộ kinh tế dưới thời CNTB sơ khai.
Theo A. Smith tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu
người phụ thuộc vào 5 nhân tố và được biểu thò bởi hàm sản xuất tổng lượng như
sau: Y
t
= f(L
t
, I
t
, N
t
, T
t
, U
t

đóng vai trò quyết đònh được biểu hiện ở số lượng, chất lượng lao động
đầu vào và tỷ lệ giữa lượng lao động sản xuất và lượng lao động phi sản xuất.
Ông đi đến kết luận để Y
t
tăng phải tăng số người lao động sản xuất và nâng cao
năng suất lao động.
- I
t
đóng vai trò quyết đònh được biểu hiện ở chỗ máy móc và công cụ được
cải tiến không ngừng và là cơ sở để tăng năng suất lao động.
A. Smith cho rằng: Để tăng số người lao động sản xuất phải đưa thêm máy
móc thiết bò vào sản xuất, phải cần một lượng lớn tư bản. Để cải tiến máy móc
thiết bò cũng cần thêm tư bản. Điều này khiến việc tích luỹ tư bản, vốn, trở thành
yếu tố chi phối quá trình sản xuất ra của cải vật chất.
Trong tác phẩm “Tư bản” nổi tiếng của mình, Các Mác đã chứng minh
rằng: Tích luỹ tư bản là yếu tố tiên quyết cho phép quá trình tái sản xuất mở
rộng. Tái sản xuất mở rộng chính là quá trình gia tăng của cải, mở rộng sản
xuất. Các Mác cho rằng: Giá trò thặng dư m nhà tư bản thu được phải được chia
thành 2 phần: m
1
và m
2
, một phần dùng cho tiêu dùng hiện tại của bản thân nhà
tư bản và gia đình, phần kia, thậm chí là phần lớn, dùng để tích luỹ và tiến hành
quá trình tái sản xuất mở rộng.
Như vậy, trật tự ưu tiên mới trong sự tác động tới quá trình phát triển kinh
tế dưới thời tư bản chủ nghóa là vốn, tài nguyên, con người.
Bên cạnh việc khẳng đònh vai trò chi phối của tích luỹ tư bản trong phát
triển sản xuất dưới CNTB, các nhà kinh tế trước thế kỷ XX đã có những nhìn
nhận ban đầu về vai trò của con người trong quá trình sản xuất. A. Smith cho

A
Y
Y Δ
+
Δ
−+
Δ
=
Δ
αα
)1(
⇒ G
Y
= λ +(1-α) G
K
+α G
L
Trong đó: G
Y
, G
K
, G
L
lần lượt là tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân, lao
động, tư bản.
α (0<α<1): mức co giãn đầu ra của sự tăng trưởng theo đầu vào lao
động.
λ: Tình trạng tiến bộ kỹ thuật hay tổng năng suất các nhân tố hoặc
phần dư Solow (phần chênh lệch không giải thích được giữa đầu ra và các yếu tố
đầu vào (lao động, tư bản)).

