BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tô Hạ Uyên THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG Ở QUẬN GÒ VẤP,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tô Hạ Uyên
Nguyễn Công Trứ, Trần Hưng Đạo.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp
đỡ và ủng hộ của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn
tinh thần, đã cung cấp cho tôi những thông tin, số liệu, tài liệu và những ý kiến đóng góp
quý báu cho luận văn; các bậc cha mẹ học sinh, các em học sinh đã đóng góp ý kiến
chân tình nhằm đem lại ý nghĩa thực tiễn và khoa học cho luận văn.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Văn Điều, người đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong việc định hướng về nội dung đề tài, phương pháp
nghiên cứu khoa học và thường xuyên quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu để hoàn thành luận văn này.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 1
MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3. KHÁCH THỂ VÀ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG THPT 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Công tác giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới 6
1.1.2. Công tác giáo dục hướng nghiệp ở nước ta 9
dục hướng nghiệp 99
3.4. Có cơ chế, chính sánh thỏa đáng đối với người dạy và người học,trang bị cơ sở
vật chất, và trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục hướng nghiệp. 99
3.5. Đổi mới công tác lập kế hoạch, tăng cường chỉ đạo các hoạt động chuyên môn,
tăng cường và đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục hướng
nghiệp. 101
3.6.Tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục hướng nghiệp. 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.3.1.1: Đánh giá sự hiểu biết của con em về các ngành, nghề hiện
đang có trong xã hội hiện nay…… ………… … … ………… 48
Bảng 2.3.1.2: Đánh giá việc trò chuyện với con em về các ngành, nghề
truyền thống cũng như các ngành, nghề đang phát triển
trong xã hội hiện nay… …………….……………………………… 49
Bảng 2.3.1.3: Đánh giá việc thực hiện hoạt động của nhà trường liên
quan đến công tác hướng nghiệp cho học sinh đối với CMHS…… 50
Bảng 2.3.1.4: Đánh giá tính hiệu quả việc giáo dục hướng nghiệp
hiện tại của nhà trường giúp con em trong việc lựa chọn ngành,
chọn nghề cho tương lai…………………………………… ……… 51
Bảng 2.3.1.5: Đánh giá vai trò của gia đình trong việc chọn ngành,
chọn nghề tương lai của con em ………………………… ……….…52
Bảng 2.3.1.6: Đánh giá thái độ của gia đình đối với việc lựa chọn ngành,
nghề của con em ………………………………………………….… 53
Bảng 2.3.2.1: Đánh giá tầm quan trọng của việc quản lý và tổ chức
chọn trường làm hồ sơ thi vào ĐH, CĐ của nhà trường
và thầy cô giáo chủ nhiệm, thầy cô giáo bộ môn………………………75
Bảng 2.3.3.10: Đánh giá việc giới thiệu của nhà trường, thầy cô giáo, hay học
sinh có biết cuốn sách “Những điều cần biết về tuyển sinh
ĐH, CĐ năm 2010.” của Bộ GD – ĐT ban hành……………………….75
Bảng 2.3.3.11:Đánh giá phương thức giáo dục hướng nghiêp
ở trường THPT…………………………… ………………………… 78
Bảng 2.3.3.12: Đánh giá việc thực hiện giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh…………………… ………………… …………………80
Bảng 2.3.3.13: Đánh giá việc tham gia giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh của CMHS……………………….…………………… …… 82
Bảng 2.3.3.14: Đánh giá hiệu quả hoạt động của Thư viện nhà trường
với công tác hướng nghiệp cho học sinh ……………………… ….…83
Bảng 2.3.3.15: Đánh giá việc nhà trường cung cấp thông tin và
tài liệu để phục vụ cho công tác hướng nghiệp…………………….… 83
Bảng 2.4.1.1: Đánh giá xu hướng chọn ngành, chọn nghề của học sinh
