Đồ án tốt nghiệp 1 Thiết kế nhà máy đường RS
LỜI MỞ ĐẦU
Saccaroza là chất dinh dưỡng vĩ mô dễ dàng tiêu hóa, là nguồn cung cấp năng
lượng nhanh chóng cho cơ thể, tạo ra sự gia tăng của glucoza huyết trong quá trình
tiêu hóa,cung cấp năng lượng 3,94 kilocalo trên một gam [13]. Do đó có ý nghĩa
quan trọng đối với dinh dưỡng cơ thể con người là hợp phần chính và không thể
thiếu trong thức ăn cho con người. Đường còn là nguyện liệu quan trọng của nhiều
ngành công nghiệp hiện nay như công nghiệp: bánh kẹo, đồ hộp, đồ uống, công
nghiệp lên men, sữa, dượt phẩm, hóa học…Nước ta thuộc khu vực nhiệt đới gió
mùa nên thích hợp với việc trồng và phát triển cây mía. Theo hiệp hội mía đường
Việt Nam (VSSA), Tính đến quí I/2013 đã có 40 nhà máy đường đi vào sản xuất.
Các nhà máy đã ép 8.969.000 tấn mía, thu được 784.530 tấn đường, tăng 1.387.000
tấn mía và 148.330 tấn đường so với cùng kỳ năm trước [14]. Thời gian vừa qua giá
đường liên tục tăng và giữ ở mức cao, trong khi giá phân bón giảm, bên cạnh đó là
các nguồn vốn kích cầu của chính phủ khiến nông dân thêm phấn khởi và động viên
các nhà máy đường.
Tuy nhiên ngành mía đường Việt Nam cũng đang gánh chịu một áp lực rất lớn
là cạnh tranh về giá cả khi đường do chúng ta sản xuất ra có giá cao hơn so với các
nước bạn (Thái Lan, Philippines, Trung Quốc…)mà nguyên nhân một phần do kỹ
thuật canh tác, các chính sách chưa hợp lý, thì lý do chính là dây chuyền công nghệ,
thiết bị của nhà máy đã cũ, lỗi thời không còn phù hợp khiến chi phí tăng dẫn đến
tăng giá thành của sản phẩm. Từ những phân tích trên cho thấy việc xây dựng một
nhà máy đường mới, áp dụng công nghệ hiện đại, dự tính hợp lý về vùng mía
nguyên liệu thì giá trị sử dụng của nhà máy sẽ hiệu quả hơn, góp phần giải quyết
được vấn đề về số lượng và chất lượng đường, đồng thời giải quyết được vấn đề
việc làm cho người dân, tăng khả năng cạnh tranh. Như vậy, vấn đề thiết kế một nhà
máy đường hiện đại là yêu cầu có tính khả thi cao.
Để đáp ứng yêu cầu đó thiết kế “nhà máy đường sản xuất đường RS theo
phương pháp hiện đại năng suất 4000 tấn mía/ngày” là rất cần thiết.
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 2 Thiết kế nhà máy đường RS
Đồ án tốt nghiệp 3 Thiết kế nhà máy đường RS
1.2 Vùng nguyên liệu
Nguyên liệu cung cấp chính cho nhà máy là những vùng lân cận như: xã Bình
Thành, Hương Thọ, Hương Bình, Hồng Tiến… (huyện Hương Trà), xã Phong An,
Phong Mỹ, Phong Chương, Phong Sơn, Phong Thu…(huyện Phong Điền).
Ngoài ra, khi xây dựng nhà máy để có nguyên liệu cho việc sản xuất thuận lợi
ta cần mở rộng thêm vùng nguyên liệu bằng cách đầu tư vốn cho nông dân, khuyến
khích dùng giống mới đạt năng suất cao.
