skkn PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11

Người thực hiện: NGÔ XUÂN SƠN

Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:

- Phương pháp dạy học bộ môn: NGỮ VĂN

- Lĩnh vực khác: ................................................. 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm
 Phim ảnh
 Hiện vật khác

Năm học: 2011- 2012
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

1


SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

pháp dạy học Ngữ Văn sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bộ
môn, cho nên mối quan tâm của giáo viên Ngữ Văn nâng cao hiệu quả giáo dục
thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh.
Trước đây, văn bản nghị luận ít được đưa vào chương trình phổ thông do
nhiều người cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến những tư tưởng trừu tượng,
diễn đạt khô khan nên không gây được sự hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh.
Hiện nay, văn nghị luận đã được đánh giá đúng với vai trò, ý nghĩa đích thực
của nó. Văn nghị luận không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất
nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất
gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay.
Xét theo tiêu chí nội dung luận bàn, người ta phân văn nghị luận thành hai
thể:
- Văn chính luận (luận bàn về các vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức...) như
Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi, Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Về luân lý
xã hội ở nước ta (trích “Đạo đức và luân lí Đông Tây”) – Phan Châu Trinh, Tiếng
mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh…
- Văn phê bình văn học (luận bàn các vấn đề văn học nghệ thuật) như Một
thời đại trong thi ca – Hoài Thanh, Mấy ý nghĩ về thơ – Nguyễn Đình Thi.
Xét theo tiêu chí hình thức thể loại, người ta chia ra: văn nghị luận thời trung
đại (chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần, ...) và văn nghị luận hiện đại (tuyên ngôn,
lời kêu gọi, phê bình, xã luận....)
Mặc dù khác nhau về thời điểm ra đời, về thể loại, về nội dung luận bàn
nhưng các văn bản nghị luận đều có điểm chung là bộc lộ tính trí tuệ uyên bác, tình
cảm sâu sắc của người viết.
Sau đây là bảng hệ thống các văn bản nghị luận phần văn học Việt Nam trong
chương trình Ngữ văn (ban cơ bản) ở trường THPT:
STT

Văn bản



10

Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

3


kí đề danh tiến sĩ khoa
Nhâm Tuất, niên hiệu
Đại Bảo thứ ba”)
04

Hưng Đạo Đại Vương Ngô Sĩ Liên
Trần Quốc Tuấn (trích
“Đại Việt sử kí toàn
thư”)

Sử kí trung
đại

10

05

Thái sư Trần Thủ Độ Ngô Sĩ liên
(trích “Đại Việt sử kí
toàn thư”)

Sử kí trung


11

09

Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải Nguyễn An Ninh
phóng các dân tộc bị áp
bức

Văn
nghị
luận hiện đại

11

10

Một thời đại trong thi ca Hoài Thanh
(trích)

Văn
nghị
luận hiện đại

11

11

Tuyên ngôn Độc lập


dân tộc (trích “Đến hiện
đại từ truyền thống”)

Văn
nghị
luận hiện đại

12

Ngô Thì Nhậm

Hồ Chí Minh

Các văn bản nghị luận thường khô khan, đặc biệt các tác phẩm nghị luận
trung đại ra đời trong bối cảnh văn hoá, xã hội phong kiến nên chịu sự chi phối của
hệ tư tưởng chính thống, quan niệm văn chương của thời đại nên học sinh tiếp
nhận tác phẩm rất khó khăn. Khi giảng dạy, giáo viên cần kết hợp nhiều phương
pháp dạy học tích cực để học sinh trở thành chủ thể tiếp nhận trong việc tìm hiểu
cái hay, cái đẹp của tác phẩm về nội dung, quan điểm tư tưởng và hình thức nghệ
thuật.
Trong phạm vi của đề tài, tôi xin trao đổi về “Phương pháp giảng dạy văn
bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ Văn 11”.
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

4


II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận:
Theo lý luận dạy học cộng tác của G.S Nguyễn Ngọc Quang, quá trình dạy

