TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: NGHIÊN CỨU XÃ HỘI VÀ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Khang
Họ và tên học viên: Trần Thị Hương
Số hiệu học viên: CA -110222
Lớp : 11A-LL&PPDH- Nam Định
Tháng 2 - 2012
“Giáo dục không nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin”
(Education is not the filling of a pail, but the lighting of a fire)
- W. B. Yeats -
Tên đề tài:
Nghiên cứu thực trạng áp dụng phương pháp giảng dạy “lấy học sinh làm trung
tâm” trong giáo dục nghề nghiệp tại một số trường đào tạo nghề.
Trân trọng cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Nguyễn
Khang đã giảng dạy hướng dẫn để hoàn thành tiểu
luận. Kính mong nhận được ý kiến chỉ bảo của Thầy
để lĩnh hội nhiều kiến thức hơn nữa về xã hội và
khoa học giáo dục, nhất là trong lĩnh vực đào tạo
nghề.
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
1. Quan điểm giảng dạy ‘lấy học sinh làm trung tâm’ trong giáo dục nghề
nghiệp giai đoạn đổi mới tại nước ta
1.1. Định hướng đào tạo nghề
1.2. Vai trò của giáo dục người lớn trong xã hội hoá nghề nghiệp
1.3. Các quan điểm tiếp cận dạy học ‘lấy học sinh làm trung tâm’
2. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp
2.1. Thực trạng áp dụng phương pháp giảng dạy “lấy học sinh làm trung tâm”
trong giáo dục nghề nghiệp tại một số trường đào tạo nghề
2.2. Giải pháp và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
1. Quan điểm giảng dạy ‘lấy học sinh làm trung tâm’ trong giáo dục nghề
nghiệp giai đoạn đổi mới tại nước ta
1.1. Định hướng đào tạo nghề trong giáo dục Việt Nam giai đoạn đổi mới
Trong thời đại hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhằm
đáp ứng nhu cầu của xã hội, hệ thống đào tạo nghề ở Việt Nam đang có nhiều đổi
mới. Việc phát triển nguồn nhân lực cao đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
là một chiến lược quốc gia trong toàn bộ chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát
triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn
nhân lực.
Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đổi mới gắn với nền kinh tế tri thức đòi
hỏi phải có nguồn nhân lực có chất lượng cao, thích ứng với nhiều loại hình
nghề nghiệp. Vì vậy giáo dục nghề nghiệp phải chú trọng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, nhân lực phải đa năng…Người lao động phải biết di chuyển kĩ
năng, di chuyển cảm xúc…khi chuyển đổi công việc. Đây là vấn đề khó khăn đặt
được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp dù đã có những chuyển đổi để
thích nghi với nền kinh tế thị trường song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị
trường lao động, chưa gắn với việc làm. So với các nước, sản phẩm đào tạo nguồn nhân lực - ở Việt Nam chất lượng còn hạn chế, thiếu tính cạnh tranh do
năng lực hoạt động, năng lực chia sẻ và năng lực hòa nhập kém dù người Việt
Nam không thiếu sự thông minh và cần cù.
Thực trạng về lao động và việc làm, về chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta
đã đặt ra những yêu cầu mới về đào tạo nghề và hướng nghiệp. Nhà nước ta đã
đặt ra mục tiêu: ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng
nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ
thuật lành nghề, trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
1.2. Vai trò của giáo dục người lớn trong xã hội hoá nghề nghiệp
Giáo dục là con đẻ của hệ thống xã hội, do vậy, giữa giáo dục trong nhà trường
có mối liên hệ chặt chẽ với giáo dục của gia đình và xã hội. Trong mối liên hệ
này, giáo dục nhà trường có thể tương thích hoặc không tương thích với hệ thống
xã hội. Yêu cầu của xã hội là đơn đặt hàng đối với nhà trường trong việc xác định
mục tiêu, xây dựng nội dung chương trình giáo dục cũng như lựa chọn và áp dụng
các phương pháp giáo dục. Ngược lại, giáo dục của nhà trường là một trong
những môi trường có tác động chủ đạo đến tiến trình xã hội hóa cá nhân.
Trường học được hình thành trên cơ sở hệ thống các yếu tố cấu thành có mối liên
hệ chặt chẽ, tương tác lẫn nhau tạo ra sự vận động và phát triển của nhà trường
theo chức năng và vai trò xã hội nhất định của nó.
