BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ XUÂN BỘ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHỌN LỌC
NÂNG CAO KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN
PIÉTRAIN KHÁNG STRESS
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 62.62.01.05 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Lợn Piétrain kháng stress được phát triển từ lợn Piétrain cổ điển của Bỉ từ năm
1983, nhằm giữ lại những ưu điểm của giống lợn này, bên cạnh đó làm giảm mức độ
nhạy cảm với stress bằng phép lai trở ngược để chuyển allen C của Large White thay thế
allen T ở locus halothane của Piétrain (Leroy and Verleyen, 1999a).
Từ năm 2007, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông
nghiệp Việt Nam) đã nhập lợn Piétrain kháng stress và nhân thuần trong điều kiện khí hậu
miền Bắc Việt Nam. Sau 3 năm nhân giống thuần chủng và phát triển trong sản xuất, năm
2011, “lợn đực Piétrain kháng stress nhân thuần tại Việt Nam” đã được Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật. Từ tháng 11 năm 2011, Trung tâm
giống lợn chất lượng cao, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cũng đã trở thành cơ sở
thứ hai nhân giống thuần chủng lợn Piétrain kháng stress tại Việt Nam.
Lợn Piétrain kháng stress đã thích nghi tốt trong điều kiện sinh thái môi trường
miền Bắc nước ta. Tuy nhiên, nghiên cứu này để có thể đánh giá một cách toàn diện và
đầy đủ hơn về khả năng sản xuất của lợn Piétrain kháng stress, đồng thời xây dựng được
định hướng chọn lọc đối với đàn lợn này nhằm đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của
thực tiễn sản xuất chăn nuôi nước ta.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá khả năng sản xuất xây dựng định hướng chọn lọc đối với đàn
lợn Piétrain kháng stress nhằm đáp ứng yêu cầu chăn nuôi lợn hướng nạc của nước ta.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá năng suất chất lượng tinh dịch, năng suất sinh sản, khả năng sinh trưởng,
năng suất, chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sản xuất của lợn Piétrain
kháng stress nuôi ở miền Bắc Việt Nam.
Đánh giá khả năng di truyền và định hướng chọn lọc nâng cao khả năng sinh
trưởng của lợn Piétrain kháng stress nuôi ở miền Bắc Việt Nam.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đóng góp thêm các tư liệu về khả năng sản xuất của lợn Piétrain kháng stress
truyền ở mức cao và hoạt lực tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình có khả năng di truyền ở
mức trung bình (Smital et al., 2005).
Yếu tố giống, phương thức phối và vùng sinh thái có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 2003; Đặng Vũ Bình và cs., 2005; Nguyễn Văn Thắng và Đặng
Vũ Bình, 2005; 2006a, b, c; Đặng Vũ Bình và cs., 2008b; Lê Đình Phùng và Mai Đức Trung,
2008; Lê Đình Phùng và Phan Hữu Tuần, 2008; Ibáñez-Escriche et al., 2009; Phan Xuân Hảo
và Hoàng Thị Thuý, 2009; Pholsing et al., 2009; Nguyễn Ngọc Phục và cs., 2009; Lê Đình
Phùng, 2009; Lê Đình Phùng và Nguyễn Trường Thi, 2009; Nguyễn Văn Đức và cs., 2010;
Phan Xuân Hảo, 2010; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010; Vũ Đình Tôn và Nguyễn
Công Oánh, 2010b; Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình, 2011). Kiểu gen halothane không ảnh
hưởng đến các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain kháng stress (Do et al.,
2013). Sử dụng đực thuần hoặc đực lai không ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
(Mccann et al., 2008). Số con đẻ ra/lứa thường thấp ở lứa thứ nhất, tăng dần và đạt cao nhất
từ lứa thứ 3 đến lứa thứ 5 (Tretinjak et al., 2009). Khả năng di truyền của tính trạng số con sơ
sinh sống/ổ, khối lượng lúc 21 ngày tuổi có khả năng di truyền ở mức thấp (0,11 – 0,17) trên
3
tất cả các giống lợn thuần Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại cách tỉnh phía Nam
(Nguyễn Hữu Tỉnh và cs., 2006). Hệ số di truyền của khối lượng sơ sinh là 0,07, khối lượng
cai sữa là 0,14 và khối lượng 60 ngày tuổi là 0,18 (Tomiyama et al., 2010). Khối lượng sơ
sinh có hệ số di truyền ở mức thấp (Roeche et al., 2009).