13
tỷ lệ đầu ra cận biên của tư bản giảm dần (lợi ích giảm dần), trong mô hình của
Romer, đổi mới kỹ thuật không những đã được nội sinh hoá (với Solow tiến bộ
kỹ thuật là biến ngoại sinh), là biến nội sinh của tăng trưởng kinh tế, mà còn là
kết quả tích luỹ tri thức và tăng tư bản nhân lực. Tích luỹ tri thức và tăng tư bản
nhân lực chuyên môn hoá thay thế nhân tố vật, trở thành nhân tố chủ yếu và
động lực của tăng trưởng kinh tế. Chẳng những bản thân việc tích luỹ tri thức và
tư bản nhân lực có lợi ích tăng dần, hơn nữa nó còn có thể thông qua hiệu ứng
bên ngoài làm cho tư bản vật chất và các nhân tố khác cũng có lợi ích tăng dần,
từ đó khiến cho lợi ích quy mô của toàn bộ nền kinh tế tăng dần, thúc đẩy kinh
tế tăng trưởng lâu dài.
Năm 1988, nhà kinh tế học Mỹ Lucass trong bài luận văn “Bàn về cơ chế
phát triển kinh tế” đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng tăng trưởng kinh
tế của mình và minh hoạ bằng cách so sánh 3 mô hình tăng trưởng: mô hình cổ
điển mới nhấn mạnh tích luỹ tư bản vật chất và tiến bộ kỹ thuật của Solow; mô
hình nhấn mạnh tích luỹ tư bản nhân lực (được đào tạo chính qui và không chính
qui) của Schultze; mô hình nhấn mạnh tích luỹ tư bản nhân lực chuyên môn hóa
“Vừa học vừa làm” của Arrow. Ông cho rằng, mô hình tăng trưởng kinh tế
không nên chỉ để phù hợp với thực tế tăng trưởng kinh tế đã qua mà còn phải
vạch ra cơ chế động thái của sự tăng trưởng kinh tế; lý luận tăng trưởng kinh tế
không nên chỉ dự đoán tăng trưởng kinh tế trong vài chục năm sắp tới mà phải
vạch ra một cơ chế tăng trưởng lâu dài, nó không thể chỉ vạch ra sự tăng trưởng
kinh tế của một nước nào đó, mà phải suy nghó đến sự tăng trưởng kinh tế của
nhiều nước, thậm chí toàn cầu. Ông phê phán mô hình tăng trưởng cổ điển mới
của Solow, E. Denison; cho rằng, mô hình đó chỉ vạch ra các nhân tố chủ yếu
của sự tăng trưởng kinh tế Mỹ, không đưa ra một lý luận về tăng trưởng kinh tế.
Về cơ bản, mô hình tăng trưởng cổ điển là một mô hình khép kín, các nước đều

quyền tổng thống Bill Clinton, nền kinh tế Mỹ có sự tăng trưởng liên tục trong
10 năm, số việc làm trong 2 nhiệm kỳ của tổng thống Bill Clinton tăng trên 22
triệu với cơ cấu việc làm của 9 ngành lớn biến đổi theo ba hướng chính như sau:
các ngành có xu hướng giảm: nông nghiệp, khai thác mỏ, CN chế tạo, hành
chính công; các ngành biến động không lớn: XD, giao thông vận tải, TM, tài
chính – bảo hiểm – bất động sản; ngành có xu hướng tăng mạnh: DV.
Như vậy, dưới thời Bill Clinton các ngành đòi hỏi chuyên môn cao, tạo ra
nhiều giá trò thặng dư và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển mạnh được quan
tâm phát triển.
Thành quả trên không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ những điều chỉnh
lớn của Chính phủ về giáo dục và phát triển NNL. Sau đây là một số chính sách
tiêu biểu.
a.
Chính sách về giáo dục:
Xác đònh giáo dục tiểu học và trung học là bước khởi đầu quan trọng để
phát triển NNL. Chính sách của Mỹ trong lónh vực này bao gồm:
+ Tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với công nghệ giáo dục mới như
Chương trình máy tính trong học tập, Chương trình trợ cước phí điện tử. Chỉ trong
3 năm 1998 – 2000, Chính phủ Mỹ đã chi 5,7 tỷ USD cho hai chương trình này.
+ Thực hiện giảm qui mô lớp học: Chỉ trong 2 năm 2000 – 2001, Chính
phủ Mỹ đã chi 1,3 tỷ USD cho đào tạo, thuê giáo viên đủ năng lực đảm bảo cho
việc giảm qui mô lớp học những năm đầu tiểu học xuống còn trung bình 18 học
sinh / lớp.
+ Nâng cao chất lượng giáo viên: Trong năm tài chính 2000, Chính phủ
Mỹ đã chi 98 triệu USD cho Chương trình trợ cấp nâng cao chất lượng giáo viên.
+ Tạo điều kiện cho học sinh nghèo, học sinh học kém được tiếp cận sự
trợ giúp của giáo viên nhằm tiếp thu bài tốt hơn thông qua Chương trình tạo cơ