sau khi tốt nghiệp THPT ………………………… ………………… 85
Bảng 2.4.1.2: Đánh giá tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh …………………………… …………………………… 86
Bảng 2.4.1.3: Đánh giá hiệu quả hoạt động hướng nghiệp của nhà
trường trong thời gian qua ……………………….…………………….86
Bảng 2.4.1.4: Đánh giá hoạt động của ban tư vấn giáo dục hướng nghiệp hay
bộ phận chuyên trách để GDHN cho học sinh tại trường …………… 88
Bảng 2.4.1.5:Đánh giá hoạt động hướng nghiệp của nhà trường ……… … 89
Bảng 2.4.1.6: Đánh giá việc tập huấn hay hướng dẫn cho giáo viên
thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh…………………… …92
Bảng 2.4.1.7: Đánh giá việc đầu tư của nhà trường cho các khoản chi
riêng cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp…………………………… …93
Bảng 2.4.1.8: Đánh giá việc phân công trách nhiệm hướng nghiệp rõ ràng
ngũ thầy cô giáo đảm đương hoạt động giáo dục hướng nghiệp đều không có chuyên
môn và còn thiếu kinh nghiệm cũng như các kỹ năng để thực hiện hoạt động giáo dục
hướng nghiệp. Do đó công tác tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhiều nơi
còn xem nhẹ thậm chí bỏ qua. Bất kì một học sinh nào dù được đào tạo ở trình độ nào
đi nữa, thì mục đích cuối cùng là phải xác định được cho mình môt nghề nào đó để
vào đời, đứng trước thế giới nghề nghiệp đa dạng, phong phú các em học sinh còn
lúng túng trong việc lực chọn ngành nghề phù hợp. Phần lớn các em chọn nghề theo
nhu cầu của cá nhân, gia đình, bạn bè hay theo thị hiếu…các em còn rất mơ hồ, chưa
đánh giá đúng năng lực, sở trường của bản thân hay nhu cầu phát triển KT – XH của
đất nước, của địa phương, cũng như các em chưa xác định được những yêu cầu, đặc
điểm riêng của mỗi ngành nghề.
Bản thân là người làm công tác quản lí giáo dục trường THPT, trực tiếp chỉ đạo
thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhận thấy sự cần thiết của hoạt động giáo
dục hướng nghiệp trong nhà trường THPT là nhằm phát hiện và bồi dưỡng những
phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu
của nghề, trên cơ sở đó giúp cho học sinh biết đánh giá bản thân để tự định hướng
cho mình đi vào những lĩnh vực mà xã hội yêu cầu, cũng như thấy được những bất
cập, khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Từ những lí
do nêu trên tôi nhận thức được hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT
là nhu cầu cấp thiết đối với học sinh và chọn đề tài : “Thực trạng công tác quản lý
hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường THPT ở Quận Gò vấp, TP.
HCM” được nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở một số
trường THPT tại quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện
pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh tại các trường THPT.
3. KHÁCH THỂ VÀ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường Trung học
THPT ( Phiếu số 1, thăm dò ý kiến 200 CMHS của 2 trường THPT Gò Vấp, THPT
Trần Hưng Đạo)
+ Đánh giá của HS về công tác quản lý hoạt động GDHN cho HS trong trường
THPT ( phiếu số 2, thăm dò ý kiến 300 HS của 4 trường )
+ Đánh giá của GV về công tác quản lý hoạt động GDHN cho HS trong trường
THPT ( phiếu số 3, thăm dò ý kiến 200 GV của 4 trường )
+ Đánh giá của CBQL về công tác quản lý hoạt động GDHN cho HS trong
trường THPT ( phiếu số 4, thăm dò ý kiến 100 CBQL của 4 trường )
- Mẫu điều tra cho 4 trường THPT tại quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh :
THPT Gò Vấp
THPT Nguyễn Công Trứ
THPT Trần Hưng Đạo
THPT Nguyễn Trung Trực
Nội dung phiếu hỏi chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận, mục đính và nhiệm vụ nghiên
cứu của đề tài.