1.3 Hợp tác hoá và liên hiệp hoá
Nhà máy đặt ở xã Bình Điền huyện Hương Trà là nhà máy sản xuất ra đường
thuận lợi cho việc hợp tác với các nhà máy: nhà máy bánh kẹo Huế, công ty cổ phần
thực phẩm Huế, nhà máy chế biến thực phẩm 118B Lý Thái Tổ (khu công nghiệp
Bắc An Hoà), nhà máy chế biến rượu ở xã Thuỷ Dương thị xã Hương Thuỷ, nhà
máy nước khoáng Thanh Tân ở xã Phong An huyện Phong Điền, bã bùn làm phân
bón vi sinh Ngoài ra việc liên kết với các nhà máy lân cận sẽ tăng cường khả năng
sử dụng những công trình về điện, nước, giao thông…giúp cho quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm
chi phí vận chuyển…
1.4 Nguồn cung cấp điện
Nguồn cung cấp điện được lấy chủ yếu từ tuabin hơi của nhà máy khi hoạt
động. ngoài ra nhà máy còn sử dụng nguồn điện do sở điện lực Thừa Thiên Huế
cung cấp từ mạng lưới điện quốc gia 500 KV được hạ thế xuống 220V/380 nhằm hổ
trợ cho sản xuất lúc khởi động máy, chạy thiết bị
1.5 Nguồn cung cấp hơi
Lượng hơi có thể đạt 60-80kg cho 100kg mía. Nguồn hơi chủ yếu lấy từ lò hơi
của nhà máy. Trong quá trình sản xuất để tiết kiệm hơi ta lấy hơi thứ từ các thiết bị
bốc hơi cung cấp cho các thiết bị kế tiếp, gia nhiệt, nấu đường, cô đặc, sấy.v.
1.6 Nguồn cung cấp nhiên liệu
Trong nhà máy lò hơi là nơi cần nhiên liệu nhiều nhất. Nhằm giảm bớt vốn đầu
tư, tăng hiệu suất tổng thu hồi nhà máy dùng bã mía làm nhiên liệu đốt lò hơi. Thời
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 5 Thiết kế nhà máy đường RS
1.10 Cung cấp nhân công
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một tỉnh còn nghèo. Dân số đông, cuộc sống nhân dân
còn nhiều cơ cực, và tỉnh có các huyện miền núi đông dân cư. Nên việc xây dựng
nhà máy sẽ giải quyết được một phần lao động trong khu vực, tạo điều kiện cho tỉnh
nhà phát triển.
Đội ngũ cán bộ kĩ thuật, quản lý được đào tạo ở đại học Huế, Đà Nẵng. Đội ngũ
công nhân cũng được đào tạo vững tại các trường Trung cấp và đào tạo nghề trong
và ngoài tỉnh. Như vậy đội ngũ cán bộ, công nhân phục vụ nhà máy là những người
đã qua đào tạo và đủ nghiệp vụ lãnh đạo.
1.11 Nguồn tiêu thụ sản phẩm:
Sản phẩm đường ở nước ta tiêu thụ hàng năm với một lượng lớn, lượng đường
sản xuất ra vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, đặc biệt là nông thôn và
vùng núi.Sản phẩm của nhà máy đường đặt ở xã Bình Điền huyện Hương Trà một
mặt cung cấp cho các nhà máy chế biến thực phẩm 118B Lý Thái Tổ, nhà máy chế
biến rượu Xike ở xã Thuỷ Xuân huyện Hương Thuỷ, nhà máy nước khoáng Thanh
Tân ở xã Phong An huyện Phong Điền…một mặt cung cấp đầy đủ cho người tiêu
thụ các khu vực lân cận Bắc miền Trung (Quảng Trị, Đông Hà, Quãng
Bình…).Việc thiết kế nhà máy đường hiện đại sản xuất đường RS với năng suất
4000 tấn mía/ngày ở xã Bình Điền huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế là cần
thiết và hợp lý với việc giải quyết vùng nguyên liệu và tình hình phát triển kinh tế
khu vực.
Tóm lại
Qua phân tích ở trên thì việc xây dựng nhà máy đường hiện đại sản xuất đường
RS năng suất 4000tấn mía/ngày ở xã Bình Điền, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên
Huế là phù hợp
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 6 Thiết kế nhà máy đường RS
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
sản xuất đường trắng bằng phương pháp sunfit.
+ Cải tiến công nghệ sản xuất đường tinh luyện bằng cách kết hợp với sản
xuất đường thô trong cùng một nhà máy đã giảm được 30-40% vốn đầu tư và giảm
30% giá thành sản phẩm.