hoạt động theo hướng: một là, đào tạo lại và nâng cao tay nghề; hai là, xúc tiến
việc làm và tuyển dụng. Hàng năm Chính phủ chi khoảng 5,5 tỷ USD cho mục
đích này.
Chính phủ Mỹ đã đề ra 3 chương trình quốc gia cho đào tạo lại: Luật đầu tư
cho lực lượng lao động, Chương trình hỗ trợ điều chỉnh nghề nghiệp và chương
trình hỗ trợ điều chỉnh Hiệp đònh Thương mại tự do Bắc Mỹ. Đây là những
chương trình giúp người lao động mất việc làm, kỹ năng thấp, nghiệp vụ lỗi thời
được đào tạo nâng cao tay nghề, tìm kiếm nơi làm việc, chỗ ở, hỗ trợ kinh phí
học nghề.
Chính phủ Mỹ còn có nhiều chương trình xúc tiến việc làm như Chương
trình từ phúc lợi đến việc làm để thúc đẩy và hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người
16
có thu nhập thấp, giảm nghèo; Chương trình trung tâm đào tạo việc làm để hỗ
trợ việc làm cho thanh niên; Chương trình tổ chức xúc tiến việc làm tăng thu
nhập cho thanh niên và giảm tệ nạn xã hội do cam kết của những người tự
nguyện tham gia chương trình.
Thực tế ở Mỹ cho thấy, nước này đã thực hiện kết hợp hỗ trợ việc làm đi
kèm với các chương trình đào tạo giáo dục, bên cạnh việc đào tạo và hỗ trợ việc
làm cho lực lượng lao động cũ đã lỗi thời hoặc cần nâng cấp, chú trọng việc
nâng cao trình độ giáo dục, tay nghề, hỗ trợ việc làm cho lực lượng lao động
mới. Kết quả là đưa lại xã hội ngày càng phát triển tốt hơn.
1.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Nhật Bản là nước thuộc nhóm quốc gia phát triển nhất trên thế giới và khu
vực châu Á, có qui mô dân số khoảng 127,286 triệu người (năm 2002). Tỷ lệ dân
số tham gia lực lượng lao động có xu hướng ngày càng giảm, sau 40 năm (từ
1960 tới 2000) tỷ lệ này đối với nam là 85% và 74,9%, đối với nữ là 50,9% và
48,1%. Năm 2000, dân số Nhật Bản từ 15 tuổi trở lên khoảng 108,36 triệu, trong

“Hệ thống hỗ trợ để giành kỹ năng nghề nghiệp” nhằm hỗ trợ người lao động
từng bước và có hệ thống đạt được kỹ năng và chuyên môn nghề nghiệp. Đặc
biệt, Nhật Bản có dự án “Xúc tiến sử dụng kỹ năng kỹ thuật cao” để trợ giúp
việc áp dụng và áp dụng thành công các kỹ năng, kỹ thuật tinh xảo, trình độ cao.
Nhật Bản phát triển rất mạnh các “Văn phòng đảm bảo việc làm” do nhà
nước thành lập. Những năm gần đây, các tổ chức này giới thiệu và cung cấp các
DV sau:
- Ngân hàng NNL: Các “Văn phòng đảm bảo việc làm” đã thành lập 26
ngân hàng NNL ở các thành phố lớn để giới thiệu, cung ứng nhân lực cho các
công ty vừa và nhỏ và xúc tiến việc làm cho người cao tuổi.
- Ngân hàng và các điểm vệ tinh việc làm bán thời gian: Các “Văn phòng
đảm bảo việc làm” đã thiết lập 85 ngân hàng và 105 điểm vệ tinh ở các vùng
thuận lợi như cửa ngõ các thành phố lớn để giới thiệu, cung ứng việc làm bán
thời gian.
- DV hội chợ thông tin việc làm: Từ năm 1999, các “Văn phòng đảm bảo
việc làm” mở hội chợ thông tin việc làm ở từng quận để giúp người tìm việc dễ
dàng và nhanh chóng có được việc làm, những thông tin về việc làm.
- Trung tâm hỗ trợ việc làm toàn diện/ Phòng tư vấn cho sinh viên: Các
“Văn phòng đảm bảo việc làm” triển khai DV này để trợ giúp việc làm cho sinh
viên tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp/ ĐH.
Thành công lớn nhất của Nhật Bản trong phát triển NNL là đào tạo lao
động tại các công ty. Ở Nhật Bản, một khi người lao động gia nhập công ty, họ
được đào tạo để trở thành những thành viên thực sự của đơn vò bằng nhiều hình
thức. Người lao động cứ 5 năm lại được đào tạo lại để nâng cao hoặc bồi dưỡng
thêm kỹ năng mới do áp dụng công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất.
Một xã hội học tập suốt đời là chìa khóa giúp cho Nhật Bản đạt được đỉnh
cao trong phát triển kinh tế. Đó cũng chính là chính sách phát triển NNL hiện tại
và trong tương lai của Nhật Bản.
1.3.3. Kinh nghiệm Trung Quốc:
Trung Quốc là nước có dân số đông nhất thế giới, đến cuối năm 2002 là