2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
Vẻ đẹp của văn nghị luận được bộc lộ ở sự sâu sắc của tư tưởng, sự mạch lạc
trong lập luận, sự chặt chẽ trong lí lẽ, sự xác thực trong chứng cứ, sự chính xác,
hàm súc trong ngôn từ, giọng điệu thuyết phục. Dạy văn nghị luận giáo viên cần
nắm vững đặc trưng của từng thể loại, khai thác những thông tin ngoài văn bản,
liên văn bản như tiểu sử tác giả, ngữ cảnh sản sinh văn bản, so sánh các văn bản
cùng thể loại, cùng đề tài để soi chiếu vào nội dung tác phẩm, góp phần giải mã
các lớp ý nghĩa tiềm ẩn trong văn bản.
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

5


Sau đó phân tích văn bản dựa trên yêu cầu chung của văn nghị luận (thao tác
quan trọng nhất):
Về nội dung: phải nêu rõ vấn đề đang được bàn tới; phân tích mặt đúng, mặt
sai, mặt lợi, mặt hại; chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của
người viết và quan điểm, thái độ tư tưởng, tình cảm của tác giả.
Về hình thức: hệ thống luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, lập luận sắc bén,
lời văn sinh động, thuyết phục
Cuối cùng đánh giá được những đóng góp cơ bản của tác phẩm về nội dung tư
tưởng cũng như nghệ thuật biểu hiện.
2.1. Tìm hiểu những điều ngoài văn bản có liên quan đến tác phẩm:
Nếu người tiếp nhận không hiểu ngữ cảnh sẽ không cắt nghĩa được mạch
ngầm văn bản, đặc biệt là các văn bản trung đại thường có tính chất giáo huấn,
ngôn chí sâu sắc (vì có sự gián cách về thời gian và môi trường văn hóa tiếp nhận).
Soi chiếu vấn đề từ ngoài văn bản kết hợp với góc nhìn bên trong văn bản sẽ mang
lại một hiệu ứng tổng hợp, toàn diện đối với thông điệp tác giả muốn hướng tới
người tiếp nhận.
2.1.1.Văn bản “Chiếu cầu hiền” – Ngô Thì Nhậm.

anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài Quang Trung - Nguyễn Huệ. Từ 17881792, vua Quang Trung đã ban 4 chiếu quan trọng: “Chiếu cầu hiền, Chiếu dụ các
quan văn võ triều Lê, Chiếu lập học và Chiếu mở khoa thi”. Cả 4 chiếu này đều
hướng đến lựa chọn, bồi dưỡng người tài làm nền tảng của triều đại.
- Không phải ngẫu nhiên mà Quang Trung có thể tập hợp quanh mình những
trí thức tài năng, thành tâm theo đuổi sự nghiệp “giúp dân dựng nước”. Chính sách
cầu hiền của Quang Trung tranh thủ được sự đóng góp của nhiều sĩ phu yêu nước
có tư tưởng tích cực, tiến bộ trong xã hội đương thời. Thái độ cầu hiền chân thành,
mềm mỏng của Quang Trung thể hiện rõ nhất là đối với La Sơn Phu Tử Nguyễn
Thiếp - thiếu một tấm lòng chân thành, thiếu một suy nghĩ sâu xa, có lẽ Quang
Trung đã không thể đưa Nguyễn Thiếp trở lại với đời và đem hết tài năng ra phục
vụ đất nước. Quang Trung ra lệnh sử dụng chữ Nôm làm văn tự chính thức trong
các chiếu chỉ và giao cho Viện trưởng Sùng chính viện – Nguyễn Thiếp – tổ chức
dịch các sách vở kinh điển từ Hán sang Nôm. Ông còn ghi nhận công lao, trọng
dụng nhiều hiền tài khác như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, ..… Với chính sách
cầu hiền, Quang Trung đã tập hợp sức mạnh toàn dân tộc làm nên những trang sử
hào hùng của thế kỉ XVIII.
Mặt khác, người viết “Chiếu cầu hiền” là Ngô Thì Nhậm nên giáo viên cần
nhấn mạnh để học sinh hiểu rằng Ngô Thì Nhậm làm quan dưới triều Lê - Trịnh.
Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìm kiếm quan lại của triều
cũ. Thời điểm này cả vua Lê, chúa Trịnh đều đã sụp đổ thì Ngô Thì Nhậm cùng vài
trí thức có tư tưởng tiến bộ ra làm quan cho triều Tây Sơn. Ông có nhiều đóng góp
cho triều Tây Sơn, đặc biệt soạn thảo nhiều văn bản giấy tờ quan trọng.
Tiếp đó, học sinh trình bày hoàn cảnh ra đời của “Chiếu cầu hiền”: Sau khi
Lê Chiêu Thống và tàn quân chạy theo Tôn Sĩ Nghị, triều Lê sụp đổ. Trước sự kiện
trên, một số bề tôi của nhà Lê hoặc mang nặng tư tưởng trung quân, hoặc sợ hãi
nên nhiều người trốn tránh, hoặc đi ở ẩn… Khát vọng xây dựng một Nhà nước
hùng mạnh về mọi mặt đã thôi thúc Quang Trung chú ý đến vai trò quan trọng của
giới nho sĩ, trí thức. Quang Trung giao cho Ngô thì Nhậm thay mình viết “Chiếu
cầu hiền” nhằm mục đích thuyết phục các danh sĩ Bắc Hà hiểu được nhiệm vụ xây
dựng đất nước mà triều Tây Sơn đang dự kiến thực hiện để mời họ ra cộng tác với

