ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM TRUNG DIỆN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
Trang
- LỜI CẢM ƠN 1
- NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT 2
- MỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………… 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề ………………………… 7
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài .………………………… 8
1.3. Những vấn đề cơ bản của HĐGD NGLL ………… 15
1.4. Vai trò quản lý của hiệu trưởng đối với HĐGD NGLL ở trường THPT
……… …… 25
Tiểu kết chương 1: 28
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KIẾN
AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1.Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội - giáo dục quận Kiến An 30
2.2. Thực trạng giáo dục ở trường THPT Kiến An 31
2.3. Thực trạng công tác quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Kiến An
………… … 34
2.4. Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 67
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3:BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN
LỚP CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3.1. Những nguyên tắc để đề xuất biện pháp……… 71
3.2. Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của trường THPT Kiến An 72
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý HĐGD NGLL………………89
- 2 -
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
BTĐTN : Bí thư Đoàn thanh niên
CB : Cán bộ
CBĐ : Cán bộ đoàn
CBQL : Cán bộ quản lý
CBQLGD : Cán bộ quản lý giáo dục
CĐ : Cao đẳng
CMHS : Cha mẹ học sinh
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CSVC : Cơ sở vật chất
CSVN : Cộng sản Việt Nam
ĐH : Đại học
ĐHGD : Đại học Giáo dục
ĐHQG : Đại học Quốc gia
ĐHSPHN : Đại học Sư phạm Hà Nội
GDHS : Giáo dục học sinh
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GVBM : Giáo viên bộ môn
HT : Hiệu trưởng
KH : Khoa học
NV : Nhân viên
NXB : Nhà xuất bản
HĐGDNGLL là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục ở các nhà trường,
được thực hiện có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, được tiến hành xen kẽ với chương
trình dạy học và diễn ra trong suốt năm học. HĐGDNGLL góp phần hoàn thiện nội dung
giáo dục trong các nhà trường phổ thông.
Quận Kiến An là một quận mới của thành phố Hải Phòng, mật độ dân số cao,
kinh tế đang trên đà phát triển. Mặt trái của sự phát triển dân số và kinh tế là sự gia tăng
của các tệ nạn xã hội gây khó khăn không nhỏ đến quá trình giáo dục học sinh trong các
trường trên địa bàn quận nói chung và các trường trung học phổ thông (THPT) Kiến An
nói riêng. Trên thực tế, ở những trường mà cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cha
mẹ học sinh nhận thức được tầm quan trọng của HDGDNGLL đối với sự phát triển toàn
diện của học sinh và tổ chức được nhiều HĐGDNGLL thì chất lượng dạy và học được
nâng cao, đặc biệt là ngăn ngừa được các tệ nạn xã hội xâm nhập học đường.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ở một số trường THPT địa bàn
quận hiện nay còn coi nhẹ công tác giáo dục toàn diện trong đó có HĐGDNGLL. Ngay
cả trong nội bộ trường THPT Kiến An tuy có nhiều thành công trong công tác giáo dục
toàn diện học sinh vẫn có những tập thể và cá nhân chưa thật sự thấy hết được ý nghĩa to
lớn của HĐGDNGLL đối với học sinh của nhà trường. Cơ sở vật chất của trường còn
- 6 -
thiếu thốn, nên việc tổ chức các hoạt động rất khó khăn, có những hoạt động quan trọng
không tổ chức được hoặc tổ chức rất hình thức cho hoàn thành nhiệm vụ. Môi trường
giáo dục gia đình và xã hội không thuận lợi, còn nhiều tiêu cực dẫn đến nhận thức, tâm
lý, hành vi, lý tưởng của một bộ phận học sinh còn chưa lành mạnh. Các chuẩn mực về
giá trị xã hội thay đổi nhanh, có những giá trị chuẩn mực đẹp đẽ của thế hệ cũ bị mai
một, lãng quên. Vấn đề quản lý, giáo dục học sinh theo hướng toàn diện phù hợp với điều
kiện của nhà trường luôn là vấn đề khó đối với lãnh đạo các nhà trường.
