Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN VÀ
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP ĐỂ DẠY VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
LĨNH VỰC ÁP DỤNG: GIÁO VIÊN NGỮ VĂN VÀ HỌC SINH LỚP 8
Họ và tên:
Lê Hà Giang (nữ)
Sinh ngày: 10 tháng 7 năm 1970
Trình độ chuyên môn:
Ngữ văn
Chức vụ: GV, Phó hiệu trưởng trường THCS Thành Nhân
Điện thoại: 0915192639
Đồng tác giả:
Nguyễn Thị Ngân Hà (Nữ)
Sinh ngày:
11 tháng 01 năm 1977
Trình độ chuyên môn: Văn – Sử
Chức vụ: Giáo viên trường THCS Thành Nhân
Điện thoại: 0944439502
Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trường THCS Thành Nhân
Địa chỉ: Khu 5 – Thị trấn Ninh Giang – Ninh Giang – Hải Dương
Điện thoại:
03203766419
Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
Từ năm học 2012 – 2013 đến nay.
HỌ TÊN TÁC GIẢ
trước. Sự chênh lệch thời gian kéo theo sự thiếu hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác
nhau, nên khi tìm hiểu một tác phẩm văn học các em gặp phải không ít những
khó khăn.
1.3. Trong chương trình Ngữ văn 8 học kỳ II, phần học về các văn bản
nghị luận trung đại đặt ra nhiều trăn trở đối với giáo viên khi soạn giảng. Đồng
thời, khi tìm hiểu để soạn bài và việc học bài của học sinh cũng là một trở ngại
lớn.
Vậy, làm thế nào để những giờ học văn bản này không trở nên nhàm chán,
giáo điều đơn điệu hoặc bị sa vào kho kiến thức khổng lồ nhưng xa lạ với học
sinh hiện nay, là điều mà chúng tôi quan tâm, trăn trở?
Đó là lý do chúng tôi nảy sinh sáng kiến vận dụng kiến thức liên môn để
dạy các văn bản nghị luận trung đại.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
2.1.Điều kiện áp dụng sáng kiến
- Giáo viên: Tham khảo tài liệu, nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và sách giáo
viên, tham khảo thêm các tài liệu về các bộ môn khác hỗ trợ cho kiến thức Ngữ
văn.
- Học sinh:Vận dụng kiến thức của các bộ môn Lịch sử, Địa lý, GDCD…
để soạn bài và học tập theo hai hình thức (tự học và học trên lớp).
- Chương trình: Tổ chức các hoạt động dạy – học theo phân phối chương
trình.
Năm học 2014 - 2015
2
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
- Cơ sở vật chất: Các phương tiện dạy học hiện đại (máy chiếu, máy
tính…), mạng Internet…
thác được tối đa hiệu quả của việc học bài bằng sơ đồ tư duy để học sinh nhớ
kiến thức lâu hơn, tính vận dụng cao hơn.
3.2.Khả năng áp dụng của SK
- Sáng kiến được áp dụng cho giáo viên khi soạn bài, hướng dẫn học sinh
tiếp nhận kiến thức trên lớp, hướng dẫn học sinh làm bài ở nhà. Bao gồm các
tiết sau:
+ Tiết 96: Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn)
Năm học 2014 - 2015
3
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
+ Tiết 99,100: Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)
+ Tiết 103: Nước Đại Việt ta (Trích “Bình Ngô đại cáo”- Nguyễn Trãi)
+ Tiết 105: Ôn tập về luận điểm
+ Tiết 106,107: Viết đoạn văn trình bày luận điểm.
+ Tiết 108: Bàn luận về phép học (Nguyễn Thiếp)\
Trong đó: các tiết học văn bản vận dụng kiến thức lập luận trong văn nghị
luận. Các tiết Tập làm văn sử dụng văn bản Văn học làm ví dụ để học tập.
