A. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên. Như tên của nó, đôi khi chúng
ta nghĩ đây là bộ môn khô khan, khó tiếp thu đối với học sinh (HS). Có lúc HS
học lý thuyết trên sách giáo khoa, còn thực tế hiện tượng hoá học xảy ra như thế
nào thì không nhìn thấy được. Học sinh chỉ học thuộc lòng phương trình và hiện
tượng hoá học theo sách vở, điều này làm cho các em mau quên và dễ chán.
Cũng có lúc các em cảm thấy kiến thức hoá học thật trừu tượng nên không hiểu
bài trong lớp. Mà đã khó hiểu thì làm sao các em có thể yêu thích?
Môn hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và
phương pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho HS thụ động trong
việc tiếp thu, cảm nhận. Trước tình hình đó, hóa học phải đổi mới phương pháp
dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong
những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế.
Có những vấn đề hóa học giúp HS giải thích những hiện tượng trong tự
nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa
học trong những câu ca dao – tục ngữ, mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng
trong thực tiễn đời sống thường ngày, chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà
không gây nhàm chán, xa lạ, lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo,
hứng thú trong môn học.
Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học, người giáo viên phải
có vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo
ra được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê
học tập của HS.
Với những lý do trên tôi đã tìm tòi nghiên cứu, tham khảo tư liệu và áp
dụng đề tài:“Liên hệ thực tế nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá học ở
trường THCS” nhằm khơi dậy hứng thú học tập cho HS. Có vậy, HS sẽ thấy môn
hoá học là môn học gần gũi, dễ hiểu; qua đó từng bước hình thành ở các em lòng
yêu thích bộ môn và niềm đam mê khoa học.
1
4
, 39 HS lớp 9A
5
năm học: 2010 – 2011
36 HS lớp 9A
1
, 34 HS lớp 9A
4
năm học: 2011 – 2012
Đây là những HS có sức học bình thường theo đặc trưng của một trường vùng ven.
4. P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
2
Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài.
Đọc và khái quát các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: chủ yếu
là SGK và các loại sách về hóa học trong sản xuất và đời sống.
4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4.2.1. Phương pháp quan sát
Phương pháp này thực hiện bằng cách theo dõi và phân loại HS (Giỏi , Khá,
Trung bình, Yếu, Kém) để đưa ra cách giải hợp lý cho từng đối tượng.
4.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu
Sử dụng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra nhằm thu thập số liệu để đánh
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp.
4.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với tổ trưởng, tổ chuyên môn, và tham khảo ý
kiến các giáo viên dạy giỏi về các vấn đề có liên quan đến đề tài.
4.3. Phương pháp thống kê toán học
Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tôi cho
HS kiểm tra các kiến thức đã học so sánh đối chiếu với từng năm, từ đó rút ra tỉ
lệ phần trăm, nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả của của
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở pháp lý: Sáng kiến kinh nghiệm thực hiện chủ yếu dựa trên
sách giáo khoa (SGK) hoá học 9,10,11,12, vì vậy SGK là cơ sở pháp lý để xây
dựng đề tài. Ngoài ra còn tham khảo sách giáo viên, sách bài tập, các sách tham
khảo và các tài liệu có liên quan là cơ sở cho sáng kiến kinh nghiệm.
1.2. Cơ sở lý luận:
Môn Hoá học giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát
triển trí tuệ của học sinh. Mục đích của môn hóa học là giúp cho HS hiểu đúng
đắn và hoàn chỉnh; nâng cao những tri thức, hiểu biết về thế giới, về con người
thông qua các bài học, các giờ thực hành
Học hoá để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở
cấu tạo nguyên tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng
hoá học.
Học hoá để biết, là góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm
phương hại đến đời sống, tinh thần của con người
Học hoá để làm, là khởi nguồn, là cơ sở để sáng tạo ra những ứng dụng
phục vụ trong đời sống của con người.
Để đạt được mục đích của môn hoá học, ngoài việc phải tiếp thu đầy đủ
những kiến thức từ trên lớp, từ sách giáo khoa, từ các thầy cô, HS còn tự mình
sưu tầm và tìm hiểu những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Vận
dụng những kiến thức đã học được để giải thích những hiện tượng đó, nhờ vậy
HS được củng cố kiến thức sâu sắc hơn.
