mô đun mn1-b giáo dục phát triển nhận thức - Pdf 25

1

MÔ ĐUN MN1-B
GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC
(Dành cho giáo viên)

Tài liệu số 1:

ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA TRẺ MẪU GIÁO
Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo được thể hiện ở các mốc phát triển sau đây:
1. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 3-4 tuổi (giai đoạn tư duy trực quan- hành động):
 Thích các hoạt động chân tay và khám phá bằng các giác quan.
 Có thể nắm các thông tin thông qua giao tiếp và các sách đơn giản, dễ hiểu
 Hay đặt câu hỏi nhưng không phải lúc nào cũng hiểu câu trả lời.
 Bắt đầu nhận ra các mối quan hệ nhân quả đơn giản dưới dạng các câu hỏi đơn giản: tại sao?
để làm gì? như thế nào?
 Có thể móc nối các sự kiện khi thảo luận nhưng có thể gặp khó khăn trong phát âm, diễn đạt
bằng lời nói. Trẻ cần được người lớn chú ý nghe và nói lại rõ ràng hơn những gì trẻ nói.
 Học tốt nhất trong những tình huống cụ thể có ý nghĩa với bản thân chúng và khi có sự tin
tưởng, khích lệ của người lớn.
2. Đặc điểm phát triển nhận thức trẻ của 4-5 tuổi (giai đoạn tư duy trực quan- hình tượng):
 Trẻ hay sử dụng các trò chơi đóng vai (chơi giả vờ) để xử lý thông tin mới và để hiểu các
khái niệm phức tạp.
 Bắt đầu hiểu thí nghiệm là gì và trở nên có chủ định cũng như sáng tạo hơn trong việc khám
phá.
 Thường thích các thí nghiệm do chúng tạo ra hơn là các thí nghiệm do người lớn hướng dẫn.
 Bắt đầu suy nghĩ lập kế hoạch cho một hoạt động, chẳng hạn như nghĩ về việc gieo hạt trước
khi trẻ thực hiện hành động thực tế này.
 Bắt đầu đưa ra những dự đoán dựa trên những gì trẻ được trải nghiệm. Thích nghĩ ra các lời
giải thích về những gì quan sát được, thường thêm các chi tiết tưởng tượng vào các sự việc.
 Thích nói chuyện với những trẻ khác khi chơi và thử nghiệm.

Vào đề:Lắng nghe chăm chú những gì mà trẻ nói, chọn một vị trí vật lý tầm gần để có thể quan sát
trẻ đang làm gì.
Chia sẻ:“Nếu Cô có một hình vuông xanh lá cây và con có một hình tam giác xanh biển, chúng ta
có thể đặt nó cạnh nhau để tạo thành họa tiết khác nhau”.
Cho thấy mối quan tâm đặc biệt: Dành thời gian cho mỗi trẻ và yêu cầu trẻ nói cho bạn biết
chúng đang làm gì, đang thích gì hoặc chia sẻ gì…
Phân loại: “Chúng ta có thể đặt những hạt nhỏ này cạnh nhau và tạo một nhóm hạt to khác”
Tôn trọng quyết định và lựa chọn của trẻ bằng cách mời trẻ chia sẻ ý tƣởng:“Con có thể nói
cho cô biết tại sao con chọn những màu sắc rất thú vị mà con đang vẽ không?”
Nhắc lại: “Khi con kể với cô về kì nghỉ của con, con đã nhắc tới…”
“Tuần trước khi chúng ta đang khám phá chiếc hộp thời trang, các con có nhớ chúng ta đã cắt váy
từ khăn thế nào không”
Nhắc lại ý kiến: “Rất là hay khi con nói rằng ấm nước đã đầy, vì con đã nói đúng đấy! Khi nước
sôi, nước đã bị tràn ra khỏi miệng ấm”
Liên hệ với những điều đã biết: “Cô nhớ khi cô trồng một củ khoai tây trong sân sau. Nó đã mọc
cao gấp 2 lần vào năm sau”
Căn chỉnh: “Cô búp bê dùng cái giường đó, không phải cái ở đằng kia bởi vì nó có kích cỡ phù
hợp và cô sẽ không bị ngã khỏi giường.”
Làm rõ ý kiến: “Có phải là con định nói rằng…”
Quan điểm:“Cô nghĩ chắc cái hộp sẽ đẹp hơn nếu chúng ta sơn màu vàng đấy. Con nghĩ thế
nào?”
Gợi ý: Cung cấp những cách thức khác nhau khi triển khai một hoạt động.
Tái sắp xếp:“Nếu cô đặt cái khối to ở trước đường xe lửa, vậy chúng ta có thể tạo cầu cho mọi
người”
Gợi nhắc: Nhắc cho trẻ không quên, ví dụ, phải đội mũ khi chơi ngoài trời.
Đƣa ra câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu con đặt các khối to xuống dưới cùng?”
Động viên để trẻ tƣ duy sâu hơn: “Con nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu…?”
Phỏng đoán: “Cô đang băn khoăn khi mặt trời lặn thì lũ chim có đi ngủ không nhỉ? Các con nghĩ
sao?”
Cung cấp cho trẻ một góc nhìn khác: “Cô đồng ý, nhưng có vài người nói rằng…”