Hơn nữa sản xuất đường là một qui trình tự đáp ứng những yêu cầu về năng
lượng cho quá trình sản xuất. Sau khi nước mía được tách ra khỏi cây mía bằng
các qui trình nghiền và rửa, miá cây trở thành bã, một loại vật liệu có chứa
cellulose cho phép sử dụng làm chất đốt sinh nhiệt nhiệt này được sử dụng để
sinh hơi với áp suất cao trong nồi hơi. Hơi nước sinh ra được sử dụng cho các
nồi hơi nén đặc biệt và sử dụng trong các quá trình nén, gia nhiệt, bay hơi và
sấy cũng như để sinh điện [5]
2.2 Tính chất và thành phần của mía
Thành phần hóa hoá học của mía bao gồm nhiều loại mà trong đó hàm lượng
đường sacaroza chiếm cao nhất. Ngoài ra thành phần của mía phụ thuộc vào giống
mía, đất đai, khí hậu, mức độ chin, sâu bệnh…
Đường sacaroza
Sacaroza là thành phần quan trọng nhất của cây mía, là sản phẩm của công
nghệ sản xuất đường, là một disacarit có công thức C
12
H
22
O
11
. Trọng lượng phân tử
là 342,30. Sacaroza được cấu tạo từ hai đường đơn là α, d - glucoza và β, d –
fructoza. Công thức cấu tạo được biểu diễn như sau:
Hình 2.1. Công thức cấu tạo của đường Sacaroza
Tính chất lý hóa của đường sacaroza:
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
H
22
O
11
+ H
2
O C
6
H
12
O
6
+ C
6
H
12
O
6
sacaroza glucoza fructoza
• Khi tác dụng với chất kiềm hoặc kiềm thổ, sacaroza tạo thành sacarat
• Ở môi trường kiềm loãng và dung dịch đường lạnh hầu như không có tác
dụng gì
• Nếu kiềm đậm đặc, ở nhiệt độ thấp, đường cũng bị phân giải
• ở pH từ 8 đến 9 và đun nóng trong thời gian dài, sacaroza bị phân hủy thành
hợp chất có màu vàng và màu nâu
• Trong môi trường kiềm, ở nhiệt độ cao, đường bị phân hủy tạo ra các axit và
chất màu
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 9 Thiết kế nhà máy đường RS
2.3 Làm sạch nước mía
+ Tăng nhanh các phản ứng hóa học
+ Có tác dụng diệt trùng, đề phòng sự lên men axit, giảm sự xâm nhập của
VSV
- Nếu khống chế nhiệt độ không tốt thường gặp các trường hợp không tốt sau
+ Gây chuyển hóa đường làm tổn thất đường
+ Caramen hóa tạo màu
+ Đường khử bị phân hủy tạo chất màu
+ Thủy phân vụn mía tạo chất keo
2.3.1.3 Tác dụng của các chất điện ly
Vôi:
+ Trung hòa nước mía hỗn hợp ngăn chặn chuyển hóa đường.
+ Làm trơ các phản ứng axit của nước mía hỗn hợp và ngăn ngừa sự chuyển
hóa đường sacaroza
+ Phân hủy một số chất không đường, đặc biệt là đường chuyển hóa, amit
+ Tạo điểm đắng điện để ngưng kết các chất keo
+ Kết tủa, đông tụ các chất không đường
+ Sát trùng nước mía
Ion Ca
2+
: kết hợp với các anion tạo muối canxi không tan
Ca
2+
+ 2A = CaA
2
Ion OH
-
: Trung hòa axit tự do. Ion OH
-
tác dụng với ion kim loại tạo thành
muối 2Al
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 11 Thiết kế nhà máy đường RS
+ Làm cho CaSO
3
kết tủa tạo thành chất tan
CO
2
+ Tạo kết tủa với vôi, kết tủa tạo thành có khả năng hấp phụ các chất không
đường cùng kết tủa
+ Phân ly muối sacarat canxi
P
2
O
5
: Hàm lượng phosphat trong
mía là yếu tố rất quan trọng
P
2
O
5
dạng muối hoặc axit sẽ kết
hợp với vôi tạo thành muối photphat
canxi kết tủa
Ca(H
2
PO
4
)
2
+ Ca(OH)
+ Vùng biến động: α >1,3. Ở đây, tinh thể sacaroza tự xuất hiện mà không
cần tạo mầm hoặc kích thích.
Sự lớn lên của tinh thể: Các phân tử đường khuếch tán đến bề mặt mầm tinh
thể và kết tinh làm tăng kích thước của tinh thể đường. Quá trình kết tinh có ý
nghĩa rất quan trọng, do đó chúng ta cần kiểm soát tốt quá trình này để nấu
đường đạt hiệu suất cao.
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 13 Thiết kế nhà máy đường RS
CHƯƠNG 3. CHỌN VÀ THUYẾT MINH
DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
3.1 Chọn quy trình sản xuất
Ngành công nghệ mía đường phát triển khá sớm vầ theo thời gian ngày càng
hoàn thiện về kỹ thuật công nghệ và thiết bị nhầm tạo ra sản phẩm có chất cao mà
giá thành lại thấp. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải chọn được phương pháp sản xuất
phù hợp với sản phẩm đầu ra cũng như điều kiện thực tế của quá trình sản xuất.