Và cũng nhờ đó HS thấy học môn hóa dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời
sống và lôi cuốn hơn.
5
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình HS học bộ môn hóa của trường THCS Nguyễn Tuấn Việt
Đối với HS THCS các em chưa có định hướng nghề nghiệp cho tương lai
nên ý thức học tập bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả
cao hoặc thích GV nào thì thích học môn đó. Trong quá trình giảng dạy tôi đã phát
chất lượng giảng dạy của GV và học tập của HS.
7
Năm học Lớp
Số
HS
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
2007- 2008
9A
1
38 1 2.6 3 7.9 10 26.4 20 52.6 4 10.5
9A
2
39 2 5.1 2 5.1 11 28.2 19 48.8 5 12.8
2008- 2009
9A
2
35 1 2.9 2 5.7 8 22.9 20 57.1 4 11.4
9A
3
36 2 5.6 2 5.6 9 25 19 52.7 4 11.1
Chương 3: BIỆN PHÁP VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ
TÀI
3.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp :
Dựa vào thực trạng và nguyên nhân của thực trạng tôi thấy rằng “Liên hệ
thực tế nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học môn hoá học ở trường THCS” là nhằm
tạo sự hứng thú, say mê trong học tập, lòng yêu khoa học nói chung và yêu thích
Vấn đề số 1: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô, xe máy) có
chứa các khí SO
2
, NO, NO
2
,…Các khí này tác dụng với oxi O
2
và hơi nước trong
không khí nhờ xúc tác oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy) tạo ra axit
sunfuric H
2
SO
4
…
2SO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 2H
2
SO
4
Axit H
2
SO
4
và HNO
gây ra.
Áp dụng: Đây là vấn đề có liên quan đến giáo dục môi trường. Giáo viên có
thể đưa vào bài giảng Lưu huỳnh điôxit SO
2
tiết 4 lớp 9.
9
Vấn đề số 2: Làm thế nào để phân kim vàng?
Phân kim vàng là phương pháp kỹ thuật giúp bạn thu hồi vàng nguyên chất
từ các loại vàng khác (hợp kim vàng).
Hướng dẫn HS Phân kim được các loại vàng thấp tuổi lấy ra được vàng y
nguyên chất bằng một loại Acid: Vàng thấp tuổi (vàng lẫn tạp chất Cu, Ag…)
cán mỏng, cắt nhỏ cho vào H
2
SO
4
đặc, nóng (lưu ý trong thực tế người ta thường
sử dụng HNO
3
). Tạp chất sẽ tan trong H
2
SO
4
đặc, nóng, ta sẽ thu được vàng:
Cu + 2H
2
SO
4
đặc, nóng
o
2
O
Áp dung: Điều này là hiển nhiên thấy trong đời sống, ai cũng có thể biết
được điều này, nhưng không giải thích được vì sao phải bôi nước vôi vào vết côn
trùng đốt ? do đó vấn đề này có thể đưa vào trong khi dạy bài “Một số bazơ
quan trọng” tiết 13 hoá 9.
Vấn đề số 4: Làm thế nào để phân biệt muối iod và muối thường ?
Muối iod ngoài thành phần chính là muối ăn (NaCl) còn có một lượng
nhỏ NaI (nhằm cung cấp iod cho cơ thể).
Để phân biệt muối thường và muối iod ta vắt nước chanh vào muối, sau
10
đó thêm vào một ít nước cơm. Nếu thấy màu xanh đậm xuất hiện chứng tỏ muối
đó là muối iod.
Vì sao thêm muối quá sớm thì đậu không nhừ ?
Các bà mẹ thường nhắc nhở: Khi nấu đậu chớ cho muối quá sớm, điều này
có thể giải thích một cách khoa học như sau: Trong đậu nành khô, nước rất ít. Do
đó có thể coi nó như một dung dịch đặc, và lớp vỏ là một màng bán thẫm. Khi
nấu, nước bên ngoài sẽ thẩm thấu vào trong đậu làm đậu nành nở to ra, sau một thời
gian các tế bào trong hạt đậu bị phá vỡ làm cho đậu mềm.