Ví dụ:
Ai đang ngồi trong nhà đấy? (ở đây cần làm rõ là ai)
Bé đang làm gì trên giường? (bé đang chơi trên giường)
Tại sao bé lại khóc? (bé khóc vì bị kẹp tay)
 Khuyến khích sử dụng câu hỏi mở.
 Sau khi đặt một câu hỏi, chú ý tới thời gian “chờ đợi”.
 Khuyến khích sự tham gia của tất cả trẻ trong nhóm/lớp. Với những trẻ nhút nhát, ít nói,
giáo viên có thể lôi kéo sự tham gia của cháu bằng những câu như “bây giờ chúng ta sẽ nghe
một ai đó chưa phát biểu ý kiến”…
 Khi trẻ có câu trả lời sai, không được chế giễu trẻ. Giáo viên có thể gợi ý hoặc dẫn dắt trẻ
hướng tới câu trả lời đúng.
 Khi trẻ có câu trả lời ngoài dự kiến, không nên bác bỏ ý kiến của trẻ. Giáo viên cần suy nghĩ
về câu trả lời đó. Cố gắng hiểu xem trẻ nói gì và có thể diễn đạt lại ý của bằng ngôn từ của
mình để kiểm tra xem mình có hiểu đúng hay không, hoặc tìm hiểu xem tại sao trẻ lại có câu
trả lời như vậy.
4

MÔ ĐUN MN1-B
GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC
(Dành cho giáo viên)

Tài liệu phát tay số 3:

LÝ DO KHÔNG NÊN KHEN TRẺ VÀ
GỢI Ý VỀ CÁCH ỨNG XỬ VỚI TRẺ

Alfie Kohn

giải được. 2. Tạo ra những lời khen nhảm nhí.
Để chắc chắn, không phải tất cả các lời khuyên đều là chiến lược để điều khiển hành vi của trẻ. Đôi
khi, chúng ta khen trẻ chỉ bởi vì chúng ta cảm thấy hài lòng một cách bề trên về những gì chúng
làm.Cho dù như vậy, tuy nhiên, chúng ta cần nhìn sâu hơn. Thay vì tăng lòng tự trọng của trẻ, lời
khen có thể tăng sự phụ thuộc của trẻ vào chúng ta.

Chúng ta càng nói nhiều, “Cô thích cái cách mà con…” hay “Làm tốt lắm”, trẻ càng trở nên phụ
thuộc vào sự đánh giá của chúng ta, sự quyết định của chúng ta về cái gì là tốt và xấu, hơn là học
5

để hình thành sự đánh giá của chính mình. điều này dẫn ta đến việc đánh giá giá trị của trẻ trong
việc cái gì trẻ làm làm chúng ta vui và phân phát thêm một ít khen ngợi nữa.

Mary Budd Rowe, một nhà nghiên cứu tại Đại học Florida phát hiện ra rằng sinh viên những người
nhận được sự khen ngợi hào phóng của giảng viên thường có do dự hơn trong câu trả lời cuả mình,
có xu hướng trả lời theo cách nửa vời (Ờ bảy ạ?).

Trẻ thường có xu hướng lùi xa khỏi ý kiến mà trẻ đề ra ngay khi biết rằng người lớn không đồng ý
với trẻ, và trẻ thường không kiên trì với các bài tập khó hoặc chia sẻ ý kiến với các bạn khác.