Đặc biệt, Nguyễn Trường Tộ đề xướng việc dùng Quốc âm trong học tập và
giảng dạy. Ông khẳng định “Nước nào cũng có chữ của nước ấy, khi nói ra, viết ra
ai cũng hiểu, thế tại sao nước ta lại trọng dụng ngôn ngữ của nước ngoài?”.
Về thuật cai trị, ông chủ trương phải dùng luật pháp. Tuy nhiên, ông cũng
không hoàn toàn thiên về luật để trị nước nhưng cũng không dựa hẳn vào “đức trị”
mà dung hoà mềm dẻo hơn: “Phàm dùng lý chỉ dùng trong việc xử đoán hình phạt
mà khi nào không dùng tình được mới dùng đến lý. Lý là mệnh lệnh gắt gao. Tình
là cái đôn hậu hoà dịu…Người trị nước quý hồ chỗ thấu suốt tình dân, có tình mới
có dân”.
Tiếp theo, giáo viên cần giới thiệu hoàn cảnh ra đời “Tế cấp bát điều”, thể
loại điều trần và nội dung ngắn gọn của văn bản.
- “Xin lập khoa luật” trích từ bản điều trần số 27 “Tế cấp bát điều” (8 việc
cần làm gấp) được viết vào năm Tự Đức thứ hai mươi – 1867.
- Điều trần: văn nghị luận chính trị - xã hội trình bày vấn đề theo từng điều,
từng mục nhằm thuyết phục người đọc, người nghe làm theo đề nghị của người
viết. Tám điều ấy là:
+ Xin gấp rút sửa đổi việc võ bị.
+ Xin hợp tỉnh, huyện để giảm bớt số quan lại và khóa sinh.
+ Xin gây tài chính bằng cách đánh thuế xa xỉ (thuế cờ bạc, thuế rượu, thuốc
lá, trà, tơ lụa, thuế người giàu).
+ Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng (Học những gì chưa biết để biết
mà đem ra thực hành). Nay xin lập các khoa sau: khoa nông chính, khoa thiên văn
và khoa địa lý, khoa kĩ nghệ, khoa luật học và đề nghị dùng quốc âm trong học tập
và giảng dạy.
+ Xin điều chỉnh thuế ruộng đất.
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