Nếu khi nấu đậu ta cho muối quá sớm thì nước ở bên ngoài có thể không
đi vào trong đậu, thậm chí nước trong đậu sẽ thẩm thấu ra ngoài do nồng độ muối
trong nước muối bên ngoài lớn hơn nhiều so với nồng độ muối trong đậu nếu cho
muối quá nhiều.
Thông thường khi nấu cháo đậu xanh, cháo đậu đỏ không nên thêm đường
quá sớm hoặc nấu thịt bò, thịt lợn không nên cho muối quá sớm.
Áp dung: Giáo viên cung cấp cho học sinh 1 số mẹo vặt trong đời sống
thường ngày khi giảng dạy bài “một số muối quan trọng” tiết 15 hoá 9.
Vấn đề số 5: Em có biết khi sử dụng đồ nhôm ?
Đồ nhôm hầu như đã được phổ biến trong mọi gia đình ở mọi quốc gia trên
thế giới. Người ta ưa đồ nhôm vì nó sạch sẽ, nhẹ, đẹp mắt, tiện lợi mà lại rẻ tiền.
được gọi là đất phèn.
Áp dụng: Giáo viên có thể liên hệ trong bài giảng “Nhôm” tiết 24 hoá 9.
Nhằm mục đích cung cấp kiến thức hoá học về sức khoẻ của con người, tạo sự
hưng phấn học tập của học sinh.
Vấn đề số 6: Tại sao nước máy lại có mùi clo? Vì sao không dùng nước
máy để tưới cây cảnh?
Khi sục vào nước lượng nhỏ khí Clo thì có phương trình hóa học của
phản ứng xảy ra như sau:
Cl
2
+ H
2
O → HClO + HCl
HClO có tính oxi hóa mạnh nên có khả năng diệt khuẩn. Trong nước vẫn còn
lượng nhỏ clo nên nước máy có mùi clo.
Khi dùng nước máy tưới cây cảnh thì trên lá cây xuất hiện những đóm
12
trắng và làm rụng lá vì chất diệp lục trên lá bị oxi hóa bởi lượng HClO trong
nước máy. Do vậy không dùng nước máy để tưới cây, hoa cảnh.
Khí clo đã được dùng làm vũ khí ở đâu và khi nào ?
Đó là xế chiều ngày 24 - 4 - 1915 (thế chiến thứ nhất 1914 - 1918) giữa 2
ngôi làng có tên là Steenstraat và Poel Kappelle (nớc Bỉ) xuất hiện một đám khói
màu vàng lục xuất phát từ phòng tuyến của quân Đức bay là là cách mặt đất 1
mét theo chiều gió tiến dần đến phòng tuyến quân Pháp. Đó là khói của 150 tấn
clo chứa trong 5830 thùng điều áp vừa được các binh sĩ của trung đoàn quân tiên
phong 35 và 36 Đức thả vào không khí. Mười lăm phút sau, bộ binh Đức được
trang bị đặc biệt bám theo đám khói clo đó tấn công thẳng vào cứ điểm Pháp. Sự
tác động của khí độc thật vô cùng ghê gớm. Hàng trăm binh sĩ Pháp hỗn loạn
chạy ngược về phía sau tìm không khí để thở. Khi quân Đức tới nơi họ trông thấy
nhiều xác chết với gương mặt xanh nhợt nằm la liệt bên những người hấp hối, cơ
rắn) vào các ly
đựng nước nóng. CO
2
rắn thăng hoa nhanh, làm giảm nhiệt độ của vùng không khí
xung quanh ly nước khiến cho hơi nước ngưng tụ tạo thành đám sương mù màu
trắng. Để tạo hiệu ứng khói màu, người ta chiếu ánh sáng màu lên màn sương này.
Áp dụng: Vấn đề này đề cập trong bài giảng “Các ôxit của cacbon” tiết 34
hoá học 9. Nhằm giúp cho HS hiểu biết thêm về việc phòng cháy chữa cháy và đây
cũng là vấn đề thiết thực có khi xảy ra trong phòng thí nghiệm (cháy nổ natri …).
Vấn đề số 9: Câu tục ngữ: “ Nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa hóa học gì?