Tóm lại, lời khen “Giỏi lắm!” không trấn an được trẻ, chúng làm trẻ cảm thấy thiếu an toàn hơn.
Điều này thậm chí tạo nên một vòng tròn luẩn quẩn rằng chúng ta càng tạo ra nhiều lời khen, trẻ
càng cần chúng, và chúng ta lại khen nhiều hơn.Đáng buồn là, một trong số những trẻ này sẽ trở
thành người lớn và tiếp tục cần ai đó xoa đầu mình và nói với họ rằng liệu họ đã làm tốt hay chưa.
Chắc chắn đây không phải là điều chúng ta muốn cho con cái chúng ta.

3. Đánh cắp đi niềm vui của trẻ.

được khen vì đã cho thấy sự hào phóng thường có xu hướng ít hào phóng hơn một chút trong đời
thường so với những trẻ khác. Mỗi lần chúng được nghe câu “Giỏi lắm!” hay “Cô tự hào vì có sự
giúp đỡ của con!”, chúng trở nên ít hứng thú hơn trong việc chia sẻ hoặc giúp đỡ người khác.

6

Những hành động này không được xem là có giá trị dưới đánh giá của chính chúng mà là một cái gì
đó chúng phải làm để có được phản ứng đó từ người khác một lần nữa.Sự hào phóng là phương tiện
dẫn đến sự kết thúc.
Liệu khen ngợi có là động lực cho trẻ không?Chắc chắn là có rồi.nhưng là động lực để trẻ tìm kiếm
thêm nhiều lời khen nữa. Cuối cùng, cái giá phải trả là sự ràng buộc của trẻ với bất cứ cái gì khiến
trẻ nhận được lời khen.

5. Giảm sự thành công.
Lời khen“Giỏi lắm!” không chỉ làm giảm sự độc lập, niềm vui, và hứng thú, mà nó còn có thể ảnh
hưởng đến việc một đứa trẻ có thể làm một việc tốt đến đâu. Các nhà nghiên cứu đang thấy rằng
những trẻ được khen vì đã làm tốt một nhiệm vụ sáng tạo thường có xu hướng làm hỏng vào nhiệm
vụ lần sau – và chúng không làm tốt như những trẻ không được khen ban đầu.

Tại sao điều này lại xảy ra?Một phần bởi vì lời khen tạo áp lực để “giữ trẻ làm tốt công việc” mà
thường làm hỏng việc.Một phần bởi vì sự hứng thú của trẻ trong việc mà trẻ đang làm có thể giảm
xuống. Một phần bởi vì trẻ trở nên khó có thể mạo hiểm – một điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo
– một khi trẻ bắt đầu tư duy về việc làm sao để có được những lời khuyên tích cực.

Thường xuyên hơn, “Giỏi lắm!” là một cái gì đó còn sót lại của một sự tiếp cận tâm lý làm giảm tất
cả sự sống con người đến các hành vi mà có thể nhìn thấy và đo đạc được. Không may là, điều này
làm giảm giá trị của những tâm tư, tình cảm, và giá trị nằm sau những hành vi này. Ví dụ, một đứa
trẻ có thể chia sẻ một gói bim bim với bạn như là cách để thu hút sự chú ý, hoặc là cách để chắc
chắn là trẻ kia có đủ thức ăn để ăn.


Nói những gì mà bạn thực sự nhìn thấy từ công việc của trẻ. Chúng ta có thể nói với trẻ những
từ đơn giản mô tả hành vi của trẻ mà chúng ta nhìn thấy như: "Con tự để đôi giày của mình" hay
thậm chí chỉ là"Con đã làm nó".
Điều này cũng cho phéptrẻtự hào vềnhững gì mìnhđãlàm. Trong các trường hợp khác, một môtảchi
tiết hơncóthểcó ý nghĩa.Nếu nhìn thấy trẻ vẽ một hình ảnh,bạn có thểcung cấp thông tin phản hồi-
không phảilời phê phán-về những gì bạnnhận thấy:"Ngọn núi này là rất lớn!" "Con có chắc chắn
đãsử dụng rất nhiềumàu tím!"

Nếu một đứa trẻ không hào phóng và khó chia sẻ với người khác, bạn nhẹ nhàngcó thểthu hút sự
chú ýcủatrẻvềtác động củahành động của mìnhvào ngườikhác: "Nhìn vàokhuôn mặt của Lan Anh,
bạn ấycó vẻ rất vui vìbạnđã cho Cômộtsốđồ chơicủabạn" Điềunàylàhoàntoànkhác với những từlời
khen ngợi, trong đó trọng tâm làtrẻcảmthấy như thế nào sau khi chia sẻ.