Với những lý do trên, tôi chọn hướng nghiên cứu với đề tài:
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT Kiến
An thành phố Hải Phòng.
2/ Mục đích nghiên cứu
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp toạ đàm
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp toán thống kê xử lý số liệu thu thập được
- Phân tích, so sánh rút ra nhận định
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn trình bày trong ba chương như sau:
Chương 1. Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT
Chương 2. Thực trạng các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của trường THPT
Kiến An thành phố Hải Phòng.
Chương 3. Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của trường THPT Kiến An thành
phố Hải Phòng. CHƯƠNG 1
- 8 -
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
việc ra đời chương trình HĐGDNGLL trong thời kỳ đổi mới và tìm những biện pháp có
hiệu quả, khả thi để chương trình này trở thành hiện thực là một việc làm cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay.
Các nhà nghiên cứu và các nhà QLGD như , Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quốc Chí,
Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Nhật Thăng, Bùi Sỹ Tụng, Lê Văn Cầu, Nguyễn Dục Quang
…đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của
HĐGDNGLL như vai trò, biện pháp quản lý, hình thức tổ chức trong trường và ngoài
nhà trường ở các bậc học khác nhau. Hiện nay có nhiều tài liệu, nhiều luận án tiến sĩ,
luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề này:
- Hoàng Thị Minh Hương với nghiên cứu luận văn thạc sĩ: các biện pháp quản lý
HĐGDNGLL của hiệu trưởng trường tiểu học quận Hồng Bàng-Hải Phòng
- Nguyễn Thị Thành với luận án tiến sĩ "Các biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cho
HS THPT
- Trong sách "HĐGD NGLL" dành cho HS THPT - sách giáo viên 10,11,12 cũng
đã nêu lên mục tiêu, nội dung chương trình, phương tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức
HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của HS, đồng thời hướng dẫn thực
hiện cụ thể các chủ điểm
- 9 -
Như vậy đã có không ít các tác giả nghiên cứu về vấn đề HĐGD NGLL nhưng ở
nhiều khía cạnh khác nhau, song về góc độ HĐ quản lý của hiệu trưởng đối với
HĐGDNGLL ở trường THPT Kiến An nói riêng và các trường THPT ở quận Kiến An là
chưa được đề cập có hệ thống, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề HĐGD
NGLL khối THPT tại thành phố Hải Phòng.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý
Quản lý là một hiện tượng có thuộc tính lịch sử, nó là nội tại của quá trình
lao động. QL là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con
người. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. QL là một hoạt động cần
thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã
lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [18,tr 59] Năm yếu tố trên đã tồn
tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong QL hiện đại.
- Mary Parker Follett (1868 - 1933) đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết
hành vi QL khẳng định: “QL là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không
tĩnh tại”
- P.Drucker luôn nhấn mạnh QL sinh ra từ thực tiễn và trở về với thực tiễn. Ông
quan niệm: “Quyền uy duy nhất của QL chính là thành tựu mà nó có thể đạt được”
[18,tr.338]
- 10 -
- H.Koontz (Mỹ), người được coi là cha đẻ của lý luận QL hiện đại, đã viết: “QL
là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được
các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
[16,tr29]
- Theo từ điển Tiếng Việt: QL là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị,
một cơ quan”, “là trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì”. Nghĩa Hán Việt của “quản” là
trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá
trình “lý” bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển.
Trong “quản” phải có “lý” thì toàn bộ mới có thể phát triển, trong “lý” phải có “quản” thì
sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ
với nhau thì toàn hệ mới đạt được thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong
mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài.
-Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động QL gồm hai quá trình tích
hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn
định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới đưa hệ vào thế phát triển”. Vậy
quản lý = Quản + Lý
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà
không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.
Vậy: Quản lý = Ổn định + Phát triển.
- Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị
thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn
lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của
từng người.
Trong khái niệm QL bao gồm các yếu tố sau:
+ Chủ thể QL: Là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra những tác
động QL. Nó trả lời câu hỏi “Ai QL?”
