dạy học phần văn trong ngữ văn theo phương pháp tích hợp - Pdf 25

A. TÊN ĐỀ TÀI:
DẠY HỌC PHẦN VĂN TRONG NGỮ VĂN THEO PHƯƠNG
PHÁP TÍCH HP
B. CẤU TRÚC NỘI DUNG
Phần I: Mở đầu
1) Lý do chọn đề tài:
- Tề tài nghiên cứu trên cơ sở những yêu cầu cấp thiết nâng cao hiệu quả
dạy học môn Ngữ Văn THCS. Ngoài phương pháp tích cực phát huy tính chủ
động sáng tạo của hs, phương hướng tích hợp và dạy học theo phương pháp tích
hợp là vấn đề thời sự của đội ngũ Gv dạy Văn THCS
- Hiện nay khái niệm “tích hợp” vẫn còn nhiều ý kiến trao đổi. Do vậy
đa số anh chò em vận dụng phương hướng tích hợp trong dạy học còn lúng túng,
hiệu quả còn hạn chế
- Một số tài liệu tham khảo phục vụ Gv Ngữ Văn đã có những bước vận
dụng phương pháp tích hợp, song cơ sở lý thuyết của phương pháp này vẫn chưa
được trình bày thấu đáo
2) Mục đích – nhiệm vụ
- Đề tài hướng tới xây dựng lý thuyết về phương pháp tích hợp
-Đề tài xác đònh hệ thống những kỹ năng cần rèn luyện đối với người GV
Ngữ văn THCS khi vận dụng phương pháp tích hợp. Các kỹ năng này được đặt
trong mối quan hệ với các kỹ năng của các phương pháp dạy học khác
- Đề tài đề xuất hướng vận dụng kỹ năng dạy học tích hợp vào thực tiễn
thông qua quá trình triển khai một số bài cụ thể trong chương trình
3) Phương pháp
-Đề tài được xây dựng trên cơ sở:
+ Chỉ thò của Bộ GDĐT về đổi mới chương trình PPDH THCS
+ Phương pháp nghiên cứu của đề tài vận dụng chủ yếu là phương pháp
nghiên cứu lý thuyết và phương pháp thực nghiệm, tổng kết kinh nghệm.
Phần II ; Nội dung
Đề tài được nghiên cứu và thực hiện trong quá trình giảng dạy của bản
thân và của các đồng nghiệp tại trường THCS Lương Thế Vinh – Quy Nhơn

phương châm lấy học sinh làm trung tâm quá trình dạy học. Lý luận dạy học
hiện đại nhấn mạnh nội dung thuật ngữ “day-học” không chỉ dừng lại ở hai
hoạt đông dạy của thầy, học của trò mà tiến lên bổ sung nghóa mới. Dạy học là
dạy việc học, dạy cách học. Đây chính là phương pháp luận để đi sâu nghiên
cứu kỹ năng dạy học của giáo viên khi giảng dạy phân Văn theo phương pháp
tích hợp.
c. Phương pháp dạy học tích hợp
Là hệ quả tất yếu khi thực hiện mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ
môn Ngữ văn được biên soạn theo nguyên tắc, quan điểm tích hợp.
Phương pháp dạy học tích hợp là cách thức hoạt động của giáo viên
trong việc hướng dẫn, tổ chức học sinh chủ động, phối hợp và khai thác tri thức,
kỹ năng của phân môn khác vào phân môn đang dạy nhằm nâng cao hiêu quả
giờ dạy theo yêu cầu, mục tiêu đề ra.