Vì vậy trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009 -2020 khi
đề cập đến giáo dục nghề nghiệp đã chỉ rõ mục tiêu đào tạo: “Sau khi hoàn thành
các chương trình giáo dục nghề nghiệp, học sinh có năng lực và có đạo đức nghề
nghiệp, kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại, có khả năng sử dụng
ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trong học tập và làm việc tương đương với học sinh
ở các nước phát triển trong khu vực, có khả năng tham gia vào thị trường lao động
quốc tế. Đến 2020 có trên 95% số học sinh tốt nghiệp được các doanh nghiệp và
đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Tuy nhiên, thuật ngữ “dạy học lấy
người học làm trung tâm” (dạy học tập trung vào người học) chỉ mới xuất hiện và
được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây. Theo K.Barry và King (1993),
đặt cơ sở cho quan điểm người học là trung tâm là những công trình của John
Dewey (Experience and education, 1938) và Carl Rogers (Freedom to learn,
1986). Các tác giả này đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, đề xuất việc để cho
người học lựa chọn nội dung học tập, được tự lực tìm tòi nghiên cứu. Theo hướng
đó, bên cạnh xu hướng truyền thống thiết kế chương trình giảng dạy lấy logic nội
dung môn học làm trung tâm đã xuất hiện xu hướng thiết kế chương trình học tập
lấy nhu cầu, lợi ích của người học làm trung tâm.
Từ lĩnh vực dạy học, tư tưởng học sinh trung tâm (HSTT) được mở rộng sang
lĩnh vực giáo dục nói chung. Trong “thuật ngữ giáo dục người lớn” do Unesco
xuất bản năm 1979 bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha đã dùng thuật ngữ
“giáo dục căn cứ vào người học”, “giáo dục tập trung vào người học” với định
nghĩa là “sự giáo dục mà nội dung quá trình học tập và giảng dạy được xác định
bởi nhu cầu, mong muốn của người học và người học tham gia tích cực vào việc
hình thành và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh
nghiệm của người học”.
Trên sách báo có người quan niệm HSTT như một tư tưởng, một quan điểm,
một cách tiếp cận quá trình dạy học. R.R.Singh (1991) cho rằng tư tưởng này đặc
biệt nhấn mạnh vai trò của người học, hoạt động học. Người học được đặt ở vị trí
trung tâm của hệ giáo dục, vừa là mục đích lại vừa là chủ thể của quá trình học
tập. Vì nhấn mạnh điều này, tác giả đề nghị thay thuật ngữ “quá trình dạy học lấy
người học làm trung tâm”, “quá trình học tập do người học điều khiển”. Tác giả
đã viết: “Làm thế nào để cá thể hóa quá trình học tập để cho tiềm năng của mỗi cá
nhân được phát triển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếu đối với giáo dục”.
Hiện nay, trong ngành giáo dục nước ta vấn đề phát huy tích cực chủ động sáng
tạo của người học được mọi người nhất trí nhưng vấn đề HSTT chưa phải là đã
được mọi người chấp nhận và được quan niệm một cách thống nhất. Có người
phải chú ý đến người học, vừa phải chú ý đến điều phải học. Giáo viên là người
hướng dẫn, vì vậy phải không ngừng vươn lên học tập suốt đời để làm gương tốt
cho học sinh. Người thầy phải là người có khả năng tổ chức, điều khiển mọi hoạt
động của học sinh, giúp học sinh học tập tốt. R.R.Singh đã viết: “Trong dạy học
lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên không chỉ là người truyền thụ những kiến
thức riêng rẽ. Giáo viên giúp cho học sinh thường xuyên tiếp xúc với những lĩnh
vực học tập ngày càng rộng lớn hơn. Giáo viên đồng thời là người hướng dẫn,
người cố vấn, người mẫu mực cho học sinh. Giáo viên không phải là chuyên gia
ngành hẹp, mà là một cán bộ tri thức, là người học hỏi suốt đời. Trong việc thực
hiện quá trình dạy học, người dạy và người học cùng nhau tìm tòi khám phá. Theo
S.Raxếch thì với sự tham gia tích cực của người học vào quá trình học tập tự lực,
với sự đề cao trí sáng tạo ở người học thì sẽ khó duy trì mối quan hệ đơn phương
và độc đoán giữa thầy và trò. Quyền lực của giáo viên không còn dựa trên sự thụ
động và dốt nát của học sinh, mà là dựa trên năng lực của giáo viên góp phần vào
sự phát triển của học sinh thông qua sự tham gia tích cực của các em … Một giáo
viên sáng tạo là người biết giúp đỡ học sinh tiến bộ nhanh chóng trên con đường
tự học. Giáo viên phải là người hướng dẫn, người cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò
công cụ truyền đạt tri thức.”
Tóm lại, trong quá trình chuyển từ kiểu dạy học truyền thống sang kiểu dạy học
mới có sự thay đổi về tỉ trọng và nội dung vai trò của người dạy và người học.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm phát huy được vai trò chủ động, tích cực và
sáng tạo của học sinh, đồng thời đề cao hơn vai trò của người thầy. Ở đây, giáo
viên phải có trình độ chuyên môn sâu, có trình độ sư phạm lành nghề, có đầu óc
sáng tạo và nhạy cảm mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, trợ giúp,
hướng dẫn, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động độc lập của học sinh,
đánh thức năng lực tiềm tàng trong mỗi em, chuẩn bị cho học sinh tham gia tích
cực vào phát triển cộng đồng.
Đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học
Thứ ba, có cơ, chế chính sách chưa khuyến khích, chưa tạo nên động lực
cho việc áp dụng phương pháp dạy- học tích cực. Hiện tượng phổ biến hiện nay là
phát động phong trào đổi mới phương pháp dạy học, song vẫnâch có cơ chế,
chính sách đãi ngộ, khuyến khích người áp dụng phương pháp dạy- học tích cực
Thứ tư, cơ sở vật chất, kỹ thuật hạn chế. Hầu hết các trường đại học và cao
đẳng hiện nay còn thiếu nhiều các phòng thí nghiệm, các thiết bị phục vụ nghiên
cứu, giảng dạy và học tập. Giảng đường hầu như chỉ có bảng đen, phấn trắng, các
thiết bị như máy chiếu hắt- Overhaet, máy chiếu đa năng- Projector, bảng điện
tử...hầu như không có hoặc nhiều lắm cũng chỉ có một vài phòng; ngoài ra hệ
thống bàn ghế cũng không được trang bị mới phục vụ việc dạy- học tích cực, bởi
vậy, đã hạn chế không nhỏ đến việc áp dụng phương pháp dạy- học tích cực. Cơ
sở vật chất thiếu cũng phải kể đến là hệ thống giáo trình, tư liệu không đáp ứng
được nhu cầu đổi mới phương pháp dạy- học theo hướng tích cực hoá. Giáo trình
thường được viết theo hướng chốt chặt, đóng kín, khuyến khích người học thuộc
bài chứ không khuyến khích tư duy sáng tạo. Theo GS Hồ Ngọc Đaị, hệ thống
giáo trình hao hao như kinh thánh, thày dạy hao hao như linh mục còn trò học hao
hao như tín đồ. Đổi mới phương pháp phải trên nền chương trình, giáo trình,
phương pháp đánh giá kiểm tra đổi mới...
Thứ năm, thời gian để đầu tư cho dạy- học mới bị hạn chế. Khác với thời
bao cấp, thời gian dư thừa bởi không có việc làm, trong cơ chế thị trường hiện
nay, hầu hết các nguồn lực, quĩ thời gian được huy động vào các hoạt động khác
nhau. Đội ngũ giáo viên cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó. Họ huy động
tối đa thời gian vào làm thêm, dạy thêm, thời gian đầu tư cho nghiên cứu khoa
học cũng bị hạn chế, nên ít đầu tư thời gian cho việc biên soạn lại giáo trình, soạn
lại giáo án, nhất là giáo án sử dụng chương trình Powerpoint phục vụ phương
pháp day- học tích cực.
* Để đánh giá thực trạng việc triển khai giảng dạy theo phương pháp lấy học
sinh làm trung tâm xin được sử dụng phiếu điều tra tại trường Cao đẳng nghề
là một tư tưởng, một quan điểm dạy học chi phối cả mục tiêu, nội dung, phương
pháp, hình thức tổ chức và đánh giá hiệu quả dạy học:
Hình
. Sơ đồ đánh giá tiêu chí 2.4 - phụ lục 01
+ Tiêu chí [2.5] đánh giá về việc áp dụng các phương pháp sư phạm vào quá
trình giảng dạy “lấy học sinh làm trung tâm” cho thấy đa số giáo viên đã lựa chọn
phương pháp học nhóm (22/30 phiếu - chiếm 73%). Đây mới chỉ là một trong
những phương pháp sư phạm trong dạy học tích cực. Để thực sự “lấy học sinh
làm trung tâm” cần phải triển khai đa dạng nhiều phương pháp dạy học tích cực
Hình
. Sơ đồ đánh giá tiêu chí 2.5- phụ lục 01
1. Học nhóm
2. Tình huống có vấn đề
3. Thảo luận trực tiếp
4. Nghiên cứu tài liệu
5. Hỗ trợ đa phương tiện (multimedia)
+ Tiêu chí [2.6] xem xét điều tra những trở ngại đang ảnh hưởng đến việc áp
dụng phương pháp giảng dạy “lấy học sinh làm trung tâm” trong giáo dục nghề
nghiệp. Điều tra trên 30 phiếu cho thấy 17/30 phiếu (chiếm 57%) cho biết do
thiếu thiết bị giảng dạy, 10 phiếu (33%) cho biết do khó khăn khi ứng dụng các
phần mềm đa phương tiện, 3 phiếu (chiếm 3% ) do trình độ sư phạm của giáo
viên còn nhiều hạn chế:
□ Sở thích cá nhân
□ Hoàn cảnh cá nhân
□ Các vấn đề về nội dung bài giảng
□ Ứng dụng của bài giảng
2.7. Bạn có những đề nghị gì đối với giáo viên trong quá trình học tập tại
trường:
2.2. Giải pháp và kiến nghị
Để áp dụng tốt phương pháp giảng dạy tích cực cần hội tụ được các yếu tố sau:
- Chuẩn bị nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có;
- Chuẩn bị cho người học động cơ học tập khi bắt đầu môn học
- Thể hiện bản chất và mức độ kiến thức cần huy động
- Thể hiện vai trò của người học và người dạy, các mối tương tác trong quá
trình học
- Thể hiện được kết quả mong đợi của người học
- Phải đổi mới tư duy. Giáo dục cho toàn thể thày trò về tầm quan trọng của
yêu cầu đổi mới và thực chất của phương pháp dạy- học tích cực. Từ đó tạo nên
sự thống nhất, đồng thuận cao trong nhận thức và hành động. Đã đến lúc không
thể chậm trễ việc đổi mới phương pháp dạy- học.
