Vận dụng phương pháp tích hợp để dạy chùm văn bản chính luận trung đại, trong chương trình chuẩn, ngữ văn lớp 11 THPT - Pdf 13

Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC

Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
I. Lời mở đầu 2
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu 2
1. Thực trạng của việc dạy văn bản nghị luận thời Trung đại, lớp 11, ở
trường THPT hiện nay 2
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
3. Phương pháp nghiên cứu 3
4. Những đóng góp của đề tài 3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Giới thiệu vài nét về chùm văn bản chính luận Trung đại, được học trong
chương trình Ngữ Văn lớp 11 THPT 3
II. Phương pháp tích hợp trong dạy học văn và ý nghĩa của nó trong việc
dạy chùm văn bản nghị luận Trung đại lớp 11 THPT 4
III. Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp cho từng bài:
III.1. Chuẩn bị bài 5
III.2. Vận dụng trong từng bài học cụ thể:
1. Chiếu cầu hiền 5
2. Xin lập khoa luật 9
III.3. Khái quát vẻ đẹp của văn chính luận Trung đại 11
IV. Kết quả thực nghiệm 12
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
I. Kết luận 14
II. Một số kiến nghị 14
III. Lời kết 14

Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm

- Với chùm bài văn chính luận thời Trung đại lại càng khó hơn, bởi nó có
tính chất nguyên hợp, như trên đã nói.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
a. Mục đích nghiên cứu:
- Với giáo viên: có thể vận dụng một trong những phương pháp hữu hiệu,
giúp giảng dạy các tác phẩm văn chính luận Trung đại có kết quả tốt.
- Đối với học sinh: Tăng cường thêm kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ
bản để đọc-hiểu văn bản văn học Trung đại, củng cố ở các em khả năng đào
sâu suy nghĩ, nâng cao mở rộng kiến thức.
b. Nhiệm vụ:
- Đề tài giúp với giáo viên: Qua vận dụng tích hợp vào quá trình hướng
dẫn học sinh đọc - hiểu trong giờ học, giáo viên phải nắm vững hệ thống tri
thức thể loại và biết vận dụng tích hợp những tri thức văn hoá, để người dạy
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm
thực sự là kiến trúc sư, nhà thiết kế tài ba của giờ đọc - hiểu những văn bản
chính luận Trung đại, trong chương trình chuẩn, Ngữ Văn lớp 11- THPT.
- Với học sinh: giúp các em có một cách tìm hiểu tác phẩm từ nhiều kiến
thức liên quan, mở rộng kiến thức. Từ đó cảm thụ sâu sắc tác phẩm, tiếp thu
kiến thức một cách đầy đủ và hệ thống.
Tên đề tài: Vận dụng phương pháp tích hợp để dạy chùm văn bản chính
luận Trung đại trong chương chình chuẩn Ngữ Văn lớp 11, trung học phổ
thông.
3. Phương pháp nghiên cứu:
a. Về lí thuyết: Qua nghiên cứu tài liệu có liên quan đến giảng dạy bài
Chiếu cầu hiền và Xin lập khoa luật.
- Thiết kế bài học Ngữ Văn lớp 11, tập 1- do Phan Trọng luận chủ biên.
- Phân tích và bình giảng Ngữ văn lớp 11- do nguyễn Đăng mạnh chủ biên.
- Các bài nghiên cứu về Chiếu cầu hiền và Xin lập khoa luật.
b. Về thực tiễn:

1. Vài nét về vấn đề tích hợp trong dạy học :
Trong tác phẩm Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát
triển các năng lực trong nhà trường, giáo sư Xaver Rogiers đã khẳng định:
Do nhu cầu xã hội, chúng ta cần phải hướng tới tích hợp trong dạy học.
a. Quan điểm dạy học tích hợp: Có nhiều quan điểm dạy học tích hợp,
nhưng cơ bản vẫn theo các hướng sau:
- Quan điểm liên môn, trong đó chúng ta phối hợp đóng góp của nhiều
môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống.
- Quan điểm xuyên môn, trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở học sinh
những kĩ năng xuyên môn. Nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ
năng mới, với những kiến thức và kĩ năng trước đó; những kiến thức và kĩ
năng của các lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng lớp dưới,
bậc học dưới; có thể áp dụng ở mọi lúc mọi nơi.
b. Những quan điểm trên được các nhà giáo dục Việt Nam gọi là tích hợp
theo chiều ngang và theo chiều dọc.
- Tích hợp theo chiều dọc(quan điểm xuyên môn) phối hợp nhiều kiến
thức, của nhiều lĩnh vực: khoa học, đời sống, theo nguyên tắc đồng tâm.
- Tích hợp theo chiều ngang(quan điểm liên môn):thực chất là phối hợp
sự đóng góp của nhiều môn với nguyên tắc đồng quy.
Ở đề tài này, khi vận dụng tích hợp trong dạy chùm văn bản chính luận
Trung đại lớp 11, chương trình chuẩn, tôi chú ý vào cả hai hình thức tích hợp
theo chiều ngang và dọc.
2. Vấn đề tích hợp trong giờ dạy văn bản chính luận thời Trung đại.
- Là hướng khai thác dựa vào những thông tin ngoài văn bản, liên văn
bản. Như: tiểu sử tác giả, ngữ cảnh sản sinh ra văn bản, để soi chiếu vào nội
dung góp phần giải mã các lớp ý nghĩa tiềm ẩn của tác phẩm.
+ Nếu người tiếp nhận không nắm vững ngữ cảnh sẽ không cắt nghĩa được
mạch ngầm của văn bản. Nhất là những văn bản có sự gián cách về văn hoá
tiếp nhận, với chất giáo huấn, ngôn chí, hết sức sâu sắc của loại hình văn
hoá Trung đại.

Công tác chuẩn bị rất quan trọng. Cho nên trước khi đi vào đọc-hiểu hai văn
bản này, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ở
nhà, gồm phần sau:
a. Nội dung tìm hiểu thứ nhất:
- Qua sách báo, em hãy tìm hiểu những nội dung có liên quan đến cuộc đời
vua Quang Trung; tác giả Ngô Thì Nhậm; tác giả Nguyễn Trường Tộ. Danh
phận, vị thế của mỗi người. Bối cảnh lịch sử, xã hội có tác động như thế nào
tới nội dung và cách thức lập luận của các văn bản trên?
- Em hiểu như thế nào về tính chất văn-sử-triết bất phân của văn học trung
đại? Tính chất đó được biểu hiện như thế nào trong văn bản Chiếu cầu hiền
và trích đoạn Xin lập khoa luật ?
b. Nội dung thứ hai:
- Em hãy cho biết chương trình THCS và THPT đã học những văn bản
nào thuộc thể loại văn bản chính luận thời Trung đại? Hãy lập bảng thống kê
hệ thống các chủ đề của từng văn bản và chỉ ra những nét độc đáo về nghệ
thuật của các văn bản đó.
- Sau khi học xong hai văn bản Chiếu cầu hiền và trích đoạn Xin lập
khoa luật , nêu nhận xét chung về văn nghị luận thời Trung đại.
III.2. VẬN DỤNG TRONG TỪNG BÀI HỌC CỤ THỂ
1. BÀI: CHIẾU CẦU HIỀN: (Ngô Thì Nhậm)
a. Sau khi giới thiệu và ghi tên bài học lên bảng, giáo viên gọi một
học sinh đọc phần tiểu dẫn.
- Giáo viên ghi mục này lên bảng, rồi nêu câu hỏi tìm hiểu: Phần tiểu dẫn đã
cung cấp những nội dung thông tin gì về tác giả Ngô Thì Nhậm?
Những nội dung đó giúp em được điều gì khi tìm hiểu văn bản?
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm
- Qua sự chuẩn bị ở nhà, kết hợp với phần tiểu dẫn, học sinh có thể dễ
dàng có được những kiến giải ban đầu:
+ Ngô Thì Nhậm xuất thân trong một gia