Nói lời nhận xét về trẻ ít hơn và hỏi trẻ về những gì mà trẻ làm nhiều hơn. Việc đặt ra những
câu hỏi với trẻ, thậm chí tốt hơnsovới những từmô tả. Tạisao chúng ta không hỏi trẻ về những gì trẻ
thích nhất trong bức tranh của mình thay vì nói về những gì trong bức tranh của trẻ gây ấn tượng
cho chúng ta?

Chúng ta có thể hỏi trẻ: " Phần khó vẽ nhất là gì?"hoặc"Làm thế nào con tìm ra cáchđể làm chobàn
chânkích thước phù hợp?", điều này có khả năngnuôi dưỡng sự quan tâm của trẻtrong bản vẽ. Lời
khen "Rất tốt!" trong trường hợp này có thể có tác dụng ngược lại.
Điều nàykhông có nghĩarằngtấtcảcáclời khen ngợi, lời cảm ơn, tất cả những biểu hiện củaniềm
vuilà có hại.

Chúngtacần phải xem xétđộng cơ của chúng ta trong nhữnggìchúng ta nói(một biểu hiện
thựcsựcủasự nhiệt tìnhlàtốt hơn so vớimột mong muốnđể thao táchànhvicủa đứa trẻtrongtươnglai)
cũng như cácảnh hưởng thực tếcủa việc làm như vậy. Phản ứngcủa chúng ta đểgiúp trẻkiểm
soátcuộc sống của mình.
- Các biện pháp:
+ Lời diễn giảng, hướng dẫn, giảng giải
Ví dụ: Khi giảng dạy trẻ khảo sát các hình học, giáo viên giảng giải cho trẻ: “cầm hình tròn bằng
tay trái như thế này, dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải đi lần lượt theo đường bao quanh của hình
chúng là đường cong tròn, nhẵn, không có góc.
+ Câu hỏi: Đóng vai trò đặc biệt trong quá trình làm cho trẻ làm quen với Toán
- Câu hỏi dựa trên sự tri giác và trí nhớ tái tạo của trẻ. VD: Cô gắn hình gì lên bảng, trên bàn cô có
gì? Có mấy bông hoa?
- Câu hỏi tái tạo có nhận thức: nhằm giúp trẻ củng cố những kiến thức sâu sắc hơn. VD: Hoa này sẽ
là mấy bông nếu nở thêm mấy bông nữa?
- Câu hỏi sáng tạo có nhận thức: VD: Làm thế nào để biết đó là hình vuông và đó là hình chữ nhật
+ Đàm thoại: là phương pháp dạy học sử dụng tới hệ thống câu hỏi của giáo viên và câu trả lời
của trẻ. VD: Giao viên đàm thoại với học sinh về phương pháp.
3. Phƣơng pháp thực hành: Luyện tập, trò chơi, tình huống có vấn đề, các vật dụng định hướng.
- Luyện tập: là việc vận dụng các kiến thức và hành động nhằm củng cố và giúp trẻ có những kỹ
năng và kiến thức cho trẻ. Các bài tập cho trẻ mẫu giáo thường hướng vào luyện kĩ năng tư duy
như: so sánh, khái quát hóa…
9

Ví dụ: Yêu cầu trẻ đếm số lượng các nhóm hình được xếp theo các cách khác nhau. Hình vuông và
hình chữ nhật có điểm gì khác nhau và giống nhau.Tất cả những vật này có gì khác nhau, giống
nhau?
- Trò chơi: trò chơi vận động, đóng vai, học tập đều được sử dụng với mục đích củng cố, ứng dụng
những kiến thức, kỹ năng toán học của trẻ.
Ví dụ: Trò chơi “Sinh nhật búp bê Li Li”, khi tham gia trò chơi, trẻ có thể so sánh các bạn của các
nhóm khác nhau đến dự sinh nhật của búp bê, so sánh số lượng quả, bánh, kẹo với nhau…hoặc trò
chơi “Tìm nhà”, hay giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho trẻ, trong đó có sử dụng các kĩ năng toán
học.
- Tình huống có vấn đề: là một hoàn cảnh có mâu thuẫn và trẻ phải suy nghĩ tích cực để giải quyết
mâu thuẫn đó.