+ Khách thể QL: là đối tượng tiếp nhận các tác động QL. Khách thể QL có thể là
người,là vật hoặc sự việc. Trả lời câu hỏi “QL ai?”,“QL cái gì?”, “QL việc gì?”.
+ Mục tiêu QL là quĩ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ thể, chính mục tiêu là
căn cứ cho chủ thể tạo ra các tác động QL.
Nói tóm lại: “QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến
khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung”.
Ngày nay xã hội phát triển, vai trò của QL càng ngày càng được nhấn mạnh và nội
dung hoạt động quản lý HĐQL càng phức tạp. QL luôn gắn bó với tổ chức cụ thể và là
nhân tố quyết định sức sống và sự thành công của tổ chức. Mỗi lĩnh vực HĐQL XD riêng
cho mình một hệ thống lý luận QL riêng. Mỗi cấp QL cũng cần ứng dụng lý luận chung
và lý luận cụ thể cho phù hợp với qui mô tổ chức và đặc thù HĐ của mình thì những quy
luật trong QL mới phát huy tác dụng. Tác động QL thường mang tính tổng hợp gồm
nhiều biện pháp khác nhau. Vì vậy, trong QL không thể tuân thủ theo những quy định
cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo.
Quá trình tác động này được thể hiện qua như sau:
Công cụ
Lãnh đạo/ chỉ đạo
Lập kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình QL
1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng đặc trưng của con người, nó có từ khi sinh ra loài
người. Để tồn tại và phát triển, con người trải qua quá trình lao động bởi trong lao động
con người có thể tích lũy kinh nghiệm và truyền cho thế hệ sau, ban đầu là tự phát sau trở
thành tự giác, có ý thức, có mục đích, có chương trình và kế hoạch. Ngày nay GD là HĐ
rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ quyền hạn của mọi công dân, mọi tổ
chức kinh tế xã hội đồng thời có tác dụng mạnh đến tiến trình phát triển của đất nước.
QLGD là một khoa học QL chuyên ngành được nghiên cứu trên nền tảng của khoa
học nói chung, đồng thời cũng là bộ phận của khoa học GD. QLGD đã ra đời và hình
thành từ nhiều quan điểm khác nhau do mỗi phương thức sản xuất của xã hội có một
cách QL khác nhau. Chẳng hạn ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN ) do vận dụng lý
luận quản lý xí nghiệp vào QL cơ sở GD (trường học) và coi QL cơ sở GD như một loại
“xí nghiệp đặc biệt”. [22, tr.250]
Trái lại các nước XHCN do vận dụng QL xã hội vào QLGD nên QLGD được xếp
chủ thể QL lên đối tượng QL là quá trình dạy - học và GD diễn ra tại cơ sở GD.
QLGD được hiểu một cách cụ thể là QL một hệ thống GD, đó có thể là một
trường học, một trung tâm khoa học kỹ thuật, hướng nghiệp, dạy nghề, một tập hợp các
cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư.
QL một cách khoa học (là việc tối ưu) trong đó chủ thể QL phải nắm được các quy
luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng QL.
1.2.3. Quản lý trường học
Bản chất của QL nhà trường là QL hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập và các
hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Thông qua quá trình QL nhằm tập hợp và tổ
chức các hoạt động của giáo viên (GV), học sinh (HS) và các lực lượng khác, cũng như
huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong
nhà trường. Các hoạt động trong nhà trường bản thân nó đã có tính GD song cần có sự
QL, tổ chức chặt chẽ mới phát huy được hiệu quả của bộ máy.