Quan niệm như vậy, chúng ta muốn nhấn mạnh đến cả kỹ thuật và chức
năng, hiệu quả của thao tác tích hợp. Về mặt kỹ thuật, chính người giáo viên
Tr: 3
phải đi trước một bước nhìn ra các yếu tố đồng qui giữa phân môn đang dạy với
các phân môn liên đới. Từ đó, người giáo viên lựa chọn lượng tri thức và kỹ
năng tích hợp cần rèn luyện để học sinh đạt tới kết quả mong muốn. Thứ hai,
khi dùng phương pháp tích hợp, giáo viên cần ý thức chức năng, vai trò tác
độâng của nó làm biến đổi năng lực tư duy và thao tác làm việc học tập của học
sinh theo yêu cầu của môn Ngữ văn tích hợp.Ở đây, như các chuyên gia về
phương pháp đã phân tích, người giáo viên cần chú ý cả mặt bên ngoài của
phương pháp (cách tổ chức hoạt động dạy học) và cả mặt bên trong của phương
pháp là phát triển trình độ tư duy tích hợp của học sinh nhằm khám phá đối
tượng, đạt hiệu quả cao trong chủ động chiếm lónh tri thức môn học. Chẳng
hạn, khi dạy văn bản “Sự tích Hồ Gươm” (Ngữ văn 6- Tập 1-Bài 4), giáo viên
hướng dẫn tìm hiểu bố cục của truyền thuyết này, tóm tắùt các sự việc chính của
truyện. Thực chất đây là bước dạy học tích hợp với kiến thức làm văn (Bố cục
văn bản tự sự, sự việc trong tự sự). Học sinh- qua hoạt động này – vừa nắm cốt

chỉ huy của dượng Hương Thư. Văn bản lại sử dụng tối ưu biện pháp tu từ so
sánh (tích hợp với phân môn Tiếng Việt bài 21) tạo cho câu văn miêu tả mở
rộng, giàu sự liên tưởng giúp người đọc cảm nhận bức tranh lao độâng hiện ra
trước mắt. Hoàn toàn có thể sử dụng các thao tác tích hợp để tìm ra “ yếu tố
đồng qui giữa tác phẩm văn học “Vượt thác” và hình tượng người lao động mới
ngoài đời, giữa cảnh được miêu tả (cảnh hai bên sông, thác nước) với kiến thức
đòa lí về đòa hình khu vực miền Trung núi và biển gần nhau tao nên sự chênh
lệch độ cao của những dòng sông chảy từ Tây sang Đông.
Nắm được bản chất phương pháp tích hợp cũng tức là nắm được một
kênh giải mã tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên không
phải đem tất cả những kiến thức tích hợp đẩy hết vào trong bài học mà phải
thấy rằng : dạy Ngữ văn hteo hướng tích hợp luôn phải thực hiện tốt nguyên tắêc
của nó.
3. Nguyên tắc của phương pháp dạy học tích hợp.
-Thứ nhất : Lựa chọn yếu tố đồng qui để dạy theo phương pháp tích hợp
làm tăng hiệu quả giờ dạy học.
Thực chất dạy học tác phẩm văn học trong môn Ngữ văn là giáo viên
hướng dẫn học sinh thưởng thức, khám phá giá trò, cái hay, vẻ đẹp của văn bản
ngôn từ nghệ thuật. Vai trò của khâu “Đọc - Hiểu văn bản” là trọng tâm của
bài dạy. Như vậy, nếu không có cái nhìn tích hợp, lựa chọn các yếu tố đồng qui
thì không thể dạy theo phương pháp tích hợp.
-Thứ hai : Chỉ sử dụng phương pháp tích hợp khi biết chắc hiệâu quả
của nó.
Đây là nguyên tắc chòu sự chi phối của phương pháp ứng dụng tự nhiên
trong hệ thống các phương pháp nghiên cứu quá trình dạy học Văn. Dạy học
nói chung và dạy học Văn nói riêng diễn ra theo hai bước : Bước thiết kế giáo
án của giáo viên và bước “thi công” thể hiện bài dạy trên lớp. Ngay trong khâu
thiết kế giáo án, hoạt động tư duy của giáo viên gắn liền với tính chất nghiên
cứu, đònh hình các bước lên lớp, giả đònh các tình huống dạy học, Người giáo
viên qua khảo sát các yếu tố tích hợp cần phán đoán và đònh hướng chỉ đưa vào

yếu tố đồng qui trong một bài hoặc cụm bài (bài trước vừa dạy hay bài sau sắp
dạy, liền kề ). Tích hợp xa là tìm yếu tố đồng qui giữa chương trình vòng 1 (lớp
6, 7 và vòng 2 ( lớp 8, 9) với sự lập lại và nâng cao kiến thức và kỹ năng liên
quan đến trục chính là 6 kiểu văn bản.