3.1.1 Chọn phương pháp lấy nước mía
Hiện nay có 2 phương pháp lấy nước mía: phương pháp ép và phương pháp
khuếch tán. Trong điều kiện của nước ta hiện nay thì phương pháp ép phù hợp hơn
do dễ vận hành, dễ thao tác phù hợp với trình độ kỹ thuật của công nhân. Hơn nữa
phương pháp khuếch tán đòi hỏi đội ngũ công nhân phải có trình độ kĩ thuật cao,
thao tác giỏi, tốn thời gian và gây áp lực lớn cho công đoạn làm sạch và bốc hơi vì
lượng nước nhiều. Nên ở nước ta phương pháp này ít được sử dụng. Vì vậy, ở đây
ta chọn phương pháp ép để lấy nước mía.
3.1.2 Chọn phương pháp làm sạch nước mía
Có 3 phương pháp chính để làm sạch nước mía đó là phương pháp vôi, phương
pháp sunfit hóa và phương pháp cacbonat hóa.
Tuy nhiên phương pháp sunfit có nhiều ưu điểm hơn cả, phù hợp để sản xuất
đường RS. Vì phương pháp sunfit hóa có sơ đồ công nghệ và thiết bị cũng đơn giản,
ít tốn hoá chất, thao tác dễ dàng, vốn đầu tư ít nên phù hợp với điều kiện thực tế và
cao tuy nhiên dây chuyền công nghệ phức tạp, tốn thiết bị. Do đó ta chọn chế độ
nấu 3 hệ vì độ tinh khiết cao và thiết bị không quá phức tạp. [3 – tr77]
⇒ Kết luận: Chọn phương pháp nấu gián đoạn và chế độ nấu 3 hệ.
3.2 Dây chuyền công nghệ và thuyết minh dây chuyền công nghệ
3.2.1 Sơ đồ dây chuyền công nghệ
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Mật B
Vân chuyển
Nấu non A
Trợ tinh A
Máng phân phối A
A
Ly tâm A
Nấu non B
Trợ tinh B
Máng phân phối B
Ly tâm B
Nấu non C
Trợ tinh C
Máng phân phối C
CcC
Ly tâm C
Cát A Loãng A
Nguyên A Cát B Cát C Mật rỉ
Sấy đường Làm nguội Sàng phân loại
Xilo chứa
Thành phẩm Đường RS
Gia nhiệt lần 3 (t = 110 – 115
o
C)
2
SO
2
Lọc chân không
P
2
O
5
Nước lắng trong
Nước lọc trong
Vận chuyển
Bã mía
Xử lý bã mía
Vào lò hơi
Đồ án tốt nghiệp 15 Thiết kế nhà máy đường RS
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 16 Thiết kế nhà máy đường RS
3.2.2 Thuyết minh dây chuyền công nghệ
3.2.2.1. Vận chuyển
Mía được thu hoạch ở các vùng nguyên liệu khi đang ở độ chín thích hợp được
vận chuyển vào nhà máy bằng xe tải.
Xe đến nhà máy qua cân xác định khối lượng và lấy mẫu để phân tích chữ
đường. Từ đây, mía được cẩu lên để đưa vào bàn lùa đi qua băng tải đến các trục
khoả bằng để phân phối mía xuống băng chuyền máy băm.
3.2.2.2. Máy băm 1 và máy băm 2
Mía được băm nhỏ nhờ máy băm và xé tơi nhờ máy đập búa nhằm phá vỡ tế
bào mía nâng cao năng suất và hiệu suất ép. Máy băm 1 quay cùng chiều với băng
tải bố trí ở cuối băng chuyền ngang, trong lúc đó máy băm 2 bố trí ở đầu băng
chuyền nghiêng, quay ngược chiều với chiều băng chuyền. Sau đó mía băm được
qua máy đập búa rồi được băng tải đưa qua máy tách kim loại.
3.2.2.5. Gia vôi sơ bộ
Mục đích của việc gia vôi sơ bộ là: Làm trung hoà các axít hữu cơ và vô cơ, tạo
nhũng điểm đẳng điện để ngưng kết các chất keo, khi các chất keo lắng xuống
chúng sẽ kéo theo những chất lơ lững và nhưng chất không đường khác cùng lắng
xuống, làm trơ phản ứng axit của nước mía hỗn hợp và ngăn ngừa sự chuyển hoá
đường saccaroza, kết tủa hoặc đông tụ các chất không đường, phân hủy một số chất
không đường, đặc biệt là đường chuyển hoá, amit có tác dụng diệt trùng ngăn ngừa
sự phát triển của vi sinh vật.