“QLGD trên cơ sở QL nhà trường là một phương hướng cải tiến QLGD theo
nguyên tắc tăng cường phân cấp QL nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách
nhiệm và quyền hạn của các chủ thể QL trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục. đào tạo
mà xã hội đang yêu cầu. Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện
mục tiêu đào tạo, giáo dục nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức, đạo đức mà
nhân loại đã sàng lọc, triết xuất được cho thế hệ trẻ. Vì vậy, nhà trường trong bất cứ xã
hội nào cũng sẽ là tâm điểm hội tụ của hoạt động giáo dục và QLGD” [13, tr.25]
Theo Phạm Khắc Chương, hoạt động QLGD trên cơ sở hoạt động QL nhà trường
nhằm vào các nội dung chủ yếu sau:
1.QL cơ sở vật chất (CSVC) và các nguồn lực tạo nên sự vận hành và phát triển của nhà
trường theo quy định của pháp luật.
2. Xây dựng củng cố các cơ cấu cần thiết giữa nhà trường và các lực lượng hữu quan
ngoài nhà trường có diều kiện tham gia trực tiếp vào tất cả các hoạt động.
3. Nâng cao trách nhiệm và các quyền hạn của giáo viên tham gia vào quá trình quyết
định QL các mặt tài chính nhân sự … kể cả cải tiến nội dung, phương pháp dạy học phù
hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường.
4. QL hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương
- QL các chủ thể bên trong nhà trường nhằm cụ thể hóa các chủ trương đường lối, chính
sách GD… thành các kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để đưa nhà trường đạt các mục
tiêu đề ra.
* Vị trí vai trò của hiệu trưởng
Tại điều 54 mục 1 luật giáo dục ban hành năm 2005 quy định: “Hiệu trưởng là
người chịu trách nhiệm QL các hoạt động của nhà trường, do cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”.[6, tr.98] Như vậy, nhà trường có thực hiện được
mục tiêu, nhiệm vụ của mình hay không một phần quyết định là tùy thuộc vào những
phẩm chất và năng lực của hiệu trưởng. Vai trò tổ chức, quản lý của HT có ý nghĩa vô
cùng quan trọng to lớn đối với mọi hoạt động của nhà trường. Ngày nay, cải tiến phương
pháp QL và dân chủ hóa trong nhà trường nhằm phát huy cao độ tính tích cực của đội
ngũ GV thì vai trò của người HT càng nổi bật hơn bao giờ hết.
Người hiệu trưởng phải hiểu rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nội dung giáo
dục, nắm chắc các phương pháp, nguyên tắc giáo dục. Người HT có chức năng tổ chức
mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường, làm cho các chủ trương, đường lối, nội dung,
phương pháp giáo dục được thực hiện một cách có hiệu quả. Do vậy năng lực tổ chức
thực tiễn của người HT quyết định hiệu quả của QLGD. Trong công tác tổ chức thực tiễn
người HT phải có tri thức cần thiết về khoa học tổ chức, đặc biệt phải biết QL con người.
Vì vậy lao động QL của HT vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.
*Chức năng QL của HT
QL là một hoạt động mang tính khoa học rất cao, đối với người HT một nhà
trường cần phải tìm tòi một phương thức phù hợp với đặc trưng là vừa QL vật chất, vừa
QL con người để GD con người. Do đó chức năng QL của HT được thực hiện bằng các
phương thức sau:
- Chức năng lập kế hoạch: Kế hoạch năm học là cụ thể hóa việc thực hiện nhiệm
vụ năm học với các mục tiêu, nội dung, biện pháp rõ ràng nhằm đưa nhà trường đến trạng
thái mong muốn vào cuối năm học. Kế hoạch là cơ sở để thống nhất mọi hoạt động của
các lực lượng GD trong nhà trường và ngoài nhà trường nhằm thực hiện nhiệm vụ năm
học. Việc lập kế hoạch đòi hỏi người HT phải quan tâm đầy đủ đến kế hoạch dài hạn,
ngắn hạn, kế hoạch tổng thể, bộ phận.
- Lê Trung Trấn cho rằng HĐGDNGLL là những hoạt động giáo dục(HĐGD)
được thực hiện ngoài thời gian học tập, nhằm lôi cuốn đông đảo HS tham gia để mở rộng
hiểu biết, tạo không khí vui tươi lành mạnh, tạo cơ hội để HS tự chọn các chẩn mực đạo
đức, nghệ thuật, rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy tối đa năng lực, sở
thích của từng cá nhân.