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn – trao đổi
- Lấy ý kiến về công tác chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên phụ trách hoạt động
GDHN trong nhà trường.
- Lấy ý kiến về việc lựa chọn các nội dung, phương pháp cần thiết để giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh THPT.
- Lấy ý kiến về biện pháp kiểm tra và cách thức đánh giá hiệu quả công tác quản
lý hoạt động GDHN cho học sinh THPT.
6.2.3. Phương pháp quan sát
Qua các buổi dự giờ thăm lớp, tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng tại địa bàn
nghiên cứu để bổ sung thông tin cho phương pháp điều tra.
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 11.5 để xử lý thống kê như:
tỉ lệ phần trăm, trị số trung bình…làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương
pháp điều tra bằng bảng hỏi.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG THPT
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Công tác giáo dục hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới
Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia luôn coi trọng việc
xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân để đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu giáo dục của
các tầng lớp dân cư. Với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và sự ra
đời của nền kinh tế tri thức, yêu cầu không ngừng hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc
dân lại càng trở thành một vấn đề quan trọng của cải cách giáo dục hiện đại, vì nó
quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao vị thế quốc gia…
Vào những năm 70 – 80 thế kỉ trước, các nước Châu Âu lần lượt tiến hành cải
cách giáo dục từ cấu trúc tổ chức đến nội dung, phương pháp giáo dục và giảng dạy,
đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ vượt bậc
của khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế để đạt tới một số
chuẩn mực chung về trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề, trong đó công tác
giáo dục hướng nghiệp cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm và trở thành vấn
đề cấp thiết.[ 25;156]
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa nền giáo
dục nhằm vào các hướng: tăng cường giáo dục khoa học tự nhiên và toán học trong
đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào để
đảm bảo sự liên hệ giữa trường học và đời sống… Cải cách giáo dục phải chú ý đặc
biệt tới giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và
quan niệm coi giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại hai. Để phát triển
mang tính phân hóa, nhằm mục tiêu hướng nghiệpcho học sinh lớn bước vào học
trường nghề và cuộc sống. Các nhà giáo dục Liên bang Nga cho rằng trong các tiêu
chí đánh giá chất lượng học sinh thì “Sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn là giá trị
cao nhất” [36;18]
Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp ( GDHNLN – Career Education ) ở những
trường học Australia nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua
một chương trình học tập được kế hoạch hóa. Việc giáo dục này giúp cho học sinh tự
đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và
sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động. Cá nhân con
người thường xuyên lao động suốt đời: ở nhà, trong hệ thống giáo dục chính quy, ở
cộng đồng. Mô hình vai trò trong lao động mà cá nhân phát triển trong cuộc đời là kết
quả của hàng loạt tác động qua lại của những yếu tố tâm lý, xã hội, giáo dục, vật chất,
kinh tế và cơ hội may mắn…Giáo dục hướng nghiệp, lập nghiệp yêu cầu học sinh
phải hiểu biết những yếu tố nói trên và phát triển năng lực chuẩn bị, thiết lập và thực
hiện các những quyết định hướng nghiệp, lập nghiệp cho bản thân. [6; 42]
Để phục hồi và phát triển nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh thế giới
lần thứ hai, chính phủ Nhật Bản trong quản lí kinh tế đã có sự thay đổi hết sức căn
bản, từ bỏ phát triển các ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh, chuyển sang phát
triển các ngành công nghiệp phục vụ đời sống của nhân sinh, xóa bỏ sự độc quyền
của Nhà nước, khuyến khích toàn dân tham gia phát triển kinh tế, mở cửa và tạo mọi
điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư bên ngoài…Sự thay đổi cơ cấu kinh
tế đã ảnh hưỏng đến đến chính sách phát triển giáo dục Nhật Bản. Mục tiêu phát triển
quốc gia hướng chủ yếu về kinh tế - thương mại. Giáo dục thay đổi dựa trên cơ sở
triết lý phúc lợi và bình đẳng. Người Nhật hướng vào sự cần cù, nhẫn nại, phục tùng
để phục hưng nền kinh tế với khẩu hiệu mới “tinh thần Nhật Bản – công nghệ phương
Tây”. Do đó, giáo dục kĩ thuật – chuyên nghiệp hướng mạnh vào yêu cầu thực hành
và ứng dụng, tiếp thu công nghệ được chuyển giao và chuẩn bị cho những bước phát
triển mới.