 Sinh vật sống có các nơi cư trú khác nhau
 Người và động vật đều sản sinh ra con
 Cơ thể chúng ta có các bộ phận với mục đích khác nhau
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU
Đối tƣợng và vật liệu
 Các đối tượng có nhiều khía cạnh bao gồm cả kích thước, trọng lượng, hình dáng, màu sắc,
và nhiệt độ.
 Các đối tượng có thể được làm bằng vật liệu khác nhau - giấy, nhựa, thủy tinh, gỗ, vải, kim
loại
 Một số vật liệu là chất rắn
 Một số vật liệu là chất khí
 Một số vật liệu có dạng thể lỏng
 Một số vật liệu mềm và một số cứng
 Trạng thái của một số vật liệu có thể được thay đổi thông qua sưởi ấm hoặc làm mát
 Các hình dạng của một số vật liệu có thể được thay đổi
 Một số công cụ được sử dụng để đo lường - thước kẻ, cân, nhiệt kế
3. HIỆN TƯỢNG
Hiện tƣợng
 Một số âm thanh phát ra to và một số âm thanh yên tĩnh
 Âm thanh phát ra khi mọi thứ di chuyển
 Không khí có trong không gian
 Không khí nóng dần lên
 Nước có thể được tìm thấy ở nhiều nơi khác nhau
11

 Nước có thể được mang đi theo những cách khác nhau
 Mặt trời rất nóng
 Ánh sáng đi qua một số vật liệu
 Ánh sáng phản chiếu bề mặt sáng bóng
 Vào ban đêm không có nhiều ánh sáng

o Các đồ vật, sự vật trong tranh, ảnh, mô hình, băng hình
o Các hiện tượng thiên nhiên
 Cách tổ chức quan sát có thể theo nhóm lớn, theo nhóm nhỏ (4-6 trẻ) hoặc quan sát cá nhân
(mỗi trẻ một đối tượng).
 Quan sát có thể tổ chức trong tiết học, hoạt động ngoài trời, tham quan và sinh hoạt hằng
ngày.
 Không nên cho trẻ quan sát nhiều đồ vật cùng một lúc vì dễ làm phân tán chú ý.
Ví dụ: Giáo viên cho trẻ quan sát các bộ phận của cơ thể con nhện qua kính hiển vi.
 Để trẻ tự quan sát, trao đổi, chia sẻ, bộc lộ cảm xúc, thông tin với nhau sau khi giao nhiệm
vụ quan sát cho trẻ.
 Giáo viên cần hướng sự tập trung chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát và đặt câu hỏi về các
đặc điểm mà trẻ cần phát hiện.
Ví dụ: Con hãy nhìn thật kĩ xem con cá vàng nó như thế nào? Nó có những gì?Nó dùng vây, đuổi để
làm gì?Mồm nó để làm gì?
 Khi hướng dẫn trẻ quan sát, giáo viên cần đưa ra các tình huống có vấn đề để trẻ suy nghĩ và
tìm cách giải quyết và duy trì hứng thú, chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát.
Ví dụ: Không biết con cá vàng này thích ăn gì nhất nhỉ? Làm thế nào để biết bây giờ?
 Tùy từng đối tượng quan sát, giáo viên có thể kết hợp cho trẻ phân biệt, so sánh.
Ví dụ: Mắt con cá với mắt của chúng mình có giống nhau không? Khác nhau ở chỗ nào?
 Khi trẻ đưa ra các phương án giải quyết, giáo viên tổ chức cho trẻ được trải nghiệm.
Ví dụ: Trẻ tự tay thả thức ăn cho cá và quan sát xem cá ăn cái gì.
 Cho trẻ thực hiện một số hành động, vận động đơn giản nhằm mô phỏng đối tượng quan sát.
Ví dụ: Trẻ dùng tay hoặc miệng mô phỏng động tác đớp mồi của con cá
2. Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan (tranh, ảnh, mô hình, băng hình, máy vi tính,
sách)
 Sử dụng tranh ảnh có kích thước lớn, nội dung đơn giản, bằng vật liệu khác nhau và phản
ánh các sự vật hiện tượng thiên nhiên.
 Giáo viên đặt câu hỏi dựa vào mục đích của hoạt động khám phá và nội dung của tranh ảnh,
mô hình.
 Yêu cầu trẻ mô tả, kể tên hoặc sắp xếp các đối tượng theo nhóm sau khi quan sát tranh ảnh,
Tháng 2
Thứ 2
Thứ 3
Thứ 4
Thứ 5
1
2
3
4