- Điều 24, điều lệ trường phổ thông còn ghi: “HĐGDNGLL bao gồm các HĐ
ngoại khóa về văn học, TDTT nhằm phát triển năng lực toàn diện của HS và bồi dưỡng
HS có năng khiếu, các HĐ vui chơi, tham quan, du lịch, giáo dục văn hóa, các HĐGD
môi trường, các HĐ lao động công ích, các HĐ xã hội, các HĐ từ thiện phù hợp với đặc
điểm sinh lý lứa tuổi HS” [4, tr68]
- Ngoài ra còn một số khái niệm cho rằng HĐGDNGLL là những HĐ được tổ
chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối HĐ dạy - học , là con đưòng gắn
lý thuyết với thực tiễn tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS.
Như vậy có thể nói rằng: HĐGD NGLL là những HĐ được tổ chức ngoài thời
gian học trên lớp, được thể hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà
trường, HĐ nối tiếp và thống nhất hữu cơ với HĐ học tập trên lớp nhằm góp phần hình
thành và phát triển nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội.
HĐGDNGLL là con đường gắn lý thuyết với thực hành, gắn giáo dục của nhà
trường với thực tiễn xã hội. HĐGDNGLL là các "giờ học thực hành" các giờ học đặc biệt
này đòi hỏi HS không chỉ có kiến thức lý luận học trong sách vở mà phải có vốn hiểu biết
thực tế sống động, biết vận dụng vào giải quyết các tình huống cụ thể. Như vậy
HĐGDNGLL làm cho quá trình đào tạo của nhà trường dần trở nên phù hợp hơn thiết
thực với thực tiễn xã hội.
- 16 -
Trong đổi mới giáo dục hiện nay HĐGDNGLL là hoạt động bắt buộc, diễn ra trong
suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục. Đây là hoạt động
giáo dục cơ bản được tổ chức thực hiện theo kế hoạch của trường, tiếp nối và thống nhất
với hoạt động dạy và học nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách
HS theo mục tiêu đào tạo.
các em.
- 17 -
- HĐGDNGLL giúp HS hướng nhận thức, biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối
sống cho phù hợp. Trên cơ sở ấy cũng từng bước làm giàu thêm những kinh nghiệm thực
tiễn, xã hội cho các em.
- HĐGDNGLL giúp HS định hướng chính trị, xã hội, có những hiểu biết nhất định
về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và bảo vệ tổ chức, truyền
thống văn hoá của đất nước Từ đó tăng thêm sự hiểu biết của các em về Bác Hồ, về
Đảng, về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
- HĐGDNGLL giúp HS có những hiểu biết tối thiểu về các vấn đề có tính thời đại
như: hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, bảo vệ môi trường, sự phát triển dân số, vấn
đề chăm sóc sức khoẻ vị thành niên, vấn đề quyền trẻ em, vấn đề ATGT, phòng chống tệ
nạn ma tuý và chất gây nghiện cũng như các tệ nạn xã hội khác như HIV/AIDS, vi phạm
pháp luật
* Mục tiêu về rèn luyện kỹ năng
Kỹ năng được hình thành và phát triển trong hoạt động và bằng hoạt động. Kỹ năng
bao gồm kỹ năng tham gia hoạt động, kỹ năng tổ chức hoạt động, kỹ năng đánh giá kết
quả hoạt động. Mục tiêu quan trọng của HĐGDNGLL là rèn luyện kỹ năng cơ bản, cần
thiết cho HS THPT.
- HĐGDNGLL rèn cho HS những kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hoá. Giao tiếp
là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh
sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh
hưởng và tác động qua lại lẫn nhau. Giao tiếp là nhu cầu của con người muốn tiếp xúc
với con người. Nhu cầu tiếp xúc với những người khác trở thành tâm thế của mỗi người
để cùng hợp tác với nhau hướng tới mục đích trong học tập, lao động, vui chơi và các
hoạt động tập thể khác. Vì vậy rèn kỹ năng giao tiếp cho HS thông qua HĐGDNGLL là
rất cần thiết.