Yếu tố giống, phương thức phối có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về năng suất thân
thịt và chất lượng thịt của lợn (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2004; Phùng
Thăng Long, 2005; Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006a, b, c; Phan Xuân Hảo,
2007; Đặng Vũ Bình và cs., 2008a; Nguyễn Thị Lộc và Lê Văn An, 2008; Vũ Đình Tôn
và cs., 2008; Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009; Phùng Thăng Long và Nguyễn
Phú Quốc, 2009; Nguyễn Ngọc Phục và cs., 2009; Nguyễn Văn Đức và cs., 2010; Phan
Xuân Hảo, 2010; Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi, 2010; Đoàn Văn Soạn và Đặng
Vũ Bình, 2010; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010; Vũ Đình Tôn và Nguyễn
Công Oánh, 2010a, b; Phạm Thị Đào và cs., 2013; Đỗ Đức Lực và cs., 2013a). Tính biệt
Piétrain kháng stress là rất cần thiết và chưa từng được nghiên cứu ở nước ta.
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Lợn Piétrain kháng stress nguồn gốc từ Bỉ
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Khả năng sản xuất của lợn Piétrain kháng stress
- Định hướng chọn lọc đối với lợn Piétrain kháng stress
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Khả năng sản xuất của lợn Piétrain kháng stress
2.3.1.1. Phẩm chất tinh dịch của lợn Piétrain kháng stress
a. Vật liệu
Lợn đực Piétrain kháng stress: 45 con (31 lợn đực nuôi tại trại Đồng Hiệp và 14
lợn đực nuôi tại Trung tâm Giống lợn) với 1342 lần khai thác tinh.
b. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trại Đồng Hiệp từ tháng 1/2009 đến tháng 8/2014
và Trung tâm Giống lợn từ tháng 11/2011 đến tháng 8/2014.
Thể tích tinh dịch (V, ml) được xác định bằng cốc đong chia vạch. Hoạt lực tinh
trùng (A, 0 ≤ A ≤ 1) được xác định bằng kính hiển vi. Nồng độ tinh trùng (C, triệu/ml)
được xác định bằng máy xác định nồng độ tinh trùng (SDM5 của hãng Minitube, Đức).
Tổng số tinh trùng tiến thẳng (tỷ/lần) được xác định bằng tích của ba chỉ tiêu V, A và C.
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%) được xác định bằng phương pháp nhuộm và soi trên kính
hiển vi. Sức kháng của tinh trùng được xác định bằng phương pháp của Milovanov
(1962). Giá trị pH tinh dịch được đo bằng máy pH (Metter Toledo MP 220).
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1 (2002). Các tham số thống kê bao
gồm: dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất
(Min) và giá trị lớn nhất (Max). Sử dụng thủ tục GLM SAS 9.1 (2002) để phân tích các
yếu tố ảnh hưởng theo mô hình thống kê:
Y
ijklmn
Trung tâm Giống lợn); Y
l
: ảnh hưởng của năm thứ l
th
(l = 6 mức, 2009, 2010, 2011,
2012, 2013 và 2014); S
m
: ảnh hưởng của mùa vụ thứ m
th
(m = 4 mức, theo tiết khí xuân
5
từ 4/2 đến 5/5, hè từ 6/5 đến 7/8, thu từ 8/8 đến 7/11 và đông từ 8/11 đến 3/2); ε
ijklmn
: sai
số ngẫu nhiên.
Ước tính giá trị trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM), sai số của trung bình
phương nhỏ nhất (SE) bằng câu lệch LSMeans với so sánh cặp bằng pdiff hiệu chỉnh
bằng phương pháp Tukey.