trong một xã hội dựa trên nền kinh tế tri thức. Để nâng cao trình độ văn hoá và
kỹ năng cho lực lượng lao động, Chính phủ Trung Quốc đã xúc tiến tất cả các
loại hình đào tạo thông qua nhiều kênh khác nhau và nhấn mạnh sự cân bằng về
khả năng, trình độ học thức với kỹ năng, chất lượng ngành nghề.
Hiện nay, hệ thống giáo dục bắt buộc 10 năm đã bao trùm lên 85% tổng số
dân và tỷ lệ mù chữ trong số người trẻ tuổi và trung niên giảm xuống ở mức 5%.
Trung Quốc đã đạt được tiến bộ quan trọng trong giáo dục phổ thông cho người
lao động, 100% người lao động đều biết chữ, trong đó 12% được xoá mù, 36% có
trình độ tiểu học, 49% có trình độ văn hóa THCS, 3% có trình độ THPT. Trung
Quốc với mục tiêu xây dựng một hệ thống giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật,
đào tạo toàn diện nhiều cấp độ, đang phát triển các trường đào tạo nghề và kỹ
thuật bậc ĐH, các trường trung học nghề và trung học kỹ thuật, các trường trung
học bách khoa, các trường kỹ thuật, các trung tâm đào tạo nghề, các tổ chức đào
tạo nghề do cộng đồng đảm nhận và các trung tâm đào tạo nghề tại nơi làm việc
do các doanh nghiệp tổ chức, do đó đã tăng cường công tác đào tạo cho lao động
mới vào nghề, những người đang làm việc và những người thôi việc. Trung Quốc
cũng đã, đang hình thành một cơ chế cho “thò trường dẫn dắt việc đào tạo và đào
tạo thúc đẩy việc làm”. Một hệ thống danh mục kỹ năng nghề đang được giới
thiệu và một hệ thống trình độ nghề đã được xây dựng cho những người lao
động. Đặc biệt, Trung Quốc hưởng ứng chương trình việc làm toàn cầu được
19
thông qua tại “Diễn đàn việc làm thế giới” do ILO tổ chức tháng 11/2001 tại
Giơnevơ bằng cam kết gắn chặt việc làm với chính sách xã hội với 4 nội dung:
- Gắn kết xúc tiến việc làm với xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.
- Gắn kết xúc tiến việc làm với phát triển hệ thống an sinh xã hội.
- Gắn kết tạo việc làm với điều chỉnh chiến lược kinh tế.
- Gắn kết tạo việc làm với xây dựng nguồn lực con người.

2001. Ngoài ra, cho tới nay đã có 30 thành phố thực hiện chương trình đào tạo
“khởi sự doanh nghiệp” để đào tạo người bò mất việc do cải cách doanh nghiệp
nhà nước và những người thất nghiệp khác có nguyện vọng thành lập doanh
20
nghiệp, kinh doanh nhỏ, giúp họ đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà
nước và vay các món vay nhỏ sau khi kết thúc khoá học. Do vậy, tăng cơ hội tái
tạo việc làm.
1.3.4. Bài học kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các nước thực
hiện thành công công nghiệp hoá – hiện đại hoá:
Lý luận và thực tiễn ở các nước phát triển nói chung; Mỹ, Nhật Bản, Trung
Quốc nói riêng; cho thấy, các nguồn lực thúc đẩy CNH-HĐH có nhiều (nguồn
lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học,
công nghệ,…) và giữa chúng có mối quan hệ với nhau trong quá trình phát triển
CNH-HĐH. Nhưng trong đó, NNL được xem là năng lực nội sinh quan trọng chi
phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, NNL với
yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám, có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bò cạn
kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù
nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy tác dụng khi kết hợp
được với nguồn lực con người một cách có hiệu quả.
Nếu coi NNL là tiềm năng con người, thì phát triển NNL là quá trình biến
đổi của NNL nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng của con người; là phát
triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển
năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao về đạo
đức và tay nghề, về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng này lên trình độ
chất lượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn.
Trong quá trình CNH-HĐH việc tìm kiếm những cách thức và giải pháp
nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng nhân lực của các nước có khác nhau trong