3.3. Lợi ích thiết thực của sáng kiến
- Sáng kiến giúp giáo viên và học sinh dạy và học có hiệu quả, đặc biệt là
việc vận dụng vào thực tế đời sống và phát triển năng lực của học sinh.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Sáng kiến đã được áp dụng trong 4 năm học (từ năm 2011 đến nay) với hai
lần thực hiện. Qua việc áp dụng thử nghiệm sáng kiến này, tôi nhận thấy học sinh
đã có định hướng rõ rệt trong việc học văn bản nghị luận trung đại với 4 thể văn
nghị luận cổ. Các em có hứng thú trong học bài, làm bài và kết quả các bài kiểm
Giảng văn cho thấy hoạt động chủ yếu của học sinh là nghe và ghi chép. Đây là
một cách dạy máy móc, áp đặt. Thậm chí nhiều giờ giảng văn thầy không giảng
mà sa vào đọc cho học sinh chép ( gọi là đọc - chép). Ngược lại, tên gọi đọc hiểu văn bản cho thấy sự đổi mới rất rõ. Trong giờ học, người học sinh phải đọc
kĩ văn bản, phải suy ngẫm và tự tìm hiểu các câu hỏi được nêu, chỉ thông qua sự
gợi ý, hướng dẫn của giáo viên. Từ đó học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức.
Dạy đọc - hiểu văn bản cũng là biểu hiện cụ thể của việc dạy tích hợp.
2.2. Dạy học theo phương pháp tích hợp, liên môn thực chất là dạy một
vấn đề mà học sinh kết hợp biết được và hiểu được nhiều vấn đề khác. Tích hợp,
liên môn còn giúp học sinh có thể vận dụng tốt trong việc tạo lập văn bản, một
yêu cầu cơ bản của việc dạy - học văn. Trong quá trình giảng dạy,chúng tôi nhận
thấy, để vận dụng tốt phương pháp dạy học tích hợp thì cần phải sử dụng kiến
thức liên môn một cách hợp lý.
2.3. Trong toàn bộ chương trình Ngữ văn THCS, văn học trung đại có một
vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam. Gần một
ngàn năm Bắc thuộc, dù chịu nhiều ảnh hưởng về chữ viết,văn học, triết lý,
phong tục tập quán của phương bắc, nhưng dân tộc Việt nam, với ý thức quốc gia
và tinh thần tự chủ cao độ đã không mệt mỏi đấu tranh để giữ gìn bản sắc dân tộc
và truyền thống cha ông. Các tác phẩm nghị luận trung đại được đưa vào giảng
dạy trong Ngữ văn 8 phần nào đã phản ánh được điều đó. Tuy nhiên, việc giảng
dạy các văn bản này sao cho học sinh dễ hiểu và có thể cảm nhận được lại rất khó
khăn đối với giáo viên. Và, làm sao để việc học tập của các em được vận dụng
thiết thực và đời sống của chính các em cũng không dễ dàng.
2.4. Trong phạm đề tài khoa học nhỏ này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến việc
dạy học theo hướng liên môn,tích hợp trong dạy các văn bản nghị luận trung đại
Việt Nam với 4 thể loại chính: hịch, chiếu, cáo, tấu.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Khảo sát thực tế học văn bản nghị luận trung đại của học sinh.
Năm học 2014 - 2015
5
loại trên?
3) Việc nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La có ý nghĩa như thế nào?
4) Em hiểu thế nào về quan điểm “độc lập và chủ quyền” trong văn bản
“Nước Đại Việt ta” trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước ta?
- Mục đích của việc khảo sát:
+ Phân biệt được đặc điểm cơ bản của các thể loại nghị luận trung đại Việt
Nam .
+ Nắm được và trình bày ngắn gọn về tác giả và hoàn cảnh ra đời của một
văn bản nghị luận được học.
+ Nói được ý nghĩa to lớn và lâu dài của việc dời đô từ Hoa Lư về Đại
La,có đối chiếu với lịch sử của đất nước từ thế kỷ X đến nay để thấy được sự
sáng suốt đúng đắn của Lý Thái Tổ từ thế kỷ X.
+ Hiểu được quan điểm độc lập và chủ quyền của dân tộc là không kẻ thù
nào được phép xâm phạm. Liên hệ với thực tế đất nước để thấy được sự hi sinh to
lớn cho toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam hôm nay....