Cũng như các quốc gia khác ở Đông Nam Á, Thái Lan cũng phải đương đầu với
thực trạng thấp kém của đội ngũ lao động đông đảo, chưa được qua đào tạo và nạn
tế - xã hội.
Các nhà giáo dục cần xác định rõ mục tiêu hiện nay là: đạo tạo, xây dựng thế hệ
những con người Việt Nam mới có bản lĩnh, tự chủ, trung thực, năng động, sáng tạo,
có hoài bão, có ý chí vươn lên, biết hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, biết làm giàu
cho bản thân và góp phần làm giàu cho đất nước, có đạo đức, phong cách phù hợp
với yêu cầu của nền công nghiệp hóa – hiện đại hóa, giữ gìn bản sắc truyền thống dân
tộc Việt Nam và chủ động hội nhập được với khu vực và quốc tế. Tiếp tục khẳng
địng và củng cố quan điểm: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho giáo dục là
đầu tư cho phát triển”, “ giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn
dân”, “Đảng, Nhà nước và nhân dân đếu có trách nhiệm quan tâm, chăm lo cho sự
nghiệp phát triển giáo dục”. Bởi giáo dục là động lực phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh, quốc phòng, giáo dục có phát triển nhanh, mạnh; giáo dục có đảm bảo chất
lượng thì mới đẩy mạnh được công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.
Đảng ta có nhiều văn kiện, Nghị quyết về giáo dục, nhấn mạnh ý nghĩa của việc
giáo dục toàn diện, đảm bảo chuẩn mực ở từng cấp học, bậc học. Bên cạnh Việc học
tập tri thức văn hóa, học vấn phổ thông cần tăng cường giáo dục thể chất, giáo dục
thẩm mĩ, giáo dục hướng nghiệp và các kỹ năng, kiến thức cần thiết cho thực tiễn
cuộc sống.
Ở Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII trong văn kiện của Đảng, đã đề ra nhiệm
vụ cho ngành giáo dục cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kỹ thuật tổng
hợp - hướng nghiệp; ở Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX tiếp tục khẳng định lại
những mục tiêu và yêu cầu về giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp. Đến Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng có thông qua văn kiện xác định đổi
mới toàn diện giáo dục – đào tạo, trong đó yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở
cấp trung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng học
sinh từ cấp trung học cơ sở.
Trong các quan điểm chỉ đạo của chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 do
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/2001/ QĐ – Ttg ngày 28/12/2001, có nêu rõ:
“Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý
luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn với giáo dục gia đình và giáo dục xã
Minh” – Nguyễn Hữu Thiện (2004), tập trung nghiên cứu thực trạng về công tác quản
lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh
chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích thực trạng vì thiếu thông tin, sự hiểu biết
của học sinh về các ngành, nghề trong xã hội dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương
lai của các em không phù hợp cũng như các hình thức giáo dục hướng nghiệp trong
nhà trường còn nhiều hạn chế. Đề tài chưa đề cập đến sự lãnh đạo phối hợp giáo dục
của nhà trường – gia đình – xã hội trong công tác giáo dục hướng nghiệp cho các em.
Nhìn chung chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ về
quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nói chung của các
trường THPT nói riêng. Hiện tại, Quận Gò Vấp chưa có công trình nghiên cứu nào đề
cập đến thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số
trường THPT trong quận chưa được đề cập đến.