2.1.1. Điều kiện tự nhiên:
2.1.1.1. Vò trí đòa lý:
Ninh Thuận được tách ra từ tỉnh Thuận Hải vào năm 1992. Tỉnh ở phía nam
vùng duyên hải miền Trung, có tọa độ đòa lý từ 11
0
18’14” đến 11
0
09’15” vó độ
Bắc và từ 108
0
09’08” đến 109
0
14’25” kinh độ Đông. Phía bắc giáp tỉnh Khánh
Hòa, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp tỉnh Lâm Đồng, phía đông
giáp biển Đông.
2.1.1.2. Vò trí kinh tế:
Ninh Thuận thuộc vùng kinh tế Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm của
cả nước, với vò trí đòa lý nằm ở trung điểm của 3 vùng: Nam Tây Nguyên, Nam
Trung Bộ, Đông Nam Bộ. Có 3 trục giao thông chiến lược chạy qua là quốc lộ
1A, tuyến đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 27 lên Tây Nguyên. Cách Nha Trang
105 km, cảng Cam Ranh 50 km, Đà Lạt 110 km, Tp. Hồ Chí Minh 350 km.
Tổng chiều dài đòa giới và biển Đông 498 km, trong đó chiều dài bờ biển
105 km. Diện tích đất tự nhiên 3.360,06 km
2
. Có 3 dạng đòa hình: miền núi,
đồng bằng và vùng ven biển, thuận lợi để phát triển KT-XH theo hướng kết hợp:
kinh tế biển – kinh tế đồng bằng – kinh tế vùng núi. Đồng thời có điều kiện
thuận lợi giao lưu kinh tế với các vùng xung quanh, với các tỉnh trên toàn quốc.
2.1.1.3. Điều kiện tự nhiên:
a.

(3.360,06 km2) đất tự nhiên có: 60.372,77 ha đất nông nghiệp, 157.301,94 ha đất
lâm nghiệp, 11.517,90 ha đất chuyên dùng, 2.680,84 ha đất ở và 104.132,59 ha
đất chưa sử dụng.
Nhìn chung, đất chưa sử dụng ở Ninh Thuận còn khá nhiều (30,99% diện
tích đất tự nhiên), trong thời gian tới cần tập trung khai hoang phục hóa để thu
hẹp diện tích loại đất này.
c.
Tài nguyên rừng:
Diện tích đất có rừng hiện nay là 157.301,94 ha, chiếm 46,82% diện tích tự
nhiên, chủ yếu là rừng nghèo. Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 152.304,02 ha
(rừng phòng hộ 120.454,39 ha), rừng trồng 4.997,92 ha (rừng phòng hộ 4.140,87 ha).
Trong những năm gần đây, nhờ công tác quản lý bảo vệ rừng tốt, tổ chức
khai thác gỗ hợp lý, đặc biệt là công tác giao đất khoán rừng và chính sách đònh
canh đònh cư nên đã hạn chế được nạn phá rừng, đốt rừng làm rẫy. Sản lượng
khai thác gỗ tròn các loại giảm từ 10.813 m
3
năm 1996 xuống còn 4.689 m
3
năm
2000.
d.
Tài nguyên biển:
Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km với vùng lãnh hải rộng khoảng 18.000 km
2