2.3.1.2. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain kháng stress
a. Vật liệu
Lợn nái Piétrain kháng stress: 136 con (100 lợn nái nuôi tại trại Đồng Hiệp và 36
lợn nái nuôi tại Trung tâm Giống lợn) với 355 lứa đẻ.
b. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trại Đồng Hiệp từ tháng 10/2008 đến tháng 8/2014
và Trung tâm Giống lợn từ tháng 6/2012 đến tháng 8/2014.
Tuổi đẻ lứa đầu được theo dõi trên đàn cái hậu bị. Cắt số tai được thực hiện lúc sơ
sinh và đeo số nhựa vào thời điểm cai sữa. Các chỉ tiêu về số con được xác định bằng
cách đếm tại các thời điểm tương ứng sơ sinh và cai sữa. Khối lượng được xác định cân
từng con bằng cân đồng hồ tại các thời điểm tương ứng sơ sinh và cai sữa.
: ảnh hưởng
của trại thứ i
th
(i = 2 mức, trại Đồng Hiệp và Trung tâm Giống lợn); G
j
: ảnh hưởng của
thế hệ thứ j
th
(j= 4 mức, thế hệ 1, 2, 3 và 4); L
k
: ảnh hưởng của lứa đẻ thứ k
th
(k = 6 mức,
lứa 1, 2, 3, 4, 5 và ≥ 6); Y
l
: ảnh hưởng của năm thứ l
th
(l = 7 mức, 2008, 2009, 2010,
2011, 2012, 2013 và 2014); S
m
: ảnh hưởng của mùa vụ thứ m
th
(m = 4 mức, theo tiết
khí); GD
n
: ảnh hưởng của kiểu gen halothane của nái thứ n
th
(n = 2 mức, CC và CT);
GS
o
bình hàng ngày được xác định dựa trên chênh lệch về khối lượng của từng cá thể giữa
hai thời điểm (bắt đầu và kết thúc) và thời gian nuôi thực tế từ khi bắt đầu đến khi kết
thúc. Dày mỡ lưng và dày cơ thăn được xác định bằng máy đo siêu âm Agroscan AL với
đầu dò ALAL 350 (ECM, France) cùng với thời điểm cân khối lượng ở thời điểm kết
thúc theo phương pháp đo của Youssao et al. (2002). Tỷ lệ nạc được ước tính từ dày mỡ
lưng và cơ thăn theo phương trình hồi quy được Bộ Nông nghiệp Bỉ khuyến cáo:
Y = 59,902386 - 1,060750X
1
+ 0,229324X
2
Trong đó: Y : tỷ lệ nạc ước tính (%); X
1
: dày mỡ lưng, bao gồm da (mm); X
2
: dày cơ
thăn (mm).
Các số liệu theo dõi khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn giai đoạn kiểm tra
năng suất với thời điểm bắt đầu trung bình 68,09 ngày (SD = 19,87 ngày) và kết thúc ở
201,80 ngày (SD = 18,72 ngày) được thực hiện tại Trung tâm Giống lợn từ tháng 9/2013
đến tháng 6/2014. Tại thời điểm bắt đầu, lợn được cân từng con bằng cân đồng hồ và được
chia hoàn toàn ngẫu nhiên về các lô đảm bảo đồng đều về tuổi, khối lượng; lợn đực và cái
được nuôi riêng theo từng ô (6 con/ô). Tiến hành cân lượng thức ăn cho vào và tính tổng
lượng thức ăn thu nhận = tổng lượng thức ăn cho vào – tổng lượng thức ăn còn thừa.
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) = tổng lượng thức ăn thu nhận
/tổng khối lượng lợn tăng lên trong giai đoạn theo dõi (từ sau cai sữa đến 60 ngày
tuổi và kiểm tra năng suất).