c.Tích hợp đóng và tích hợp mở :
Là những khái niệm có tính qui ước để phân biệt lương tri thức, kỹ năng
tích hợp. Tích hợp đóng chủ yếu là tìm những điểm đồâng qui giữa 3 phân môn
gần là Văn-Tiếng Việt và Làm văn. Tích hợp mở là tìm, khai thác lượng kiến
thức tích hợp giữa môn Ngữ văn và kiến thức các môn liên đới có thể làm tăng
hiệu quả giờ dạy, chẳng hạn như các môn: Lòch sử, Đòa lí, Hội hoạ, Âm nhạc…
Chính mối quan hệ tích hợp mở tạo nên độ sinh động cho giờ dạy song lại đòi
hỏi người giáo viên phải thật giàu kiến thức và khéo léo vận dụng tích hợp.
II. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP TÍCH HP
1. Lựa chọn hệ thống kiến thức, kỹ năng tích hợp.
Tr: 6
Bản thân tác phẩm văn chương là ngữ liệu chung của Văn học - Tiếng
Việt- Làm văn. Các nhà biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn trên quan điểm tích
hợp đã cấu trúc toàn bộ chương trình và từng bài cụ thể theo tinh thần này. Do
vậy biện pháp đầu tiên của giáo viên Ngữ văn là nhận ra, nhìn thấy yếu tố
đồng qui ở những cấp độ khác nhau. Không tìm ra và lựa chọn được hệ thông
kiến thức, kỹ năng tích hợp tức là chưa tìm ra con đường dạy theo phương pháp
tích hợp.
Trên cơ sở 5 hoạt động chính của giờ dạy Văn trong phân môn Ngữ văn
gắn với hoạt động dạy học chiếm lónh 5 loại nội dung khác nhau mà có thể đònh
hình hệ thống kiến thức tích hợp như nhau :
-Ở H đ 1 : Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm, cần lượng kiến thức tích
hợp ngắn gọn về nhưng nét cơ bản trong thân thế, sự nghiệp hoặc đặc điểm của
tác giả để học sinh hiểu thêm nét riêng trong đắc điểm tác phẩm cần khám
pha. Phần tìm hiểu chung về tác phẩm cần tích hợp với kiến thức về Văn học
sử ( lai lòch tác phẩm )ù và kiến thức về thể loại (lí luận văn học ).

“Thạch Sanh” có sử dụng bài tập tích hợp giữa Văn và Mó thuật : “Nếu vẽ một
tranh minh hoạ cho truyện Thạch Sanh, em chọn chi tiết nào để vẽ? Vì sao? Em
sẽ đặt tên cho bức tranh minh hoạ ấy tên gọi như thế nào?
3. Kiểm tra, đánh giá.
Thường xuyên kiểm tra và đánh giá học sinh bằng những bài
tậptổng hợp có sử dụng phương pháp tích hợp. Do chương trình Ngữ văn THCS
được cấu trúc theo quan điểm tích hợp nên nội dung và hình thức kiểâm tra cũng
có nhiều đổi mới. Ở đây chúng ta chỉ bàn đên 2 hình thức kiểm tra chính (kiểm
tra miệng và kiểm tra viết tự thuật). Cả 2 hình thức kiểm tra đều tất yếu sử
dụng loại câu hỏi, bài tâp tích hợp đan xen với các loại câu hỏi, bài tập khác.