có ba cửa biển là Đông Hải, Cà Ná, Khánh Hải là một trong bốn ngư trường lớn
nhất và giàu nguồn lợi nhất về các loại hải sản của cả nước, có nhiều tiềm năng
phát triển du lòch và phát triển công nghiệp khai thác thủy sản và khoáng sản
biển. Tổng trữ lượng hải sản 120.000 tấn/năm, trong đó lượng cá đáy là 70 – 80
ngàn tấn/năm, cá ổi 30 – 40 ngàn tấn/năm, có nhiều loại cá có giá trò cao: cá

sông, suối đã xây dựng các công trình thuỷ lợi để cung cấp nước tưới cho cây
trồng như hệ thống đập 19/5, Krông Pha, Nha Trinh – Lâm Cấm,… các công trình
cung cấp nước cho sinh hoạt có nhà máy nước Tháp Chàm với công suất 12.000
m
3
/ngày- đêm, nhà máy nước Phước Dân (Ninh Phước), Tân Mỹ (Ninh Sơn) với
công suất mỗi nhà máy là 1.000 m
3
/ngày - đêm. Ngoài ra, trên toàn tỉnh đã xây
dựng 30 hệ thống cấp nước sinh hoạt tự chảy hoặc bơm từ các sông, suối với
công suất bình quân 150 m
3
/ngày * hệ thống.
Nguồn nước ngầm ít, bò nhiễm mặn, phèn, không đảm bảo cho sản xuất và
sinh hoạt vào mùa khô. Độ sâu mực nước ngầm trong khoảng 4 – 12 m. Hiện
nay, các xã ven biển đã khai thác nước ngầm (đào giếng) để tưới cho khoảng
400 ha đất canh tác (chủ yếu là đất trồng màu, hành, tỏi,…). Khai thác nước
ngầm phục vụ sinh hoạt chỉ có nhà máy nước Phước Dân với công suất
1.000m
3
/ngày đêm, còn lại chủ yếu là đào, khoan giếng. Vùng ven biển nguồn
nước ngầm ít và bò nhiễm mặn nên thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt.
Nhìn chung, Ninh Thuận là tỉnh có nguồn nước hạn chế, cộng thêm lượng
mưa ít, lượng bốc hơi lớn, nên các công trình thuỷ lợi ngoài ý nghóa giữ nước đầu
nguồn, điều hoà nguồn nước mùa khô; còn có ý nghóa quan trọng trong phát
triển kinh tế – xã hội của Tỉnh.
f.
Khoáng sản:
Khoáng sản ở Ninh Thuận phong phú về chủng loại: Nhóm kim loại có
Wolfram, núi Đất, molipđen, thiếc gốc ở núi đất; nhóm khoáng sản phi kim loại

1998 1.118,8 587,9 159,2 371,7
1999 1.176,3 640,2 161,8 374,3
2000 1.252,3 668,4 176,3 407,6
2001 1.366,6 722,1 198,0 446,5
2002 1.494,0 751,1 258,3 484,6
2003 1.597,0 768,5 310,0 518,5
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận 2002, 2003)
Qua bảng trên ta thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh Ninh
Thuận giai đoạn 1995 – 2003 là 7,06%; trong đó bình quân giai đoạn 1996 -2000
là 5,21% (cả nước 6,36%), không đạt chỉ tiêu Nghò quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh
lần IX đề ra (10 – 11%); bình quân giai đoạn 2001 – 2003 là 8,10%, đạt chỉ tiêu
Nghò quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần X đề ra (7 – 8%).
Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Ninh Thuận chậm. Để phát triển
kinh tế, ổn đònh xã hội Tỉnh cần có những chính sách thích hợp để khai thác hết
các thế mạnh của mình.
b.
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo ngành:
Cơ cấu ngành theo GDP của tỉnh Ninh Thuận được cho bởi bảng 2.2:
Bảng 2.2: Cơ cấu ngành theo GDP Đơn vò tính: %
Năm Tổng Nông, lâm Thuỷ sản CN
XD
TM-DV
1995 100,0 42,2 13,3 8,6 3,4 32,4
2000 100,0 34,6 18,8 10,8 3,3 32,5
2001 100,0 32,1 20,8 11,2 3,3 32,6
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận 2002, 2003)

Trích đoạn Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Các quan điểm để xây dựng giải pháp Nhĩm giải pháp chung cho cộng đồng dân cư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status