- Bồi dưỡng cho toàn bộ đội ngũ giảng viên tri thức (kiến thức, kỹ năng và
tình cảm) về PPDH tích cực đồng thời chuẩn bị cho người học tâm thế và khả
năng thích ứng với việc áp dụng phương pháp dạy- học tích cực.
- Đổi mới trang thiết bị phục vụ day- học và bồi dưỡng cho thày – trò về kỹ
năng sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại; đổi mới cơ sở vật chất đào tạo từng
bước đáp ứng yêu cầu của một nhà trường hiện đại, nơi người học sẵn sàng học và
có đủ điều kiện học tập, nghiên cứu.
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo động lực cho việc áp dụng
phương pháp dạy- học tích cực
2.2. Quá trình soạn giáo án và chuẩn bị lên lớp anh (chị )có xác định tiêu chí cho
gìơ giảng là “lấy học sinh làm trung tâm”không?
□ Có
□ Không
□ Tiêu chí khác
2.3. Theo Anh(chị) tiêu chí “lấy học sinh làm trung tâm” trong quá trình giảng
dạy là:
□ Một phương pháp giảng dạy
□ Một mục tiêu giảng dạy
□ Một nội dung giảng dạy
2.4. Theo Anh (chị ) trong giảng dạy quan điểm “giáo viên làm trung tâm” khác
với quan điểm”lấy học sinh làm trung tâm” ở:
□ Nội dung giảng dạy
□ Mục tiêu giảng dạy
□ Phương pháp giảng dạy
2.5. Để sử dụng quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” trong quá trình giảng
dạy theo anh (chị) cần có những phương pháp dạy học tích cực nào:
□ Tình huống có vấn đề
□ Học nhóm
□ Thảo luận trực tiếp
□ Nghiên cứu tài liệu
□ Hỗ trợ đa phương tiện (multimedia)
2.6 Theo Anh (chị) những trở ngại nào đang ảnh hưởng đến việc áp
phương pháp giảng dạy “lấy học sinh làm trung tâm” trong giáo dục
nghiệp
□ Chưa thật hiểu về quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”
□ Trình độ tin học còn hạn chế
□ Trình độ sư phạm hạn chế
I. Thông tin chung học viên
1. Họ và tên : .........................................................................................................
2. Lớp :…………………………………………………………………………
3. Điện thoại: .....................................................................................................
Email: ................................................................................................................
4. Chuyên ngành được đào tạo: ........................................................................
5. Số lượng học sinh, sinh viên trong lớp :.......................................................
II. Để góp phần nâng cao và cải tiến chất lượng học tập của học sinh
chuyên ngành Dệt May trong nhà trường, xin bạn vui lòng cho ý kiến về một
số vấn đề sau:
2.1. Chuyên ngành (nghề) mà bạn đang được đào tạo tại trường có phù hợp với
sở trường của bạn không :
□ Có
□ Không
2.2. Quá trình học tập bạn có nhận thấy sự khác biệt về phương pháp giảng dạy
của các Thầy cô không?
□ Có
□ Không
2.3. Theo bạn sự khác biệt là do:
□ Mỗi thầy có một phương pháp giảng dạy khác nhau
□ Mỗi môn học có nội dung khác nhau
□ Mỗi thầy có lòng nhiệt tình khác nhau
2.4. Trong một giờ giảng theo bạn điều mà giáo viên quan tâm nhất là gì:
□ Nội dung giảng dạy
□ Thời gian giảng dạy
□ Sự hiểu biết của học sinh qua giờ giảng
2.5. Trong một giờ giảng thường bạn có tham gia bày tỏ chính kiến, quan điểm
của mình không:
□ Có
□ Không