8



diễn dịch, chứng minh, giải thích…hoặc tác giả có thể kết hợp nhiều thao tác lập
luận trong cùng một tác phẩm. Văn nghị luận cũng sử dụng nhiều thủ pháp nghệ
thuật để thể hiện cảm hứng của chủ thể sáng tạo và tạo nên tính hình tượng (chỉ thể
hiện ở cấp độ chi tiết, ngôn từ, cách diễn đạt tu từ, ở cách vận dụng thành ngữ, điển
cố) cùng sắc thái trữ tình của tác phẩm.
Giáo viên cần giúp học sinh phát hiện và phân tích được sự mạch lạc, đanh
thép, hùng hồn của lời văn trong việc làm sáng tỏ luận điểm vừa thể hiện được tư
tưởng, cảm xúc của nguời viết và đem lại tính truyền cảm cho tác phẩm.
2.2.1. Văn bản “Chiếu cầu hiền”:
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

9


Luận điểm trong “Chiếu cầu hiền” được thể hiện dưới hình thức tiêu đề.
Chiếu thuộc loại văn nghị luận chính trị - xã hội do nhà vua lệnh cho bề tôi, thần
dân thực hiện, nhưng ở đây, đối tượng của “Chiếu cầu hiền” là các bậc hiền tài đã
từng phụng sự nhà Lê, nên khi triều Lê – Trịnh sụp đổ, triều Tây Sơn lên thay, vốn
mang nặng tư tưởng Nho giáo và nhân cách nhà nho “trung thần bất sự nhị quân”
nên vua Quang Trung dùng “cầu” chứ không ra lệnh.
Trong đoạn mở đầu, Ngô Thì Nhậm đã xây dựng một tiền đề vững chắc,
thuyết phục bằng thao tác so sánh với hai lập luận:
- Lập luận 1: người hiền “như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu
về ngôi Bắc Thần”, suy ra “người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử”. Để tạo tiền đề
vững chắc cho lập luận, tác giả lại mượn ý của Khổng Tử trong sách “Luận ngữ”
để tạo sự thuyết phục: lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao Bắc Đẩu giữ
đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ chầu về. Như vậy tác giả vừa tôn vinh
những bậc nho sĩ (như sao sáng) vừa khẳng định rằng triều đại mới là một triều đại
dùng đức để cai trị đất nước.
- Lập luận 2: Sao che mất ánh sáng thì sẽ mất đi vẻ đẹp, người hiền mà không

“Trước đây thời thế suy vi”, giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề không
phù hợp:
Ngô Thì Nhậm mở đầu bằng “Trước đây thời thế suy vi” tức đưa người đọc
ngược dòng lịch sử, trở về với mạt thời Lê Trịnh. Vì sao tác giả lại gọi đó là thời
suy vi trong khi bản thân đã từng phục vụ triều cũ?
Ngô Thì Nhậm vừa thuyết phục trí thức Bắc Hà (theo ý định của Quang
Trung) vừa nêu nhận xét của bản thân. Thời Lê – Trịnh, hiền tài không được trọng
dụng. Vì thế cách hành xử tích cực nhất của họ là giữ gìn khí tiết trong sạch bằng
cách trốn tránh, ẩn dật hoặc là dè dặt, giữ mình ở chốn quan trường. Thời thế
không cho phép họ tự thể hiện mình. Từ đó học sinh thấy rằng trong cuộc sống,
phải thể hiện năng lực của bản thân trong mọi hoàn cảnh.
Hay giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề xung đột, tương phản:
Tại sao trong đoạn 1 tác giả khẳng định sứ mệnh của người hiền tài còn ở
đoạn 2, tác giả lại có vẻ ủng hộ cách ứng xử của họ trong mạt thời Lê Trịnh như
vậy? Bài học em rút ra từ cách nhìn nhận của Ngô Thì Nhậm đối với hiền tài?
Ngô Thì Nhậm đã nhìn họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh sống (hoàn cảnh
rộng - lịch sử xã hội). Chỉ những nhân tài kiệt xuất như Quang Trung Nguyễn
Huệ… mới có khả năng tạo ra thời thế, còn phần lớn con người đều ít nhiều bị chi
phối bởi hoàn cảnh xã hội. Cách ứng xử của các bậc hiền tài trước đây có nghĩa là
họ đã làm chủ được hoàn cảnh hẹp (hoàn cảnh trực tiếp) của bản thân mình.
Bài học được rút ra là cách đánh giá con người, phải nhìn nhận họ trong mối
quan hệ qua lại với hoàn cảnh sống để có thái độ đánh giá đúng mực.
hoặc có thể nêu câu hỏi gợi mở:
Tác giả dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của
kẻ sĩ (ở ẩn trong ngòi khe, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõ canh cửa, ra biển
vào sông, chết đuối trên cạn,…) trong thời thế suy vi nhằm mục đích gì?
Mục đích của Ngô Thì Nhậm muốn nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng của
hiền tài (biện pháp kích tướng).
Ở đoạn 3, tác giả thay lời vua để thổ lộ những tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềm
canh cánh chờ mong sự xuất hiện của hiền tài “nay trẫm đang ghé chiếu lắng