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong
trường trung học phổ thông
1.2.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1.1. Khái niệm quản lí:
Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt
động của con người. Quản lí đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận
động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công.
Có nhiều quan niệm tiếp cận khác nhau:
Theo Tự điển Tiếng Việt thông dụng (NXB giáo dục, 1998) quản lí là tổ chức,
điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Theo F.W Taylor: “Quản lí là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau
đó thấy rằng họ đã hoàn thiện công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.”
H. Koontz thì khẳng định: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối
hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm”.
Theo Kozlova O.V. và Kuzenlsov I. N thì cho rằng: “Quản lí là sự tác động có
mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong
quá trình sản xuất”
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát
thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ.”
- Theo Phạm Minh Hạc thì quản lý giáo dục cũng chính là quản lý nhà trường
“quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học… có tổ chức
được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt
Nam Xã hội chủ nghĩa mới quản lí được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo
dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân,
của đất nước” [24, 71- 72]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành
theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ
trẻ, đưa hệ thống giáo dục hướng tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái về chất.[35,
35]
Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống , hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên,
công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và
ngoài trường nhằm thực hiện các chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà
trường.[38, 38] Quản lí giáo dục nằm trong quản lý văn hóa – tinh thần. Quản lý hệ
thống giáo dục là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức, có hướng đích của
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống ( từ bộ đến
nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ
sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các qui luật của
quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của người học [39,16]
Từ các quan điểm trên ta có thể hiểu khái niệm quản lí giáo dục là quá trình tổ
chức và điều chỉnh sự vận hành của ba yếu tố: yếu tố tư tưởng, yếu tố con người, và
các điều kiện vật chất diễn ra trong điều kiện của những quan hệ quản lý xác định,
nhằm đạt đến mục tiêu của quá trình quản lý hoạt động giáo dục. Đó là hệ thống
những tác động có định hướng, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên các hệ
thống vận hành giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thự hiện có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
sớm có ý thức chọn ngành, nghề vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp
với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông. [2, 29]
Như vậy, giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà
trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, tri thức,
kỹ năng để họ sẵn sàng đi vào các ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục hướng nghiệp góp phần phát huy năng lực, sở
trường của từng người, đồng thời góp phần vào việc điều chỉnh nguyện vọng của cá
nhân cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội.
1.2.1.5. Khái niệm quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường học:
Như trên đã nêu, giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục của gia
đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm định
hướng và chuẩn bị cho học sinh về nghề nghiệp trong tương lai, giáo dục về tư tưởng,
tâm lý, ý thức, cũng như những kỹ năng ban đầu.
Từ khái niệm quản lí giáo dục và quản lí trường học, ta có thể hiểu khái niệm
quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông là tập hợp các tác
động có tổ chức, có kế hoạch, kiểm tra, tổng kết và điều chỉnh có định hướng của chủ
thể quản lí đến đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường, nhằm thực hiện mục đích giáo dục cho học sinh trong việc chọn ngành, nghề
vừa đáp ứng được nhu cầu xã hội và yêu cầu của nghề nghiệp, vừa phù hợp với
nguyện vọng, hứng thú, năng lực, sở trường của học sinh, đảm bảo cho việc triển khai
các con đường giáo dục hướng nghiệp đạt được nội dung và yêu cầu đề ra.
1.2.2. Lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT.
1.2.2.1. Mục tiêu của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT
Phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các
em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề, hiểu được xu thế phát triển hệ thống nghề trong
xã hội.Thông qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp, giáo viên giúp học sinh điều
chỉnh động cơ học nghề, trên cơ sở đó các em định hướng đi vào lĩnh vực sản xuất
mà xã hội đang có nhu cầu nhân lực [ 9,10 ]
12.2.2 Nhiệm vụ và các biểu hiện của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
THPT