- Kết quả chung:
Năm học 2014 - 2015
6
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
+ Học sinh nắm được những thông tin cơ bản về tác giả nhưng hoàn cảnh
ra đời và mục đích chính của văn bản thì trình bày còn rất lộn xộn. Nhiều em còn
nhầm lẫn thể loại của văn bản.
+ Phần hiểu ý nghĩa văn bản của học sinh còn rất hạn chế. Ở câu 3 và 4
nhiều em không liên hệ được với hiện tại.
Kết quả qua thống kê số liệu:
Đạt yêu cầu
20
16
18
44,5
30,4
40
Nhìn vào bảng thống kê ta nhận thấy số học sinh chưa am hiểu nội dung
bài học,ít hiểu biết về tác giả cũng như kiến thức mở rộng hoặc liên hệ thực tế. .
Học sinh còn nhầm lẫn kiến thức của các thể loại nghị luận cổ bởi đặc điểm câu
văn biền ngẫu với nhiều vế câu đăng đối nhịp nhàng. Điều này có thể lí giải vì
sao có học sinh đi thi đại học lại viết Bình Ngô đại cáo là một bài thơ trữ tình bất
hủ của Nguyễn Trãi.
2.2. Phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng
Vì sao lại có những sự nhầm lẫn tệ hại như vậy? Chúng tôi đã tìm hiểu và
đi đến kết luận về những nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, đây là thể loại mới rất lạ với học sinh lớp 8 và trong chương
trình không có kiểu bài giới thiệu tiến trình văn học ( văn học sử) nên các em khó
hình dung được không khí lịch sử của thời đại. Mặt khác, việc giảng dạy các văn
bản này đều qua bản dịch. Đây là một khó khăn không nhỏ khi tích hợp với Tiếng
Việt trong việc hiểu và giải nghĩa các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố. Điểm
nổi bật trong tác phẩm này là sự thuyết phục người đọc bằng lí trí và tình cảm.
Tuy là một văn bản nghị luận chính trị song lại có nhiều hình ảnh rất gợi cảm với
thể văn biền ngẫu , uyển chuyển mạnh mẽ , giàu nhạc điệu nên phong cách dạy
cũng khác với thể loại thơ trữ tình hoặc tự sự .
- Thứ hai, tác giả của các tác phẩm được học đều là những nhân vật lịch sử
nổi tiếng trong quá khứ. Nhưng học sinh thiếu sự am hiểu về các nhân vật lịch sử.
Cho nên kiến thức lịch sử dù đã được học ở bộ môn Lịch sử nhưng đều rơi rụng
3.1.1.1 Nắm vững thể loại và các đặc trưng của thể loại:
* Về thể loại
- Chiếu: Là thể loại văn cổ, do vua ( chúa hay thủ lĩnh) dùng để ban bố
mệnh lệnh
- Hịch: Là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh
hay thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ vũ động viên, thuyết phục hoặc kêu gọi
đấu tranh chống thù trong giặc ngoài.
- Cáo: Là một thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa, hoặc thủ lĩnh
dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả của một sự nghiệp để mọi
người cùng biết.
- Tấu: là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình
bày sự việc, ý kiến, đề nghị.
* Về đặc trưng
- Thuyết phục bằng lí trí và tình cảm: nghệ thuật nghị luận chặt chẽ, sắc
bén, từ ngữ và hình ảnh cô đọng, gợi ấn tượng sâu sắc.
Ví dụ: Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước
mắt đầm đìa…( Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn)
- Dùng lối văn biền ngẫu biến hoá linh hoạt, nhịp nhàng. Khi thì là văn
xuôi, khi là văn vần.
- Văn - sử - triết bất phân
- In đậm thế giới quan con người trung đại : Tư tưởng mệnh trời , thần,
chủ tâm lí sùng cổ, sùng bái tổ tiên…
Năm học 2014 - 2015
8
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
3.1.1.2 Phân biệt sự khác nhau của 4 thể loại nghị luận:
cần thiết, để tăng sự hứng thú cho các em dễ hình dung và nắm bắt kiến thức,
giáo viên có thể kể ngắn gọn.
3.1.2. Chuẩn bị về phương pháp:
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần chuẩn bị tốt về việc lựa chọn phương pháp
thích hợp. Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp cần được tận dụng triệt để.