- HĐGDNGLL rèn cho HS các kỹ năng tự quản các hoạt động tập thể. Đó là những
kỹ năng lập kế hoạch hoạt động, kỹ năng thiết kế chương trình hoạt động, kỹ năng tự
cạnh tranh; tổ chức quản lý; hoạt động chính trị - xã hội; nghiên cứu khoa học; lao động
nghề nghiệp.
1.3.2.Vị trí, vai trò của HĐGD NGLL
*Vị trí
Quá trình dạy học và quá trình giáo dục là những bộ phận của quá trình sư phạm
tổng thể. Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền thụ cho HS những tri thức khoa học
cơ bản và có hệ thống còn phải luôn mang lại hệ quả giáo dục nhân cách cho các em.
Ngược lại, trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho HS về ý thức và niềm tin,
về thái độ ứng xử đúng đắn trong các quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi và kỹ năng
hoạt động còn phải tạo cơ sở để HS bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học ở trên
lớp.
Kết quả giáo dục cuối cùng được đánh giá qua hành vi, kỹ năng của HS. Nếu chỉ
qua việc học tập các môn học ở trên lớp thì việc hình thành hành vi, rèn luyện các kỹ
năng sẽ gặp nhiều khó khăn. Bởi vì với thời gian quy định của một tiết học, HS khó có
khả năng thể nghiệm những tri thức thu nhận được qua các bài học. Vì vậy, việc tổ chức
hoạt động giáo dục khác nhau vào thời gian ngoài giờ lên lớp là điều kiện quan trọng để
rèn luyện hành vi, kỹ năng cho HS.
- 19 -
Như vậy, tổ chức HĐGD NGLL thực sự là cần thiết, là một đòi hỏi tất yếu của quá
trình giáo dục và không có gì có thể thay thế được. Có thể nói, HĐGD NGLL đối với lứa
tuổi PT chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục.
*Vai trò
Từ vị trí quan trọng nêu trên, có thể thấy rõ vai trò của HĐGDNGLL trong trường
THPT thể hiện ở những điểm sau:
- Đây là dịp để HS củng cố kết quả hoạt động dạy - học ở trên lớp, biến tri thức
thành niềm tin. Thông qua hình thức hoạt động cụ thể, HS có dịp để đối chiếu, để kiểm
nghiệm tri thức đã học, bổ sung, cập nhập thông tin làm cho tri thức đó trở thành của
chính các em. HĐGDNGLL với nhiều nội dung hấp dẫn, kiến thức tích hợp nhiều lĩnh
vực khoa học và cuộc sống có tác dụng bổ trợ cho hoạt động dạy học ở trên lớp, nâng cao
Với vị trí và vai trò quan trọng của mình, HĐGDNGLL thực sự là một bộ phận cấu
thành trong hệ thống các hoạt động giáo dục ở nhà trường THPT hiện nay. Thực hiện các
HĐGDNGLL tích cực và hiệu quả sẽ góp phần vào việc gắn liền nhà trường với cuộc
sống xã hội, thiết thực phục vụ sát những mục tiêu kinh tế - xã hội và quốc phòng trong
giai đoạn CNH - HĐH đất nước.
1.3.3. Nội dung HĐGDNGLL
* Nguyên tắc lựa chọn nội dung của HĐGDNGLL
- Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Nội dung của HĐGD NGLL
phải phản ánh được những thay đổi của quê hương đất nước trong giai đoạn CNH - HĐH
hiện nay. Đây là những chất liệu sống động giúp HS nâng cao thêm hiểu biết về sự phát
triển kinh tế, xã hội và văn hoá của địa phương mình, của đất nước, đồng thời giúp các
em có thêm thông tin về bạn bè quốc tế. Vì vậy, khi xây dựng và sắp xếp nội dung hoạt
động của từng chủ điểm giáo dục cần cập nhập thông tin mới để đưa vào hoạt động cụ
thể.