sức nhạy cảm. Lúc này một mặt ông phải trổ hết tài năng của một nhà chính
luận trong cuộc hùng biện. Điều ông không lúc nào được quên là: mình đang
nói bằng tư tưởng của hoàng đế Quang Trung - người đang đứng trên bục cao
của chiến thắng, song trong mắt không ít trí thức Bắc Hà lại là kẻ thù của cựu
triều! Sự mếch lòng và tâm thế dò xét, đề phòng là tâm lí thường xuyên ở giới
nhiều chữ này. Do đó trong văn bản, giọng văn một mặt vừa phải thể hiện
quyền uy của một vị hoàng đế, mặt khác phải thật mềm mỏng, chân thành mới
hầu mong mục đích cầu hiền mang lại kết quả như mong muốn.
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Ngô Thì Nhậm
Vua Quang Trung
Sáng kiến kinh nghiệm
- Khi gợi những biến cố những biến cố những sự kiện đã qua cũng như
thực trạng cách hành xử của giới trí thức Bắc Hà, Ngô Thì Nhậm đã dùng
cách nói uyển ngữ, cách nói hình ảnh với nhiều điển tích, làm cho câu chuyện
có tầm khái quát, tránh được những đụng chạm rất dễ xảy ra, đồng thời lại
diễn đạt được điều cần nói một cách tế nhị và rất hiệu quả trong việc thu phục
nhân tâm của đối tượng vô cùng “khó chiều” như thế. Đặc biệt cách nói như
thế mang đến một thông điệp cho giới trí thức đương thời , rằng: vị vua áo vải
cờ đào này đâu phải là một tên võ biền chẳng hiểu gì thư, lễ, nghĩa như ai đó
đã từng đánh giá và có thành kiến về ông!
+ Gọi tên đúng những đối tượng bất hợp tác hoặc hợp tác một cách giữ kẽ,
cầm chừng; hoặc phí đời bằng cách tìm đến cái chết để thể hiện thứ đạo lí ngu
trung, bằng những hình ảnh “ gõ mõ canh cửa”, “ ra biển vào sông”, “chết
đuối trên cạn”, quả là một lối diễn đạt hết sức tinh tế.
+ Giọng văn vừa có cảm thông, vừa có khiển trách; vừa khuyên bảo, vừa
ngăn ngừa hết sức hợp lí.
- Cùng với hệ thống tri thức ngoài văn bản, như: bối cảnh thời đại, vị thế
của mỗi bên đối thoại và đặc điểm tâm lí cũng như lối giao tiếp có tính lễ nghi
đặc biệt của thời đại, đã chi phối cách viết của bài chiếu. Vấn đề viết cho ai?