Những hướng tích hợp nên tận dụng thuộc một số lĩnh vực sau đây:
3.1.2.1 Tích hợp ngang: Là tích hợp với các đơn vị kiến thức cùng môn học
như Tiếng Việt và Tập làm văn.
- Tích hợp với Tiếng Việt: Giáo viên luôn xác định dùng kiến thức của
Tiếng Việt là để giúp học sinh cảm nhận nội dung văn bản một cách sâu sắc
.Nhất thiết không được biến một phần bài học thành giờ học tiếng Việt. Cũng
không nên quá cứng nhắc trong tích hợp với tiếng Việt, khi những đơn vị kiến
Năm học 2014 - 2015
9
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
thức tích hợp không mấy liên quan đến bài học. Giáo viên chỉ nên tập trung vào
những đơn vị kiến thức Tiếng Việt có tác dụng trực tiếp đến sự cảm thụ của học
sinh.
3.1.2.2. Tích hợp dọc: Là tích hợp với các kiến thức thuộc các môn học
khác hoặc kiến thức đời sống xã hội…
Như trên đã trình bày, các văn bản nghị luận này đều có chung đặc trưng là
tính văn học sử rất rõ ràng. Vì thế, cần sử dụng kiến thức lịch sử để tích hợp. Tất
cả các bài dạy đều liên quan đến những sự kiện lịch sử nổi tiếng của đất nước.
Giáo viên cần tìm hiểu, lựa chọn kiến thức sẽ đưa vào tích hợp để tránh được
việc giờ học Ngữ văn biến thành một bài giảng lịch sử thuần tuý.
3.1.3.3. Sử dụng hệ thống câu hỏi
10
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
sống hiện đại,từ đó các em sẽ có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về giá trị của mỗi tác
phẩm.
* Bài Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn)
- Tìm hiểu về vị trí địa lý cũng như những điểm thuận lợi của thành Đại La
và cố đô Hoa Lư. (kiến thức môn Địa lý)
- Tìm hiểu lý do vì sao nhà Đinh và Tiền Lê lại chọn đóng đô ở Hoa Lư.
Tại sao đến thời Lý thì Lý Công Uẩn lại muốn di chuyển. (Kiến thức môn Lịch
Sử)
- Giá trị lịch sử, kinh tế và văn hóa ngày nay của quần thể di tích Tràng An
(Hoa Lư) và Hà Nội (thành Đại La xưa).
- Ý nghĩa giáo dục về việc bảo tồn và phát triển các di tích lịch sử, văn
hóa...
* Bài Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)
- Hoàn cảnh lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông,
trong đó chú trọng đến hoàn cảnh trước cuộc kháng chiến lần thứ 2 (1285) và đức
độ cao cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. (Kiến thức môn Lịch Sử)
- Những di tích lịch sử của tỉnh Hải Dương và các lễ hội tưởng nhớ công
lao của Trần Quốc Tuấn. (Kiến thức môn Lịch Sử)
- Vị trí địa lý của Huyện Chí Linh (đất phong vương của Trần Quốc Tuấn
năm xưa).
- Một vài sự kiện lịch sử hiện đại thể hiện hào khí Đông A (Kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ....)
- Tình yêu Tổ quốc khi đất nước bị đe dọa về chủ quyền ( sự kiện giàn
khoan HD 981...)
* Bài Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Vớ d:
+ Trong bi Hch tng s cn chỳ trng trong vic lm sỏng t giỏ tr ca
cỏc cõu hi tu t: õy l nhng cõu hi tu t cú kh nng khi gi suy ngh, tỡnh
cm ca ngi nghe v thy c thỏi nghiờm khc trong phờ phỏn, bao dung
trong ng viờn, khớch l tng s ca ngi ch tng giu õn tỡnh.