Các tham số thống kê được tính như mô tả chi tiết tại mục 2.3.1.1b. Thủ tục GLM
của phần mềm SAS 9.1 (2002) được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đối
với các tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ nạc theo mô hình thống kê:
= ảnh hưởng
của thế hệ thứ j
th
(j = 4: thế hệ 1, 2 và 3); L
k
= ảnh hưởng của lứa thứ k
th
(k = 5: lứa đẻ 1,
2, 3, 4, 5 và ≥ 6); Y
l
= ảnh hưởng của năm thứ l
th
: (l = 6, năm 2009, 2010, 2011, 2012,
2013 và 2014); SS
m
= ảnh hưởng của mùa vụ thứ m
th
: (m = 4: theo tiết khí); SE
n
= ảnh
hưởng của tính biệt thứ n
th
: (n = 2: đực và cái); GENo = ảnh hưởng của kiểu gen
halothane thứ o
th
: (o = 2: CC và CT) và ε
ijklmno
: sai số ngẫu nhiên.
Thủ tục GLM của phần mềm SAS 9.1 (2002) được sử dụng để phân tích ảnh
hưởng của tính biệt đối với các tính trạng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
16 đực không thiến). Phân tích thành phần hóa học thịt được tiến hành trên 24 mẫu cơ
thăn (14 cái và 10 đực không thiến).
b. Phương pháp nghiên cứu
Khối lượng của từng cá thể trước khi giết thịt được xác định bằng cân điện tử
Kelba (Úc). Khối lượng móc hàm được cân bằng cân đồng hồ (loại 100 kg) sau khi cạo
lông, bỏ tiết và nội tạng. Khối lượng thịt xẻ được cân sau khi đã bỏ đầu và 4 chân. Tỷ lệ
móc hàm, thịt xẻ được tính dựa trên khối lượng móc hàm, thịt xẻ và khối lượng trước
giết thịt. Dài thân thịt được xác định bằng thước dây đo từ đốt sống cổ số một (đốt Atlas)
đến xương Pubis. Dày mỡ lưng, dày cơ thăn và tỷ lệ nạc của từng cá thể xác định bằng
phương pháp được mô tả chi tiết tại mục 2.3.1.3b. Mẫu cơ thăn được lấy tại lò mổ ngay
8
sau khi giết thịt ở vị trí xương sườn 13 – 14. Giá trị pH được đo bằng máy Testo 230
(Đức) tại các thời điểm 45 phút (pH45) và 24 giờ (pH24) sau giết thịt. Màu sắc thịt được
xác định bằng máy Minolta CR-410 (Nhật Bản) với các chỉ số L* (lightness), a*
(redness) và b* (yellowness) tại thời điểm 24 giờ (L*24, a*24, b*24) sau giết thịt. Tỷ lệ
mất nước bảo quản, chế biến (%) được xác định dựa trên khối lượng mẫu trước, sau bảo
quản và chế biến ở thời điểm 24 giờ. Độ dai của cơ thăn (N), được xác định bằng máy
Warner Bratzler 2000D (Mỹ) tại thời điểm 24 giờ sau giết thịt. Xác định hàm lượng vật
chất khô, protein thô, lipid thô và khoáng tổng số theo phương pháp của AOAC (1990).
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1(2002). Các tham số thống kê: dung
lượng mẫu (n), trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM) và sai số tiêu chuẩn (SE).
Mô hình tuyến tính tổng quát GLM được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của
kiểu gen halothane và tính biệt đến các chỉ tiêu về năng suất thân thịt, chất lượng và
thành phần hoá học thịt.
Số ngày nuôi thực tế tại thời điểm giết mổ được sử dụng như hiệp phương sai để
phân tích cho các chỉ tiêu về năng suất thân thịt.
Y
ijk
= µ + G
12/2007 đến 8/2013 và Trung tâm Giống lợn từ 11/2011 đến 8/2013.
b. Phương pháp nghiên cứu
Khối lượng sơ sinh, cai sữa, 60 ngày tuổi, 7,5 tháng tuổi, tăng khối lượng trung bình hàng,
dày mỡ lưng và dày cơ thăn được xác định bằng phương pháp mô tả chi tiết tại mục 2.3.1.3b.