Thành phần chủ yếu của đá là CaCO
3
. Khi gặp nước mưa và khí CO
2
trong
không khí, CaCO
3
chuyển hoá thành Ca(HCO
3
)
2
. Theo PTHH sau:
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O → Ca(HCO
3
2
tan
trong nước, chảy qua các khe đá vào trong hang động. Dần dần Ca(HCO
3
)
2
chuyển hoá thành CaCO
3
rắn, không tan. Quá trình này xảy ra liên tục, lâu dài
tạo nên thạch nhũ với những hình thù khác nhau.
Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có dòng nước chảy
qua. Do hiện tượng xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý chúng ta mới nhận ra điều
14
này. Hiểu được điều này giúp học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ có
từ xa xưa và làm cho hóa học trở nên rất gần gũi hơn trong cuộc sống đời thường.
Giáo viên có thể liên hệ vấn đề này ở phần “Muối cacbonat ”(Tiết 39 lớp 9).
Vấn đề số 10: Vì sao có khí mê tan thoát ra từ ruộng lúa hoặc các ao (hồ)?
Trong ruộng lúa, ao (hồ) thường chứa các vật thể hữu cơ. Khi các vật thể này
thối rữa (hay quá trình phân huỷ các vật thể hữu cơ) sinh ra khí mêtan. Người ta ước
chừng 1/7 lượng khí mêtan thoát vào khí quyển hàng năm là từ các hoạt động cày
cấy. Lợi dụng hiện tượng này người ta đã làm các hầm biogas trong chăn nuôi
heo tạo khí mêtan để sử dụng đun nấu hay chạy máy…
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp và là cơ sở giải quyết các vấn đề
về môi trường ở các địa phương chăn nuôi nhỏ lẽ. Giáo viên đưa vấn đề này vào
trong phần liên hệ thực tế bài “Mêtan” tiết 47 hoá học 9.
Vấn đề số 11: Làm cách nào để quả xanh mau chín?
Từ lâu người ta đã biết xếp một số quả chín vào giữa sọt quả xanh thì toàn
bộ sọt quả xanh sẽ nhanh chóng chín đều. Tại sao vậy?
Bí mật của hiện tượng này đã được các nhà khoa học phát hiện khi nghiên
cứu quá trình chín của trái cây. Trong quá trình chín trái cây đã thoát ra một
học 9. Nhằm giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường, tôn trọng pháp luật
Vấn đề số 13: Cây nào hấp thu benzen làm sạch không khí?
Benzen độc là hóa chất dùng trong nhiều loại bột giặt, hồ dán, nhựa, sơn…
Những loại cây cảnh dưới đây không chỉ làm đẹp, mà còn làm tươi mát không
khí trong phòng, nhờ tác dụng "lọc" bỏ những hơi độc benzen như: Hoa cúc, hoa
đồng tiền, nha đam, cây nhện, cây cọ cảnh, cây huệ bình (Lan Ý).
Hoa cúc Hoa đồng tiền Nha đam
Cây nhện Cây cọ cảnh Cây huệ bình
Áp dụng: Điều này đề cập trong bài giảng “Benzen” tiết 51 hoá học 9. Giúp
học sinh hiểu được vai trò của cây xanh trong việc bảo vệ môi trường.
Vấn đề số 14: Vì sao ngày nay không dùng xăng pha chì?
Xăng pha chì có nghĩa là trong xăng có pha thêm một ít Têtraêtyl chì có
tác dụng làm tăng khả năng chịu nén của nhiên liệu dẫn đến tiết kiệm khỏng 30%
lượng xăng sử dụng. Nhưng khi cháy trong động cơ thì chì ôxít sinh ra sẽ bám vào
các ống xả, thành xi lanh, do đó phải trộn váo xăng chất đibrômêtan để ôxít chì
chuyển thành muối PbBr
2
dễ bay hơi thoát khỏi xilanh, ống xả thải vào không khí
gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người.
16
Áp dụng: Hiện nay nhà nước ta nghiêm cấm các doanh nghiệp kinh
doanh xăng dầu sử dụng xăng pha chì. Để hiểu được vì sao thì không ít người
hiểu được vấn đề này. Thông qua nội dung bài “Dầu mỏ và khí thiên nhiên” tiết
52 hoá học 9 giúp học sinh biết được tác hại của việc pha chế vào xăng nhằm
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Vấn đề số 15: Vì sao cồn có thể sát khuẩn?