+ Trong Bàn luận về phép học cần chú ý khai thác các chú thích để hiểu rõ
t tởng của tác giả trong việc học, đạo học .( tam cơng, ngũ thờng, đạo)
- Tích hợp với Tập làm văn: Việc ôn tập lại luận điểm và luận cứ trong văn
nghị luận chính là mục tiêu cơ bản trong tích hợp của các văn bản này. Bởi lẽ, cả
4 văn bản đều sử dụng nghệ thuật nghị luận rất sắc sảo. Ngay từ phần tìm hiểu
cấu trúc của văn bản, giáo viên đã hớng dẫn học sinh bám sát bố cục và hệ thống
luận điểm trong văn nghị luận. Bài dạy cần đợc triển khai trên cơ sở của một
văn bản nghị luận: từ luận điểm đến tìm các luận cứ và xác định phơng pháp
lập luận.
Ví dụ: Bố cục và hệ thống luận điểm trong Chiếu dời đô
Vấn đề chính: ý tởng dời đô ( vừa là mệnh lệnh thể hiện ý chí của nhà vua,
vừa nêu ý kiến để thảo luận)
- Luận điểm 1: Cần dời đô khỏi Hoa L vì không còn phù hợp ( phân tích
những lí do dẫn đến việc dời đô)
+ Lí lẽ 1: Nhìn vào gơng sáng đời xa ( đã nhiều lần diễn ra việc dời đô)
Dẫn chứng: Nhà Thơng và nhà Chu ở Trung Quốc dời đô là đúng nên đất nớc phát triển lâu bền)
+ Lĩ lẽ 2: Thực tế hai triều Đinh và Lê ( định đô mãi ở một nơi)
Dẫn chứng: Đất nớc khó phát triển, các triều đại đều ngắn ngủi)
- Luận điểm 2: Đại la là mảnh đất lí tởng trong việc chọn làm kinh đô (
trình bày ý chí định đô ở một vùng đất mới)
+
Lí lẽ 1: Đại la có nhiều lợi thế để phát triển đất nớc ( chính trị, kinh tế, vị
trí địa lý)
Dẫn chứng: ( về vị trí thuận lợi, về kinh tế phát triển, về chính trị ổn
định)
ngày nay. Tìm thông tin về việc di tích Tràng An được công nhận là Di sản văn
hóa và thiên nhiên thế giới. Từ đó khơi dậy niềm kiêu hãnh và lòng tự hào dân
tộc. Mặt khác, tìm thông tin hoặc ra đề bài cho học sinh về nhà tìm hiểu về quá
trình phát triển cũng như những thành tựu của nền văn hóa Thăng Long để thấy
được cái tâm và cái tầm của vua Lí Thái Tổ.
- Dạy bài Hịch tướng sĩ thì liên hệ với tín ngưỡng thờ cúng Trần Hưng Đạo
ở khắp nơi trên đất nước ta để học sinh thấy được đức độ cao cả của ngài. Từ đó
học sinh có ý thức quan sát,tìm hiểu và làm theo…..
- Ở mỗi bài dạy giáo viên cho học sinh liên hệ về mặt thể loại để thấy rằng
4 thể văn này ngay nay chúng ta vẫn sử dụng, nhưng dưới những hình thức khác
nhau.
+ Chiếu: ngày nay dùng hình thức Phát ngôn, hoặc đưa ra thảo luận góp ý
rộng rãi trong cả nước (ví dụ như thảo luận về Hiến pháp, các dự luật….)
+ Hịch: ngày nay tồn tại dưới hình thức Lời kêu gọi, Lễ phát động, các
phong trào hưởng ứng…
+ Cáo: ngày nay là các văn bản Thông cáo của nhà nước, các Tuyên bố
chung….
+Tấu: Những đề án, những dự án đề xuất lên cấp trên để cùng thảo luận,
bàn bạc và quyết sách….
3.2.3. Sử dụng thêm các kiểu câu hỏi
3.2.3.1. Câu hỏi giải thích:
Loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh sau khi đã hiểu thấu đáo nội dung thì cần
phải biết chọn lọc chi tiết để giải quyết vấn đề được giáo viên đưa ra. Học sinh
phải có những hoạt động tư duy sau để giải quyết như: định hướng sự việc, lựa
chọn chi tiết, nắm được bản chất của vấn đề trong sự so sánh đối chiếu với toàn
bộ nội dung đã học.