Quan điểm về hiền tài của vua Quang Trung thật tiến bộ, hợp lòng dân, tạo
con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước.
Lời kêu gọi ở đoạn 6 của tác giả sôi nổi, nhiệt thành nhấn mạnh lại cơ hội lập
danh, lập thân của người hiền thực sự đã đến làm nức lòng hiền tài bốn bể.
Như vậy, trong văn nghị luận, lí lẽ, hình ảnh, cảm xúc và giọng điệu thường
hòa quyện chặt chẽ đem lại sự thuyết phục cả về lý trí và tình cảm đối với người
đọc, người nghe. "Chiếu cầu hiền" đã kích thích niềm tự tôn, tự hào của các nhân
tài, động viên họ đem đức tài ra giúp dân, giúp nước. Có thể nói vua Quang Trung
đã không nhầm khi đánh giá cao năng lực và giao cho Ngô Thì Nhậm trọng trách
chấp bút thay mình để cầu hiền trong thiên hạ.
Giáo viên có thể đặt câu hỏi thảo luận nhóm:
Bài học mà chúng ta rút ra được từ nghệ thuật ứng xử của vua Quang Trung
và Ngô Thì Nhậm?
Bài học về cách ứng xử ở đời: lấy chí để thuyết phục chí, lấy tâm để thuyết
phục tâm, lấy sự công bằng, dân chủ để thuyết phục nhân, đây cũng là nghệ thuật
ứng xử của con người trong mọi thời đại.
Hoặc có thể tạo ra tình huống có vấn đề cần so sánh, đối chiếu:
Sau khi học “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” – Thân Nhân Trung (lớp
10) và “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm, em nhận xét về điểm giống và khác
giữa hai văn bản ?
Để giải quyết tình huống này, học sinh nêu những nhận xét, đánh giá riêng.
Từ đó học sinh nhận thức rằng dù ở bất cứ thời đại nào, nhân tố con người phải
luôn được coi trọng, những nhân tài cần được tạo mọi cơ hội để có thể đem hết sức
mình cống hiến cho đất nước.
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

12


2.2.2. Văn bản “Xin lập khoa luật”:

bằng tất cả nhiệt huyết và lòng tin vào chân lí (…) Chính phong cách chính luận –
trữ tình này đã tạo nên một giọng điệu riêng, một khả năng cuốn hút đặc biệt đối
với đối tượng mà ông cần thuyết phục” (Từ điển văn học, Nguyễn Huệ Chi).
Hoặc giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề dung hòa:
Theo em, làm thế nào để vừa có thể vừa bảo vệ đạo làm người vừa dùng
luật?
Cần xây dựng nhà nước pháp quyền, đề cao tư tưởng pháp trị, Trong xã hội
vấn đề khen thưởng, xử phạt phải kịp thời, đúng mức thì mới có ý nghĩa thúc đẩy
sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ của mọi người.
Liên hệ với hiện tại, học sinh sẽ nhận thấy nhà nước ta đang thực hiện tất cả
vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, các cơ
quan lập pháp đang soạn thảo thêm các điều luật và chỉnh sửa luật cho phù hợp với
hoàn cảnh đất nước trong thời đại mới.
Phần 3 (đoạn 4), Nguyễn Trường Tộ đã lí giải thấu đáo vai trò của luật, đồng
thời giải quyết triệt để những nghi ngờ về khả năng của luật. Ông dùng lập luận để
bác bỏ quan điểm “luật chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi”. Ông
khẳng định “trái luật là tội, giữ đúng luật là đức”, nhấn mạnh mối quan hệ biện
chứng giữa pháp trị và đức trị "Nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử
sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức”. Để khẳng định, tác giả đã dùng các câu
nghi vấn tu từ “có đức nào lớn hơn chí công vô tư không ?”. Nguyễn Trường Tộ
đề cao việc con người sống đúng luật pháp, làm theo luật pháp là đức trời. Ông viết
“Chí công vô tư là đức trời. Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời,
như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao?”.
Đoạn trích “Xin lập khoa luật” là một văn bản nghị luận chặt chẽ, thấu tình
đạt lí. “Văn chương của Nguyễn Trường Tộ là lối văn chính luận, vừa phải bảo
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