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Mía vào
Nước mía hỗn hợp
Bã
Nước nóng
Đồ án tốt nghiệp 18 Thiết kế nhà máy đường RS
3.2.2.6. Gia nhiệt lần 1
Mục đích của việc đun nóng lần một: Nâng nhiệt độ nước mía hỗn hợp lên
50
÷
60
0
C. Việc nâng nhiệt độ này có tác dụng tách một phần không khí giảm sự tạo
bọt, ngưng kết keo, tăng cường vận tốc các phản ứng hoá học và hạn chế sự phát
triển của các vi sinh vật. Dùng thiết bị gia nhiệt ống chùm, với thiết bị này nước mía
đi vào và ra ở đỉnh thiết bị. Thông qua thành ống tiến hành quá trình trao đổi nhiệt
để nước mía hỗn hợp đạt được nhiệt độ quy định. Ở nắp trên và nắp dưới các thiết
bị có lắp các tấm ngăn, phân chia các ống gia nhiệt 14 đến 18 lần lên xuống sự phân
chia đó có tác dụng tăng tốc độ chảy của nước mía trong ống có tác dụng giảm sự
tạo cặn.
Hình 3.3. Thiết bị gia nhiệt ống chùm [2-tr113]
= CaSO
3
+ H
2
O
Sau khi thông SO
2
lần một, nước mía có pH = 3,4 – 3,8, với pH này sẽ gây
chuyển hoá đường. Vì vậy phải tiến hành trung hoà ngay bằng sữa vôi để nâng pH
nước mía lên 6,8 – 7,2. Thiết bị của công đoạn này là thiết bị trung hoà kiểu ống
đứng. Với thiết bị này thì quá trình thông SO
2
và quá trình trung hoà được tiến hành
trong cùng một thiết bi, có tác dụng giảm sự chuyển hoá đường.
Thiết bị gồm hai phần: phần trên có tác dụng là nơi thực hiện quá trình xông
SO
2
cho nước mía phần dưới có tác dung là nơi thực hiện quá trình trung hòa. Với
thiết bị này thì khí SO
2
tự vào, hệ thống lưu huỳnh làm việc áp suất âm, không cần
thiết bị nén không khí, SO
2
không ra ngoài không khí. Hiệu suất hấp thụ tương đối
cao trên 90 – 95% đạt cường độ SO
2
cao có thể tới 15 - 18ml.
3.2.2.8. Gia nhiệt 2
Mục đích của quá trình này là làm giảm độ nhớt của dung dịch, tăng cường quá
trình lắng và ngưng kết keo, tiêu diệt vi sinh vật. Quá trình này được tiến hành bởi
đường. Vì vậy cần phải tiến hành lọc bùn để thu hồi phần đường. Thiết bị cấu tạo
gồm một cái thùng rỗng quay quanh một trục
nằm ngang. Trên bề mặt thùng có đục các lỗ
nhỏ có lớp vải lọc (hoặc lưới lọc). Mặt bên
trong thùng có 24 ngăn độc lập nhau, mỗi
ngăn chiếm 15
0
theo chu vi, mỗi ngăn có
đường ống nối với trục rỗng. Trục rỗng được
nối với đầu phân phối. Đầu phân phối nối
liền thùng quay với ống hút chân không và
không khí nén được chia làm ba vùng:
Hình 3.6. Máy lọc chân không[18]
- Vùng 1 không nối với chân không, thông với khí trời.
- Vùng 2 nối với khoảng không gian có độ chân không nhỏ trong khoảng từ 180 - 300
mmHg.
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 21 Thiết kế nhà máy đường RS
- Vùng 3 nối với khoảng không gian có độ chân không trong khoảng từ 400 - 500
mmHg.
Tốc độ thùng quay 0,1 – 0,3 v/ph, chiều dày lớp bùn từ 10 – 19 mm, nhiệt độ
nước bùn đi lọc lớn hơn 85
0
C và pH = 7,5 – 8 [5-Tr100].
3.2.2.11 Gia nhiệt lần 3
Mục đích của công đoạn là đưa nhiệt độ của nước mía trong đến nhiệt độ sôi
trước khi vào nồi cô đặc, không mất thời gian đun sôi ở nồi cô đặc. Thiết bị tương
tự thiết bị gia nhiệt 1 và 2. Nhiệt độ của nước mía sau khi gia nhiệt III là 110 –
115
o
nấu, kết tinh đường được thuận lợi hơn.