Ví dụ: Bài Nước Đại Việt ta ( Nguyễn Trãi - Trích Bình Ngô đại cáo)
Khi tìm hiểu tư tưởng khẳng định nền văn hiến Đại Việt đã được phát biểu
một cách hoàn chỉnh so với Nam Quốc sơn hà ( Lý Thường Kiệt), giáo viên có
thể đặt câu hỏi:
Ví dụ: Bài Bàn luận về phép học ( Nguyễn Thiếp)
Khi bàn về mục đích của việc học là học luân thường đạo lý để làm người (
tức học tam cương và ngũ thường) giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Theo em, quan niệm về mục đích của đạo học như thế có điểm nào tích
cực cần được việc học ngày hôm nay phát huy? Có những điểm nào cần được bổ
sung?
( Học sinh phải tìm tòi để đưa ra quan điểm học tập của mình dựa trên sự
tiếp thu người xưa và phát triển theo tư tưởng hiện đại hôm nay.
+ Điểm tích cực của mục đích học tập trước đây là: coi trong mục tiêu đạo
đức của việc học. Khẩu hiệu Tiên học lễ hậu học văn trong nhà trường hôm nay
là sự phát huy đạo học ngày trước.
+ Điểm cần bổ sung: Mục đích học không chỉ là rèn đạo đức, mà còn rèn
năng lực trí tuệ để con ngời sau này có sức mạnh xây dựng, cải tạo xã hội trên
mọi lĩnh vực: đạo đức, văn hoá, kinh tế, khoa học kĩ thuật…)
3.2.4.3. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy - học:
Một trong những biện pháp đổi mới phương pháp dạy - học văn là đổi mới
việc sử dụng đồ dùng dạy học để học sinh gần gũi hơn với tác phẩm, để những
kiến thức văn học bớt phần trừu tượng. Có như vậy mới giúp được các em cảm
thụ tác phẩm tốt hơn. Đồ dùng trực quan để văn bản nghị luận cổ hầu như không
có ( chỉ có 3 bức tranh, ảnh trong sgk khoa: chùa một cột, tượng Trần Hưng
Năm học 2014 - 2015
14
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
Đạo, tranh minh hoạ Nguyễn Trãi viết cáo). Ngoài những tranh, ảnh này chúng
tôi đã sưu tầm trên mạng Internet một số các tư liệu là tranh ảnh cả tĩnh và động
để minh hoạ. Phần này cần tận dụng tốt đa ưu thế của việc sử dụng máy chiếu đa
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
* Dạy bài “Hịch tướng sĩ”
Tín ngưỡng thờ đức thánh Trần trên mọi miền quê.
* Dạy bài “Nước Đại Việt ta”
Năm học 2014 - 2015
17
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
Chủ quyền dân tộc qua các thời kỳ (Thế kỷ X – XV – XX)
Sự kiện giàn khoan HD 981 (tháng 5 – 2015)
Năm học 2014 - 2015
18
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
3.2.4.4. Dùng sơ đồ trong phân tích và tổng kết bài học:
Do đặc điểm các văn bản đều thuộc loại văn nghị luận nên trong dạy học
giáo viên luôn bám sát hệ thống luận điểm, luận cứ và nghệ thuật lập luận đầy
sức thuyết phục. Không có cách gợi mở và kết luận nào tốt hơn việc lập sơ đồ để
3…
Dẫn
chứng
1….
Dẫn
chứng
2….
Dẫn
chứng
…
Dẫn
chứng
…
Dẫn
chứng
…
KẾT KUẬN LẠI VẪN ĐỀ
Năm học 2014 - 2015
19
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 8
Đất nước không
phát triển, tồn tại
ngắn ngủi
Những lợi thế của Đại La
Về lịch sử
Cao Vương
từng định
Về địa lý
Thuận lợi
nhiều mặt
Về tiềm năng
Kính tế, văn
hoá phát triển
đô
Ý CHÍ CỦA NHÀ VUA:
- Quyết định dời đô.
- Hỏi ý kiến bề tôi.
* Hịch tướng sĩ: Bí quyết nghị luận để kêu gọi động viên các tướng sĩ
trong bài hịch là dùng nghệ thuật khích tướng.