7. Phương pháp thí nghiệm:
Ví dụ: Tìm hiểu quá trình nòng nọc biến thành ếch.
8. Phương pháp sử dụng hoạt động tạo hình (vẽ, nặn, xé, dán)
Ví dụ: Trẻ tạo thành hình bông hoa, con trâu, con bướm,…từ các nguyên liệu thiên nhiên (lá, cánh
hoa, vỏ trứng, cát, hạt, vỏ ốc…) hoặc từ vật liệu khác (đất nặn, màu nước, phấn…).
14

MÔ ĐUN MN1-B
GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC

đại phá quân
Thanh”
Lễ hội “Đống
Đa”
Ghép tranh về Gò Đống
Đa
Tìm
địa chỉ
đúng
Truyện
lịch sử
“Sự tích
gò Đống
Đa”
Bài thơ
Về “Gò
Đống
Đa”
Nặn/ Vẽ tượng
Vua “Quang
Trung”
Hỏi
thăm
những
Thăm quan tượng đài và Gò Đống Đa
Cách đi các
phƣơng tiện
khác nhau
TRONG
Ởgócgia

Nói chuyện với trẻ vềviệc
vận chuyểnvàtính năng,
vàhoạt động của nó
nhưthếnào

Câu đố
với
khác
các
phương
tiện
vận tải.
Hỏi trẻ
tên các
phương
tiện
vận
chuyển
và nơi
chúng
có thể
đi.
Đọc
sách với
các loại
vận
chuyển
khác
như: tàu
điện, ô

Thảo
luận
các
cách
khác
nhau
mà con
người
có thể
đi từ
nơi này
tới nơi
kia
Hỏi trẻ
xem trẻ
đi từ
nhà
đến
trương
bằng
phương
tiện
nào?
Theo
nhu
cầu của
trẻ
NGOÀI
Giả vờ đitrênmột cuộc hành
trìnhbằngcáchsửdụngcácloạiphươngtiệngiaothôngkhác

- Quan sát có thể tổ chức trong tiết học, hoạt động ngoài trời, tham quan và sinh hoạt hằng
ngày.
- Không nên cho trẻ quan sát nhiều đồ vật cùng một lúc vì dễ làm phân tán chú ý.
- Để trẻ tự quan sát, trao đổi, chia sẻ, bộc lộ cảm xúc, thông tin với nhau sau khi giao nhiệm
vụ quan sát cho trẻ.
- Giáo viên cần hướng sự tập trung chú ý của trẻ vào đối tượng quan sát và đặt câu hỏi về các
đặc điểm mà trẻ cần phát hiện.
2. Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan (tranh, ảnh, mô hình, băng hình, máy vi tính,
sách)
- Sử dụng tranh ảnh có kích thước lớn, nội dung đơn giản, bằng vật liệu khác nhau và phản
ánh các sự vật hiện tượng thiên nhiên.
- Giáo viên đặt câu hỏi dựa vào mục đích của hoạt động khám phá và nội dung của tranh ảnh,
mô hình.
- Yêu cầu trẻ mô tả, kể tên hoặc sắp xếp các đối tượng theo nhóm sau khi quan sát tranh ảnh,
mô hình.
- Sau khi đọc sách cho trẻ nghe, giáo viên có thể đàm thoại hoặc giải thích về nội dung mà trẻ
được nghe
- Tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi được thiết kế các phần mềm trên máy tính.
Ví dụ: xem video clip chủ đề về ngày tết
3. Phương pháp đàm thoại:
- Xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích hứng thú, trí tò mò, hoạt động tư duy của trẻ.
- Câu hỏi ngắn gọn, rõ ý và phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ.
- Chuẩn bị các đồ dùng trực quan hoặc các mẩu chuyện, bài thơ, bài hát để minh họa.
- Dự kiến câu trả lời đúng và lường trước các tình huống xảy ra
4. Phương pháp sử dụng truyện kể, thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố, bài hát:
- Nội dung về thiên nhiên, về mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người
- Sử dụng giọng đọc, kể truyền cảm, kết hợp với cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ.
- Khuyến khích trẻ tự sáng tác thơ, truyện, câu đố, bài hát về đối tượng được khám phá
- Gợi ý cho trẻ khi trẻ khó đoán được câu đố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status