14



cách phân tích văn bản kết hợp với phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo luận
nhóm.
- Đối với những tình huống có vấn đề, học sinh dựa trên kiến thức bài học và
kiến thức của bản thân để tìm những giải pháp. Giáo viên không nên có kết luận
cứng nhắc với tình huống. Kết luận nên ở dạng là một gợi ý có thể bao quát được
những hướng giải quyết mà học sinh đưa ra. Từ đó, học sinh có thể tranh luận với
nhau về những khả năng cũng như tính khả thi của những phương án có thể lựa
chọn.

Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

15


- Giáo viên cần gợi ý cho học sinh về những tư liệu cần hoặc những địa chỉ
website để các em có nguồn tư liệu chuẩn xác.
- Giáo viên tích lũy vốn tri thức về tác phẩm, về lịch sử, các vấn đề thời sự, xã
hội có liên quan để giúp các em nhận diện được vấn đề nghị luận cũng như hệ
thống lập luận của văn bản.
* Đối với học sinh:
- Có nhu cầu bộc lộ suy nghĩ cá nhân trước tập thể. Nên chủ động tham gia
thảo luận nhóm ngoài giờ học để có những hiểu biết về tác giả, bối cảnh văn học,
hoàn cảnh lịch sử - thời đại ra đời tác phẩm.
- Cần đọc – hiểu văn bản trước khi tiến hành tìm hiểu ở lớp nhằm khám phá
văn bản bằng cả lí trí, tâm hồn.
V. KẾT LUẬN
Sự hấp dẫn của một tác phẩm nghị luận là do nhiều yếu tố tạo nên trong đó
luận điểm và cách lập luận là yếu tố quan trọng. Dạy văn nghị luận giáo viên cần
bám sát văn bản, nắm vững đặc trưng cơ bản của từng thể loại. Trong thực tế, việc
giảng dạy cần có sự kết hợp nhiều phương pháp, phụ thuộc vào từng tình huống

biên), NXB 2007.
Từ điển thuật ngữ Văn học - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
(chủ biên) – NXB Đại học Quốc gia, 1999.
Vẻ đẹp của văn nghị luận - Đỗ Ngọc Thống - Văn học và Tuổi trẻ số 4,
2005.
Những lưu ý khi đọc văn nghị luận – Phan Thị Thanh Vân.
Phương pháp dạy tích hợp chùm văn bản nghị luận thời trung đại ở
chương trình Ngữ văn lớp 11 – Phan Quốc Thanh.
Một vài suy nghĩ về việc dạy văn nghị luận – Bùi Thị Vui.
Các nguồn tư liệu về Nguyễn Huệ, Nguyễn Trường Tộ trên các báo điện
tử.

Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh

17


SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị: THPT Nguyễn HữuCảnh

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Biên Hòa, ngày 30 tháng 10 năm 2011

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011- 2012
–––––––––––––––––

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI


- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao 
-

Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 

- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống:
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Tốt 
Khá 
Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
TỔ TRƯỞNG

Nguyễn Thị Mai Lan
Ngô Xuân Sơn – THPT Nguyễn Hữu Cảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status