Cơ sở của việc tẩy màu và ngăn ngừa sự tạo màu.
Tẩy màu
SO
2
+ H
2
O = H
+
+ HSO
3
-
HSO
3
-
+ H
2
O = HSO
4
-
+ H
2
C=C + H
2
= H-C-C-H
Chất màu Chất không màu [3 tr48]
Ngăn ngừa sự tạo màu:
SO
lần 1 nhưng không có công
đoạn cho sữa vôi. Sau khi thông SO
2
lần 2 pH = 6,2
÷
6.6.
3.2.2.14 Lọc kiểm tra
Nhằm tách triệt để cặn còn lại và mới sinh ra trong khi cô đặc và sulfit hoá lần 2
tạo độ tinh khiết cho mạch chè ta tiến hành lọc kiểm tra.
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 23 Thiết kế nhà máy đường RS
3.2.2.15 Nấu đường
Mục đích là làm xuất hiện tinh thể và nuôi cho tinh thể đường lớn lên đến
kích thước theo yêu cầu, bảo đảm chất lượng đường thành phẩm. Sản phẩm của quá
trình nấu đường gọi là đường non, nó gồm tinh thể đường và mật cái.
Chọn chế độ nấu 3 hệ, tiến hành ở áp suất chân không, tùy từng loại đường
và từng giai đoạn.
a. Nấu non A
Nguyên liệu nấu non A là mật chè, mật loãng A, cát B và cát C.
Thường nấu ở áp suất 600- 650 mmHg, nhiệt độ từ 60- 65
o
C, thời gian 2- 4h.
Để ổn định trong quá trình nấu đường, yêu cầu nhiệt độ của nguyên liệu vào nấu
phải cao hơn nhiệt độ trong nồi từ 3- 5
o
C
Quá trình nấu đường có thể chia làm 4 giai đoạn:
+ Cô đặc đầu: mật chè từ thùng chứa được đưa vào nồi nấu. Khi mật chè
ngập kín bề mặt truyền nhiệt, mở van hơi, cấp nhiệt cô đặc mật chè đến nồng độ cần
thiết để tạo mầm tinh thể, thời gian 20- 30 phút.
định, nhưng đường non rất nhớt, nếu để lâu trong nồi nấu thì tốc độ kết tinh sẽ rất
chậm, thời gian kéo dài, ảnh hưởng đến màu sắc của sản phẩm, nên cần cho vào
thiết bị trợ tinh để kết tinh thêm, đồng thời cho đường non thích ứng với điều kiện li
tâm.
3.2.2.17 Ly tâm
Mục đích
Mục đích tách tinh thể đường ra khỏi mật bằng lực ly tâm trong các thùng quay
với tốc độ cao.
Chế độ ly tâm
Đường non A: sau khi li tâm được đường trắng A, mật nguyên A, mật loãng A.
Chọn chế độ li tâm gián đoạn.
GVHD: PGS.TS Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Huỳnh Văn Hữu
Đồ án tốt nghiệp 25 Thiết kế nhà máy đường RS
Đường non B: sau khi li tâm được đường B và mật B. Đường B dùng làm
đường hồ B, làm giống nấu non A, mật B dùng làm nguyên liệu nấu non C. Chọn
chế độ li tâm gián đoạn.
Đường non C: sau khi li tâm được đường C và mật C (gọi là mật cuối). Sử dụng
ly tâm tốc độ cao, liên tục.
3.2.2.18 Sấy đường
Ðường cát sau khi li tâm nếu rửa nước thì độ ẩm là 1,75%, nếu rửa hơi thì độ
ẩm là 0,5%. Do đó sấy đường để đưa độ ẩm xuống còn 0,05%, đạt yêu cầu của
đường thành phẩm, làm cho hạt đường bóng sáng, không biến màu khi bảo quản.
[14 tr287]
Đường cát A sau khi thoát ra từ thùng ly tâm được sàng rung gom vào máng
nhận của gàu tải và đều đặn được gàu tải cấp vào máy sấy thùng quay.
Cấu tạo chính của thiết bị máy sấy thùng quay là một thùng tròn đặt nằm ngang
có góc nghiêng so với mặt đất từ 2-3
0
C, trong thùng có gắn vào thân thùng nhiều
cánh. Lúc thùng quay các cánh này có tác