- Nguyên tắc đảm bảo phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS. Tính tích
cực, độc lập, sáng tạo được coi là những tiêu chí đánh giá khả năng tham gia hoạt động
của HS, trình độ tự quản các hoạt động tập thể của các em. Đối với HS THPT, nguyên tắc
này phải được quán triệt trong quá trình tổ chức hoạt động cho HS, phải được thể hiện từ
bước chuẩn bị hoạt động, đến bước tiến hành hoạt động và sau cùng là bước đánh giá kết
quả của hoạt động. Trong mỗi bước, HS phải được thực sự phát huy khả năng của mình,
được bày tỏ quan điểm cũng như những sáng kiến nhằm giúp cho chính hoạt động của
tập thể đạt hiệu quả.
- Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi và tính cá biệt của HS. Nội dung của
HĐGDNGLL phải được thay đổi tuỳ thuộc vào sự chuyển từ giai đoạn lứa tuổi này sang
lứa tuổi khác. GV phải lựa chọn được các nội dung HĐGDNGLL khác nhau sao cho phù
hợp với nhu cầu và khả năng của HS THPT cũng như phù hợp với hứng thú của cá nhân.
Chính vì vậy, GV cần thường xuyên nghiên cứu đặc điểm của HS, ghi nhận những cái
mới được hình thành ở các em để có thể kịp thời đề xuất và điều chỉnh nội dung hoạt
động cho phù hợp.
* Nội dung của HĐGDNGLL ở trường THPT
dục thể thao các em sẽ có điều kiện để rèn luyện thể lực, tăng cường thể lực, tăng cường
sức khoẻ, hình thành nhiều phẩm chất tốt như: ý thức tổ chức kỷ luật, ý chí vượt khó, tinh
thần đồng đội, tính kiên trì, lòng dũng cảm, tình đoàn kết, lòng tự trọng, tinh thần cao
thượng Hoạt động thể dục thể thao diễn ra dưới nhiều hình thức như: thể dục chống mệt
mỏi, các hình thức nghỉ ngơi tích cực ( thể dục nhịp điệu, đá cầu, nhảy dây, các trò chơi
tập thể ), các giải bóng đá, cờ vua, điền kinh, Hội khoẻ Phù đổng, ngày hội thể thao toàn
trường.
- Hoạt động lao động, khoa học, kỹ thuật, hướng nghiệp: đây là một loại hình hoạt
động có trong chương trình HĐGDNGLL. Nội dung của loại hình hoạt động này nhằm
đáp ứng những hứng thú và niềm say mê tìm tòi cái mới trong học tập, ứng dụng kiến
thức của HS vào trong thực tế. Đó là các hoạt động của CLB tìm hiểu xã hội, khoa học
theo các chuyên đề (toán, lý, hoá, sinh ); sưu tầm, tìm hiểu về các danh nhân, nhà bác
học, những tấm gương ham học, say mê phát minh sáng chế; nghe nói chuyện về các
ngành nghề trong xã hội, các thành tựu khoa học kỹ thuật; thi làm đồ dùng học tập, dụng
cụ trực quan; tham gia các cơ sở sản xuất - các công trình khoa học, xem triển lãm về
thành tựu kinh tế, xã hội.
- 22 -
- Hoạt động vui chơi giải trí: vui chơi giải trí góp phần tăng cường sức khoẻ, giúp
học sinh cân bằng trạng thái tâm lý và phát triển trí tuệ, thúc đẩy khả năng học tập của
các em. Tổ chức hoạt động vui chơi có mục đích giáo dục rõ ràng là một "sân chơi" rất
tốt để rèn luyện cho HS các kĩ năng rất cơ bản như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tổ chức, kĩ
năng điều khiển, kĩ năng cùng tham gia Nội dung của hoạt động vui chơi giải trí cụ thể,
dễ thực hiện và có tác dụng kích thích sự hưng phấn của HS, làm giảm đi sự căng thẳng,
mệt mỏi ở các em. Vui chơi giải trí có nhiều hình thức như: trò chơi vận động, trò chơi
thể thao, trò chơi trí tuệ,tham gia các cuộc thi (kể cả với tư cách là khán giả): thi ứng xử,
thi "Đường lên đỉnh Olympia cấp trường, thi " Rung chuông vàng", thi "MC giỏi"
-Hoạt động lao động công ích: là hoạt động trong đó HS tham gia giữ gìn và bảo vệ
môi trường cảnh quan của nhà trường, địa phương bằng những việc làm hữu ích, thiết
thực, phù hợp với khả năng và hứng thú của các em. Có nhiều hình thức lao động công
cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi giải quyết vấn đề phải coi trọng nguyên tắc tôn
trọng và bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng, không có lợi cho việc giáo dục HS.