Các tham số thống kê được ước tính bao gồm: dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình
(Mean), độ lệch tiêu chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất (Min), giá trị lớn nhất (Max). Thủ tục
GLM của phần mềm SAS 9.1 (2002) được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố
đối với các tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ nạc theo mô hình thống kê 1:
9
Y
ijklmno
= µ+F
i
+G
j
+L
k
+Y
l
+SS
m
+SE
n
+ε
ijklmno
(1)
Trong đó: Y
ijklmno
= chỉ tiêu tính trạng sinh trưởng, µ= trung bình quần thể; F
: sai số ngẫu nhiên.
Sử dụng phần mềm của Harvey (1990) với Model 4 (Nested Analysis) và phần mềm
MTDFREML (Boldman et al., 1995) để ước tính hệ số di truyền cho các tính trạng sinh
trưởng và tỷ lệ nạc. Đối với phần mềm Harvey, mô hình (2) được sử dụng với các yếu tố
cố định như mô hình (1), ngoại trừ hai yếu tố trại và thế hệ:
Y
ijklmno
= µ+D
i
+N
j
(D
i
)+L
k
+Y
l
+SS
m
+SE
n
+ε
ijklmno
(2)
Trong đó: D
i
= ảnh hưởng ngẫu nhiên của đực thứ i; N
j
= ảnh hưởng ngẫu nhiên của nái
thứ j phối với đực thứ i. Đối với phần mềm MTDFREML, mô hình (3) được sử dụng để
Tăng khối lượng trung bình hàng ngày xác định bằng phương pháp được mô tả
chi tiết tại mục 2.3.1.3b. Giá trị giống được ước tính theo phương pháp BLUP bằng phần
mềm PEST 4.2 (Groeneveld, 2011) với mô hình con vật (Animal model) như sau:
Y
ijklmnop
= µ+A
i
+F
j
+G
k
+L
l
+YR
m
+SS
n
+SE
o
+ε
ijklmnop
Trong đó: Y
ijklmnop
= chỉ tiêu tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng
ngày, µ= trung bình quần thể; A
i
= ảnh hưởng di truyền cộng gộp cá thể thứ i
th
ijklmnop
: sai số ngẫu nhiên. Số ngày nuôi thực tế lúc 7,5 tháng
tuổi được sử dụng như hiệp phương sai đối với tính trạng tăng khối lượng trung
bình hàng ngày. Hệ số di truyền (h
2
) của tính trạng tăng khối lượng trung bình
hàng ngày sử dụng để ước tính giá trị giống là 0,31.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Khả năng sản xuất của lợn Piétrain kháng stress
3.1.1. Phẩm chất tinh dịch của lợn đực Piétrain kháng stress
Thể tích tinh dịch, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chịu ảnh hưởng bởi tất cả các yếu tố thế hệ,
kiểu gen halothane, trại, năm và mùa vụ. Các chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch của lợn đực
Piétrain kháng stress phụ thuộc rất nhiều bởi yếu tố năm và mùa vụ (P<0,001).
Lợn đực Piétrain kháng stress có phẩm chất tinh dịch đạt mức cao với các chỉ tiêu như
thể tích tinh dịch, nồng độ tinh trùng, tổng số tinh trùng tiến thẳng đạt các giá trị lần lượt
258,91 ml, 343,14 triệu/ml, 68,03 tỷ/lần và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đạt mức thấp (6,46%).