Cồn là dung dịch ancol etylic (C
2
H
2
,Amilaza H O
→
Đetrin
2
,Amilaza H O
β
−
→
Mantozơ
2
,mantozo H O
→
Glucozơ
Áp dụng: Vấn đề này có thể đề cập đến trong bài dạy về tinh bột ( tiết
65 hoá học 9) cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản của sự chuyển hóa tinh bột
khi ăn. Đó cũng là một hiện tượng trong tự nhiên điều cảm nhận được trong các
bữa cơm của chúng ta.
Vấn đề số 18: Em có biết vì sao “chảo không dính” khi chiên?
Nếu dùng chảo bằng gang, nhôm thường để chiên cá, trứng không khéo
dễ bị dính chảo. Nếu dùng chảo không dính thì thức ăn sẽ không dính chảo. Thực
ra mặt trong của chảo không dính người ta có trải một lớp hợp chất cao phân tử.
Đó là Politetra floetilen được tôn vinh là “vua chất dẽo” thường gọi là “teflon”.
Politetra floetilen chỉ chứa 2 nguyên tố C và F nên liên kết với nhau rất bền chắc.
Một điều lưu ý là không nên đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon
ở nhiệt độ trên 250
0
C là bắt đầu phân huỷ và thoát ra chất độc. Khi rửa chảo
không nên chà xát bằng các đồ vật cứng vì có thể gây tổn hại cho lớp chống dính.
Áp dụng: “Chảo không dính” hiện nay được các bà nội trợ sử dụng khá
Năm học Lớp
Số
H
S
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL
%
2009- 2010
9A
1
36 10 27.8 13 36.1 7 19.4 6 16.7 0 0
9A
4
34 9 26.5 12 35.3 8 23.5 5 14.7 0 0
2010-2011
9A
2
39 11 28.2 14 35.9 9 23.1 5 12.8 0 0
9A
3
39 11 28.2 14 35.9 10 25.6 4 10.3 0 0
2011-2012
9A
4
40 13 32.5 15 37.5 9 22.5 3 7.5 0 0
9A
5
39 12 30.8 15 38.5 9 23.0 3 7.7 0 0
kiếm kiến thức, rèn luyện kĩ năng giải thích một số hiện tượng có liên quan đến
cuộc sống hàng ngày. Yêu cầu của GV phải làm tốt các khâu chuẩn bị và khéo
HS thân yêu, không ngừng nâng cao trình độ và tích lũy bề dày kinh nghiệm của
đội ngũ GV đang trực tiếp từng ngày, từng giờ đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn
đề đạt một số ý kiến sau:
Hội đồng xét duyệt SKKN, đặc biệt là phòng giáo dục có thể giới thiệu rộng rãi
các sáng kiến có tính khả thi cao trên mạng internet để đồng nghiệp cùng tham khảo.
21
Ngành giáo dục cần đầu tư trang thiết bị dạy và học đầy đủ, đây cũng là điều
góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho GV phát huy tốt hiệu quả giờ dạy cũng như
nên có sự quan tâm động viên kịp thời tương xứng.
Phú An, Tháng 02 Năm 2013
Người viết đề tài
Nguyễn Văn Sĩ
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Cương, Phương pháp dạy học và thí nghiệm hoá học.(Chuyên đề
bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997 – 2000 cho giáo viên THPT). NXBGD 1999.
- Trần Quốc Đắc (chủ biên) và tập thể tác giả. Hướng dẫn kĩ thuật sử
dụng và làm đồ dùng dạy học. NXBGD 1987.
- Trần Liên Nguyễn. Đố vui về hóa học - NXB Thanh niên 1998
- Trịnh Văn Biều. Các Phương pháp dạy học hiệu quả – ĐHSP. TPHCM
- Sách giáo khoa, sách giáo viên hóa học 9 – BGD&ĐT
- Nguyễn Xuân Trường. 385 câu hỏi và đáp về hoá học và đời sống.
NXBGD 1996
23