Tài liệu hướng dẫn chỉ đạo của Bộ GD-ĐT đã đònh hướng, khi kiểm tra vấn
đáp “Không nên chỉ kiểm tra vấn đáp vào 15 phút đầu giờ và chỉ kiểm tra kiến
thức bài vừa học”, “Trong khi kiểm tra vấn đáp, giáo viên có thể hỏi về những
kiến thức cũ hoặc những kiến thức có liên quan đến bài mới”. Như vậy ở đây
“những kiến thức cũ ´và những kiến thức có liên quan đến bài mới” chứa đựng
tư tưởng tích hợp. Hoạt động kiểm tra miệng này có ưu điểm là”có thể sử dụng
mọi thời điểm trong tiết dạy học Ngữ văn” (đầu tiết, giữa tiết,cuối tiết). Giáo
viên có thể nhanh chóng nắm bắt mức độ hiểu bài của học sinh, năng lực phát
huy sức mạnh kiến yhức tổng hợp của học sinh để giải quyết các vấn đề liên
quan đến nội dung kiểm tra theo ý đồ của người dạy. Kiểm tra miệng thường
xuyên còn pháït huy năng lực nói, khả năng thức hành giao tiếp của học sinh.
Trong đổi mới cách ra đề kiểm tra, giáo viên cần chú ý thiết kế hệ
thống câu hỏi, bài tập có tính chất phân loại học sinh. Tức là đề bài có những
câu hỏi mọi học sinh trả lờøi được nếu cố gắng và một số câu hỏi cho học sinh
khá giỏi phải suy luận nhiều mới làm được. Câu hỏi, bài tập tích hợp xuất hiện
ở cả hai mức trung bình và khó. Hiện nay học sinh THCSû đã làm quen với loại
câu hỏi trắc nghiệm. Tuỳ thuộc vào thời gian làm bài, tuỳ thuộc vào hình thức
kiểm tra viết hay vấn đáp mà số lượng câu hỏi, lương kiến thức, kỹ năng cần
kiểm tra ở độ dài, ngắn khác nhau. Điều quan trọng là giáo viên cần chú ý
lượng kiến thức đồng qui trong một văn bản tác phẩm văn học để đặt ra những

Văn- Tiếng Viêt- Làm văn.
Trước hết, tên gọi môn học Ngữ văn chính là sự tích hợp giữa 3 phân
môn Văn- Tiếng Việt- Làm văn trước đây tương đối d0ộc lập với nhau trong
sách giáo khoa chỉnh lý 1995. Mỗi bài dạy Ngữ văn được cấu trúc 3 phần (Văn-
Tiếng Việt- Làm văn) và lấy văn bản và kiểu văn bản làm ngữ liệu chung và
trục đồng qui kiến thức.
Lấy chương trình Ngữ văn 6 làm ví dụ :Chương trình xoay quanh 2 kiểu
văn bản tự sự và miêu tả, ngoài ra loại văn bản nhật dụng được đưa vào lần
đầu tiên với mục đích giúp học sinh tiếp cận với các vấn đề đời sống hiện đại,
thời sự. Trên cơ sở đó người giáo viên Ngữ văn cần nhìn thấy rõ ý đồ của các
tác giả soạn sách và mỗi giáo viên sau khi nghiên cứu chương trình hình thành
cho mình cái nhìn tích hợp đối với nội dung mình sắp dạy.
Tr: 9
Ta thấy các tác giả biên soạn sách đã tích hợp nội dung các tác phẩm
văn học cụ thể với kiến thức về lí luận thể loại văn học thông qua hệ thống các
thể loại văn học được đan xen trong phần chú thích tại mỗi cụm bài cụ thể.
Chẳng hạn như các khái niệm: truyện dân gian, truyện truyền thuyết, cổ tích,
truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện trung đại, ký, văn bản nhật dụng. Ngoài
ra, ở chú thích mỗi bài dạy cụ thể, sách giáo khoa cũng đưa vào chừng mực
nhất đònh lượng kiến thức nhất đònh tích hợp với tri thức lòch sử, đòa lí, danh
nhân, tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm. Do vậy giáo viên cần khéo léo kết
hợp lượng kiến thức này.
Một điểm mạnh của sách giáo khoa Ngữ văn là lượng yếu tố giữa văn
và kênh hình khá phong phú với 36 tranh, ảnh minh hoạ tác phẩm văn học.