Năm học 2014 - 2015
để yên dân
Trừ bạo
Giặc Minh xâm lược
CHÂN LÍ VỀ SỰ TỒN TẠI ĐỘC LẬP CÓ
CHỦ QUYỀN CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT
Văn hiến
lâu đời
Lãnh thổ
riêng
Phong
tục riêng
Lịch sử
riêng
Chế độ, chủ
quyền riêng
SỨC MẠNH CỦA NHÂN NGHĨA SỨC MẠNH
CỦA ĐỘC LẬP DÂN TỘC
- Sơ đồ lập luận trong văn bản Bàn luận về phép học
Năm học 2014 - 2015
Sau khi áp dụng kinh nghiệm trên vào thực tế giảng dạy 3 năm liền (2011–
2012 và 2012 – 2013; 2013 - 2014), chúng tôi thu được kết quả tương đối tốt.
Vẫn với đề bài như trên, chúng tôi tiếp tục khảo sat 3 lớp 8 của trường
trong năm học 2013 – 2014. Kết quả như sau:
Lớp
8A
8B
8C
Số HS
35
42
43
Đạt yêu cầu
%
SL
32
91.4
40
95.2
43
100
Không đạt yêu cầu
SL
%
3
8.6
- Nhận được sự nhất trí về quan điểm dạy học: lấy học sinh làm trung tâm,
dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, giảm bớt những kiến
thức sách vở khô cứng và xa lạ với các em.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sáng kiến đã được áp dụng trong 4 năm học (từ năm 2011 đến nay) với hai
lần thực hiện. Qua việc áp dụng thử nghiệm sáng kiến này, tôi nhận thấy học sinh
đã có định hướng rõ rệt trong việc học văn bản nghị luận trung đại với 4 thể văn
nghị luận cổ. Các em có hứng thú trong học bài, làm bài và kết quả các bài kiểm
tra trên lớp cũng như bài kiểm tra học kì đều đạt kết quả khá trở lên. Kĩ năng ứng
xử và lối sống của học sinh cũng thay đổi nhiều nhờ việc tích lũy kiến thức xã hội
và vận dụng vào chính bản thân mình.
- Với giáo viên: sáng kiến đã tháo gỡ cho giáo viên một số khó khăn cơ bản
khi dạy kiểu bài này cho đối tượng học sinh THCS. Việc soạn giảng có những
căn cứ và cơ sở nhất định nên thuận tiện trong việc cung cấp kiến thức và cuốn
hút học sinh say mê học tập.
2. Khuyễn nghị
2.1 Cấp cơ sở
- Giáo viên cần nhiệt tình, tận tụy với học sinh
- Nghiêm túc trong việc học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ
sư phạm.
- Tạo hứng thú cho học sinh trong học tập để giúp các em tạo lập văn bản
nghị luận xã hội mang hơi thở của cuộc sống.
2.1. Đối với người quản lý
- Đội ngũ quản lý phải là những người đi đầu trong việc đổi mới phương
pháp dạy học. Từ đó mới có thể tổ chức cho giáo viên học tập, tích cực đổi mới
trong việc giảng dạy.
- Chuẩn bị tốt mọi điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học.
Năm học 2014 - 2015
4. Hệ thống câu hỏi đọc – hiểu Ngữ văn 8
Nhà xuất bản giáo dục 2005
5. Tài liệu bòi dường thường xuyên chu kì III
( 2004 – 2007)
Nhà xuất bản Giáo dục 2005
6. Kiến thức cơ bản Ngữ văn 8
Nhà xuất bản Giáo dục 2006
7. Thơ văn Lý Trần
Nhà xuất bản Văn học
8. Thơ văn Nguyễn Trãi
Nhà xuất bản Văn học
9. Các cuốn sách cổ Trung Hoa
Nhà xuất bản Thanh niên
10. “Đổi mới phương pháp dạy học văn
và Tiếng Việt ở trường THCS”
Năm học 2014 - 2015
4
4
Cơ sở lý luận
5
5
Các giải pháp cụ thể
8
6
Phương pháp cũ đã thực hiện ở các năm trước
8
7
Tính mới,tính sáng tạo của sáng kiến
10
8
Xác định mục tiêu chính của bài dạy