lộ trong đoạn văn cho thấy nhà vua áo vải cờ đào này rất đại lượng, có tác
dụng làm mờ đi bớt đi tính “khó chịu” của các sự việc đã xảy ra. , khiến
người đọc Chiếu cầu hiền bớt đi mặc cảm với tân vương. Phải nói rằng Ngô
Thì Nhậm đã thực hiện được một sự “hoà giải” khéo léo, trên cơ sở hiểu lòng
ông vua tri kỉ.Và cũng từ đó mà tác gỉả khơi được mạch văn chảy tới những
lời bộc lộ thiết tha “ Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe ngày đêm mong mỏi,
nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy ai tìm đến. Hay trẫm ít đức
không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự
vương hầu chăng?”
-> Đi sâu vào tình thế lịch sử trước mắt và sự cấp thiết của việc cầu hiền, lời
văn từ mềm mỏng, tế nhị chuyển sang bộc trực, thẳng thắn. Toát lên từ đây là
nỗi lo lắng của quân vương, đối với vận nước khi thấy bộn bề những việc cấp
bách cần phải xử lí, sắp đặt: “kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm
khuyết, công việc ngoài biên cương còn phải lo toan. Dân còn mệt nhọc chưa
lại sức”. Ở đâu, với ai, việc cầu hiền có thể chỉ là một thủ đoạn nhằm thu
phục nhân tâm, còn ở đây hoàn toàn không phải thế. Chúng ta dường như cảm
nhận được nhịp tim đập nhanh hơn, hơi thở nồng nàn của một con người cụ
thể đang hành động, kiên quyết hành động vì một hoài bão lớn, đang hết sức
cần một lực lượng giúp rập, phò tá; qua nhịp điệu của lời văn “một cái cột
không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng
nghiệp trị bình.( ) trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này há trong đó lại
không có lấy một con người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi
đầu của trẫm hay sao?. Sự cao giọng trong câu hỏi vừa trích, còn phản ánh
cái gì khác ngoài nỗi sốt ruột rất thật, niềm tin tưởng nhiệt thành vào “trữ
lượng” hiền tài của đất nước? Đúng là giọng của một con người đầy cá tính
không chịu lùi bước trước những trở ngại trên con đường gây dựng nghiệp
lớn- Nguyễn Huệ. Chắc chắn khi chắp bút viết những câu này, tác giả Chiếu
cầu hiền đang trong trạng thái thăng hoa. Ngô Thì Nhậm nói dùm ước
nguyện của quân vương hay chính nỗi lòng mình? Quả thật khó phân biệt! Có
thể nói ở đây có sự cộng hưởng khát vọng giữa hai con người và giữa hai con

đích dâng điều trần lên vua Tự Đức của Nguyễn Trường Tộ.
+ Về cuộc đời của tác giả: Giáo viên cần gợi
mở và giúp học sinh phân tích được những lớp
thông tin đằng sau những chỉ dẫn hết sức cơ bản
của sách giáo khoa, như: Nguyễn Trường Tộ
uyên thâm Hán học nhưng không lựa chọn con
đường công danh chốn triều đường mà lui về dạy
học; là người theo đạo thiên chúa trong bối cảnh
triều đình phong kiến không mặn mà với các tôn
giáo khác với đạo Nho, theo em những điều trên
có ảnh hưởng như thế nào đối với tư tưởng tác
giả và tâm thế của Nguyễn Trường Tộ khi viết
bản điều trần?
+ Dựa vào ngữ cảnh văn hoá lịch sử và tiểu sử
của tác giả, học sinh sẽ nhận ra sự lựa chọn riêng của nhà văn trong việc lập
thân, lựa chọn tín ngưỡng sẽ mang đến những thuận lợi cho tác giả:
-> Không lựa chọn con đường làm quan để tồn tại, Nguyễn Trường Tộ có lợi
thế không bị gò bó vào những ràng buộc khắt khe của nhãn quan mang tính
giai cấp chi phối, những câu thúc có tính thực dụng của đời sống vật chất,
bổng lộc của chốn quan trường. Đối với thể chế đương thời, ông là người
đứng ngoài nhìn nên dễ thấy những bất cập của nó. Là người theo đạo thiên
chúa, tác giả có điều kiện tiếp thu tự do các luồng tư tưởng phương Tây. Là trí
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm
thức Nho học uyên thâm, nên độ khúc xạ văn hoá và quá trình tiếp biến văn
hoá diễn ra ở nhà văn có tính chọn lọc và giá trị nhân văn sâu sắc.
-> Nhưng là người từ bỏ con đường truyền thống của kẻ sĩ Nho học để đi
theo một hướng riêng, khác với số đông đương thời, Nguyễn Trường Tộ dễ
thường vấp phải cái nhìn dị nghị, dò xét của các bậc thức giả cùng thời. Do đó
tâm thế để soạn thảo bản điều trần này của ông khác hẳn với bậc đại Nho Chu