Dùng kênh hình làm phong phú giờø dạy là một biểu hiện của phương pháp tích
hợp trong tài liệu phục vụ giáo viên và học sinh trong giờ Ngữ văn.
2. Kỹ năng phát hiện lượng kiến thức đồng qui giữa các tác phẩm văn
học và kiến thức các môn liên đới (ngoài Tiếng Việt và Làm văn).
Nếu tích hợp giữa Văn và Tiếng Việt, Làm văn được xem là tích hợp
nội bộ thì tích hợp giữa Văn và các yếu tố khác được xem là tích hợp mở rộng.

hướng đổi mới phương pháp dạy học cần chú trọng những nhiệm vụ của giờ học
là giúp học sinh có được những kiến thu6c1 cơ bản.Nắm được nội dung văn bản
được học cùng với một số thông tin về tác giả, một số khái niệm thuật ngữ sơ
yếu, cần thiết về thi pháp, lòch sử văn học và các thao tác phân tích tác phẩm”
4. Kỹû năng soạn câu hỏi, bài tập tích hợp
Do chương trình nội dung môn Ngữ văn được xây dựnh theo quan điểm
tích hợp. Văn bản tác phẩm văn học ở phần Văn là ngữ liệu chung cho cả phần
Tiếng Việt, Làm văn. Có thể phân loại câu hỏi, bài tập Ngữ văn thành 2 tiêu
chí: “Hệ thống câu hỏi bài tập trên những đặc trưnh của hoạt động tiếp cận văn
chương”, tức là khai thác các quá trình Đọc- Hiểu, và “Hệ thống câu hỏi, bài
tập dựa trên những nhiệm vụ cụ thể của giờ học tác phẩm văn chương”, tức là
khám phá, chiếm lónh tri thức về tác giả, giá trò tác phẩm, ý nghóa tác phẩm.
Từ quan điểm tích hợp, ta có thêm loại câu hỏi tích hợp. Câu hỏi tích
hợp là loại câu hỏi tình huống khai thác yếu tố đồng qui giữa phân môn Văn và
phân môn liên đới. Loại câu hỏi, bài tập này vừa mang tính chất củng cố, vừa
mang tính chất của thao tác tích hợp. Chẳng hạn câu hỏi : Truyền thuyết “Sơn
Tinh- Thuỷ Tinh” liên quan đến thời đại lòch sử nào? Đây là câu hỏi vừa tích
hợp giữa Văn và Sử, giữa Văn và khái niệm truyền thuyết đã học ở bài trước
đó. Hiện nay cách ra đề kiểm tra, thi học kì, thi cuối năm của môn Ngữ văn
đều sử dụng loại câu hỏi, bài tập tích hợp.
5. Kỹ năng hướng dẫn học sinh học tập theo phương pháp tích hợp.
Do chương trình nội dung môn Ngữ văn được xây dựng theo quan điểm
tích hợp. Văn bản tác phẩm văn học ở phần Văn là ngữ liệu chung của cả phần
Tiếng Việt và Làm văn. Một số giáo viên còn lúng túng khi hướng dẫn học
sinh học tập bằng sách giáo khoa theo phương pháp tích hợp. Khó khăn ở đây
xuất phát theo thói quen từ lâu dạy học tách rời 3 phân môn trước đây.