Phương pháp giao nhiệm vụ: đây là phương pháp thường được dùng trong nhóm
các các phương pháp giáo dục. Giao nhiệm vụ là đặt HS vào vị trí nhất định buộc các em
phải thực hiện trách nhiệm cá nhân. Giao nhiệm vụ là tạo cơ hội để HS thể hiện khả năng
của mình, là dịp để các em được rèn luyện nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân.
Trong việc tổ chức HĐGDNGLL, giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán sự lớp sẽ tạo nên thế
chủ động cho các em khi điều hành hoạt động. Cán sự lớp sẽ chủ động hơn trong việc
phân công nhiệm vụ cho từng tổ, nhóm, cá nhân với phương châm "lôi cuốn tất cả mọi
thành viên của lớp" vào việc tổ chức thực hiện hoạt động. Vì thế, muốn giao nhiệm vụ có
kết quả, GV cần hình dung được những việc phải làm, gợi ý cho HS và yêu cầu các em
phải hoàn thành tốt. Khi giao nhiệm vụ, cố gắng đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi,
với khả năng của các em. Không yêu cầu quá mức gây lo lắng, hoang mang trong HS.
PP diễn đàn, pp trò chơi, pp tổ chức hội thi, pp HĐ giao lưu, pp CLB
*Hình thức tổ chức cơ bản của HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT rất đa dạng và phong phú.
Nhiều nơi do nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của hoạt động này đã để tâm suy nghĩ, đúc
rút kinh nghiệm, tìm ra những hình thức hoạt động phù hợp, hấp dẫn, đạt hiệu quả giáo
dục cao. Ta có thể phân chia hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp theo các loại sau:
Theo tiến độ thời gian: (thực hiện xen kẽ với chương trình kế hoạch học tập với
các môn học trên lớp)
Hàng ngày:
- Ở trường: đầu giờ truy bài, đọc báo, văn nghệ. giờ ra chơi, vui chơi giải trí.
- Ở nhà: Tự học, học nhóm, học tổ. Giúp đỡ công việc gia đình.
Hàng tuần: Tiết chào cờ đầu tuần, tiết sinh hoạt lớp, tiết hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, câu lạc bộ, thể dục thể thao. Trực tuần. Sinh
hoạt nhóm cán sự học tập. Giáo dục lịch sử truyền thống nhà trường theo lịch đã duyệt.
Bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém.
Hàng tháng: Hoạt động theo chủ điểm, theo chuyên đề.
Hoạt động hè:
cho HS những kỹ năng gì? (kỹ năng điều khiển tập thể, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự
quản, xử lý tình huống, ứng xử ).
Bước 2: Xác định nội dung và hình thức hoạt động
Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động và lựa chọn các hình thức hoạt động
tương ứng. Có thể căn cứ vào khả năng, nhu cầu của HS mà lựa chọn hình thức cho phù
hợp.
Bước 3: Chuẩn bị hoạt động
Hiệu quả của HĐGD NGLL phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn chuẩn bị, đòi hỏi nhà
giáo dục phải vạch ra được tất cả các điều kiện, yếu tố cần chuẩn bị trước cho hoạt động
thành công. Cụ thể:
- Vạch kế hoạch, thời gian chuẩn bị, thời gian tiến hành hoạt động.