là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức. Nếu tận dụng cái lẽ
công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức( ).
Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời, như vậy mà không đáng
gọi là đạo đức tinh vi sao?”
- Nguyễn Trường Tộ chỉ ra sự bất cập của thể chế đương thời mà vẫn giữ
được thể diện cho bậc quân tử. Quả là tài biện luận của ông không thua bất cứ
một thuyết gia nào trong lịch sử Đông-Tây.
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm
III. KHÁI QUÁT VẺ ĐẸP CỦA VĂN CHÍNH LUẬN THỜI TRUNG ĐẠI.
Sau khi dạy xong hai văn bản, nhất là sau khi đọc thêm văn bản Xin Lập
khoa luật giáo viên dành cho học sinh từ 5 đến 10 phút để thảo luận theo nội
dung tìm hiểu thứ hai đã chuẩn bị ở nhà.
1. Những văn bản chính luận thời Trung đại đã được học:
Học sinh lập bảng thống kê và trình bày (bằng máy chiếu hắt):
TT Tên tác phẩm Chủ đề Nghệ thuật
1 Hịch tướng sĩ
( Trần Quốc
Tuấn)
- Thể hiện được hào khí Đông
A.
- lòng yêu nước, sự gắn bó trên
dưới một lòng đánh đuổi quân
Mông-Nguyên.
-Dùng nhiều điển
tích.
- Lời văn mạnh mẽ
hùng hồn, có khả
năng động viên
khích lệ cao.

- Nghệ thuật thuyết
phục đặc sắc.
- Thể hiện tình cảm
của nhà văn đối với
sự nghiệp xây dựng
đất nước
4 Xin lập khoa
luật(Trích Tế
cấp bát điều-
Nguyễn Trường
Tộ)
Qua bản điều trần, nguyễn
Trường Tộ bộc lộc:
- Khát vọng canh tân, phát triển
đất nước.
- Thể hiện tinh thần yêu nước
- Văn phong sáng rõ,
chặt chẽ.
- Lối viết khéo léo;
kiến thức uyên bác,
mới mẻ.
2. Một số nét đặc trưng của văn bản chính luận thời Trung đại:
- Văn chính luận thời trung đại những đặc trưng có tính phổ quát của thể
loại như: tính lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, giọng văn hùng hồn; kết
hợp hài hoà giữa vẻ đẹp trí tuệ và vẻ đẹp tình cảm.
- Các tác phẩm này còn mang tính văn-sử-triết bất phân. Tính chất nguyên
hợp này làm nên giá trị độc đáo văn chính luận thời trung đại.
3. Vì vậy khi đọc hiểu văn bản chính luận Trung đại cần chú ý:
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm

2. Qua bài kiểm tra: Sau khi dạy thực nghiệm, đối chứng ở hai lớp 11A7,
11A8, tôi tiến hành cho hai lớp làm bài kiểm tra 15 phút, để đối chiếu:
a. Đề:
Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, những hiểu biết về tác giả giúp em hiểu gì
về văn bản Chiếu cầu hiền và Xin lập khoa luật
b. Đáp án: I. Khái quát về hoàn cảnh xã hội, hiểu biết về tác giả, > ngữ
cảnh:( 1.0đ)
- Những hiểu biết ngoài văn bản
- Giúp người đọc hiểu sâu sắc thêm văn bản; có những lí giải xác đáng về
tác phẩm.
II. Bối cảnh ngoài văn bản, giúp hiểu biết sâu sắc thêm Chiếu cầu hiền và
Xin lập khoa luật:( 8.0đ)
a.Chiếu cầu hiền:( 5,0đ)
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc
Sáng kiến kinh nghiệm
- Về hoàn cảnh lịch sử xã hội: nước ta vừa trải qua thời kì loạn lạc. Xung đột
giữa các tập đoàn phong kiến: Lê-Trịnh với Nguyễn. Người anh hùng áo vải
Nguyễn Huệ với chiến công dẹp thù trong giặc ngoài đưa giang sơn về một
mới.(3,0đ)
+ Bài Chiếu cho thấy Nguyễn Huệ cũng là người hiểu thư-lễ-nghĩa, có tầm
nhìn xa trông rộng, hiểu rõ thực trạng đất nước. Và xoá đi định kiến của các sĩ
phu Bắc Hà.
+ Lời văn là của Ngô Thì Nhậm, nhưng được viết bằng tư tưởng của vua
Quang Trung: một mặt giọng văn phải thể hiện quyền uy của hoàng đế, mặt
khác phải thật mềm mỏng chân thành, như vậy mới có sức thuyết phục. dẫn ra
các điển tích, thi liệu cho thấy sự hiểu biết sách vở thánh hiền, dù Nguyễn
Huệ xuất thân bình dân.
- về tác giả Ngô Thì Nhậm: Vốn là cựu thần nhà Lê, nay được vua Quang
Trung giao cho trọng trách lớn, ông đã bước qua mặc cảm để ra sức giúp đỡ
tân triều và hoàng đế. được nhà vua chọn làm người chấp bút soạn Chiếu cầu

I. KẾT LUẬN:
- Tích hợp là một trong những yêu cầu đổi mới dạy-học Văn, theo yêu
cầu của SGK mới từ năm 2006 đến nay. Vận dụng tích hợp linh hoạt trong hệ
thống phương pháp dạy học nói chung, đã giúp cho giáo viên khai thác sâu
hơn vào bài học, học sinh được học nhiều hơn, nhất là đối với những tác
phẩm chính luận Trung đại có tính nguyên hợp: văn-sử-triết bất phân như thế
này.
- Giới hạn của bài viết là trình bày cách vận dụng phương pháp tích hợp
trong giảng dạy chùm văn bản nghị luận ở phần cuối văn học Trung đại, ở
chương trình Ngữ Văn THPT, nên tôi không đi không đi vào cụ thể từng công
đoạn của các tiết dạy này.
Sau ba tiết đọc-hiểu văn bản Chiếu cầu hiền và Xin lập khoa luật, học
sinh sẽ học bài Ngữ cảnh của phân môn tiếng Việt, cho nên một lần nữa giáo
viên và học sinh tiếp tục vận dụng tích hợp một cách có hiệu quả để dạy và
học.
II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT:
1. Đối với nhà trường:
Tạo điều kiện về tổ chức, về thời gian và động viên khuyến khích những giờ
dạy của giáo viên có đầu tư nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy.
2. Đối với sở Giáo dục và Đào tạo:
Những sáng kiến kinh nghiệm có tính thực tiễn cao, nên tập trung giáo viên
để phổ biến, học tập, tiếp thu, trong các chương trình bồi dưỡng, nhằm nâng
cao năng lực nghiệp vụ. Đó là một trong những yêu cầu của dạy học, vì việc
học để cập nhật thông tin tri thức, là việc làm suốt đời của người giáo viên.
III. LỜI KẾT:
Trên đây mới là những định hướng tích hợp cần thiết của bài dạy theo đúng
yêu cầu của bộ môn và tinh thần đổi mới phương pháp dạy học Văn hiện nay.
Những gì bản thân tôi đã làm, có thể chưa toàn thiện, có thể chưa phù hợp với
một số đối tượng học sinh ở những vùng miền khác nhau. Rất mong được sự
đóng góp của các đồng nghiệp gần xa!
Vĩnh Lộc, ngày 14 tháng 5 năm 2011
Chủ tịch hội đồng
Nguyễn Văn Tân
Giáo viên: Hà Thị Ánh Hồng - Trường THPT Vĩnh Lộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status