Năng lực khéo léo trong hướng dẫn học sinh học tập theo phương hướng
tích hợp cần được giáo viên rèn luyện, đúc kết kinh nghiệm. Về cơ bản, giáo
viên đã có cái nhìn tích hợp, đã nắm chắc khung chương trình tích hợp và các
kiến thức đồng qui của từng cụm bài, từng bài Ngữ văn thì khâu hướng dẫn học

văn theo 2 phương châm: tích cực và tích hợp
PHỤ LỤC
Mô hình giáo án có sử dụng phương
pháp tích hợp
Giáo án minh hoạ:
Sơn Tinh- Thuỷ Tinh
A. Phần chuẩn bò của giáo viên
Soạn “Mục tiêu cần đạt” bổ sung
thêm nội dung tích hợp trong bài dạy
-Tích hợp phần Văn với Tiếng Việt:
nghóa của từ
-Tích hợp phần Văn với Làm văn:
Tr: 12
(Những yếu tố tích hợp sẽ được sử
dụng trong bài dạy)
yếu tố tự sự, nhân vật trong văn tự sự
-Tích hợp phần Văn với Thể loại văn
học: khắc sâu khái niệm truyền
thuyết
-Tích hợp Văn với Làm văn: vận
dụng liên tưởng, tưởng tượng trong kể
chuyện sáng tạo
Soạn mục “Chuẩn bò của giáo viên và
học sinh” nêu rõ sử dụng đồ dùng dạy
học nào theo phương pháp tích hợp
-Tích hợp Văn và Mỹ thuật: dùng
hình ảnh “Đê sông Hồng”,hướng dẫn
học sinh tô màu bức trnh Sơn Tinh-
Thuỷ Tinh trong sách giáo khoa để
học sinh thuyết minh

ca dao.
I.Soạn “Hđ 1”: giáo viên hướng dẫn
học sinh tìm hiểu chung về tác giả,
tác phẩm. Cần tích hợp với kiến thức
lòch sử, văn học (tác giả, xuất xứ tác
phẩm) và kiến thức lí luận văn học
(thể loại) hoặc kiến thức làm văn
9kiểu văn bản, phương thức biểu đạt),
hoặc tích hợp Tiếng Việt (giải thích
- Tích hợp Văn với thể loại văn học:
đặc điểm truyền thuyết
- Tích hợp Văn với lòch sử: truyện liên
quan đến thời đại các vua Hùng
Tr: 13
tựa đề tác phẩm)
II. Soạn “Hđ 2”: giáo viên hướng dẫn
họcsinh Đọc-Tìm hiểu chú thích.Giáo
viên cần tích hợp với môn Làm văn
khi hướng dẫn học sinh chia bố cục
tác phẩm, xác đònh ngôi kể (văn bản
tự sự), thứ tự tả (văn bản miêu tả).
Giáo viên cần tích hợp phần tìm hiểu
từ khó với phần Tiếng Việt hoặc tích
hợp với các môn Lòch sử, Đòa lí,
Phong tục qua các chú thích trong
sách giáo khoa
-Tích hợp Văn với Tiếng Việt: khi tìm
hiểu các chú thích và mở rộng giải
thích thêm nghóa các từ cồn, ván nệp,
mời

vật chính (Sơn Tinh- ThuỷTinh) và
nhân vât phụ (vua,Mỵ Nương, lạc
hầu)
- Tích hợp với Làm văn: cho học sinh
sắp xếp các sự việc của truyền thuyết
- Tích hợp với Lòch sử, Đòa lí: giáo
viên nói thêm về Phong Châu và các
vua Hùng
- Tích hợp giữa Văn với Văn: mối liên
hệ giữa vua Hùng thứ 18 và vua Hùng
thứ nhất ở bài “Con Rồng, cháu Tiên”
- Tích hợp giữa Văn và Tiếng Việt: khi
giải thích từ “mời” nhấn mạnh sự
sáng suốt dân chủ của vua Hùng
- Tích hợp giữa Văn và Hội hoạ: cho
học sinh xem tranh và thuyết minh
tranh
IV. Soạn “Hđ 4”: Tổng kết. Giáo
viên có thể tích hợp củng cố về thể
loại, bên cạnh đó cần chốt lại đặc sắc
về nội dung và nghệ thuật tác phẩm
V. Soạn “H đ 5”: Luyện tập. Giáo - Tích hợp Văn và Làm văn: yêucầu
Tr: 14
viên cần sử dụng câu hỏi, bài tập tích
hợp yêu cầu học sinh liên hệ nghóa
tác phẩm và nhiệm vụ học sinh trong
học tập, lao động
Giáo viên cũng cần cho học sinh phát
biểu cảm nghó của mình về tác phẩm
hoặc một khía cạnh trong tác phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status