Thể tích tinh dịch, tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần khai thác có xu hướng
giảm qua các thế hệ (Bảng 3.1). Tuy nhiên, hoạt lực tinh trùng và nồng độ tinh trùng có xu
hướng tăng từ thế hệ 1 đến thế hệ 4. 11
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của thế hệ đến phẩm chất tinh dịch
lợn đực Piétrain kháng stress
Chỉ tiêu
Thế hệ 1
Thế hệ 2
Thế hệ 3
82
LSM
0,76
b
0,76
b
0,77
b
0,82
a
SE
0,02
0,02
0,02
0,02
C (triệu/ml)
n
315
355
521
76
LSM
302,81
c
346,45
n
284
335
544
59
LSM
7,57
ab
7,24
ab
6,86
b
9,34
a
SE
0,86
0,85
0,84
1,07
R
n
266
334
507
72
LSM
Chỉ tiêu
CC
CT
n
LSM
SE
n
LSM
SE
Thể tích tinh dịch (V, ml)
625
280,32
a
3,94
519
241,85
b
4,82
Hoạt lực tinh trùng (A)
626
0,79
0,005
514
0,78
0,22
493
8,21
a
0,26
Sức kháng tinh trùng (R)
548
6572,99
100,79
452
6628,86
120,20
Giá trị pH
501
7,49
a
0,03
401
7,41
b
0,03
* Trong cùng một hàng, những giá trị LSM không mang cùng chữ cái, sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Lợn đực nuôi tại Trung tâm Giống lợn có thể tích tinh dịch (305,47 ml), tổng số tinh
275,99
a
SE
4,81
4,16
6,52
7,64
A
n
108
553
183
491
LSM
0,79
a
0,77
b
0,78
ab
0,78
ab
SE
0,01
0,01
175
463
LSM
73,35
a
62,19
b
67,90
ab
78,14
a
SE
2,37
2,03
3,11
3,61
K (%)
n
96
496
152
478
LSM
7,18
b
7294,56
a
SE
119,18
108,47
160,13
201,23
pH
n
98
377
152
359
LSM
7,49
a
7,45
a
7,45
a
7,40
b
SE
0,03
0,03
Trung tâm Giống lợn
n
LSM
SE
n
LSM
SE
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
100
448,90
17,31
36
405,35
18,12
Số con đẻ ra (con)
257
9,12
0,55
98
10,66
0,63
Số con đẻ ra sống (con)
257
7,79
b
80
14,22
a
0,89
Số con cai sữa (con)
189
6,14
0,59
71
7,32
0,70
Tỷ lệ sống đến cai sữa (%)
189
76,54
b
4,63
71
92,38
a
5,45
Khối lượng cai sữa/con (kg)
1250
5,69
b
6,71
* Trong cùng một hàng, những giá trị LSM không mang cùng chữ cái, sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của nái Piétrain kháng stress có xu hướng đạt thấp
ở lứa 1, tăng lên ở lứa 2, đạt giá trị cao nhất ở lứa 3, 4 và giảm ở lứa 5. Khối lượng sơ
sinh/con, khối lượng cai sữa/con có sự sai khác rất rõ rệt qua các lứa đẻ (P<0,001).
3.1.3. Khả năng sinh trưởng của lợn Piétrain kháng stress
3.1.3.1. Khả năng sinh trưởng giai đoạn từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Lợn Piétrain kháng stress nuôi ở giai đoạn từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi có tăng
khối lượng trung bình hàng ngày đạt mức trung bình (331,84 g/ngày) và tiêu tốn thức
ăn/kg tăng khối lượng đạt 1,62 kg.
Bảng 3.5 Khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày
tuổi của lợn Piétrain kháng stress
Chỉ tiêu
n
Mean
SD
Cv%
Khối lượng cai sữa (kg)
84
5,94
1,20
20,22
Khối lượng 60 ngày tuổi (kg)
84
14,89
1,78
11,93
Tăng khối lượng trung bình (g/ngày)
84
331,84
Piétrain kháng stress, ngoại trừ khối lượng bắt đầu của lợn mang kiểu gen CT (15,76 kg)
cao hơn (P<0,01) so với CC (14,74). Tính biệt không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về khả
năng sinh trưởng của lợn Piétrain kháng stress, ngoại trừ dày mỡ lưng, dày cơ thăn của lợn
cái (8,76 mm và 58,59 mm) cao hơn (P<0,001) so với lợn đực (7,90 mm và 55,47 mm).
Lợn Piétrain kháng stress nuôi tại trại Đồng Hiệp có độ dày mỡ lưng (8,95 mm), độ
dày cơ thăn (59,94 mm) cao hơn so với khi nuôi tại Trung tâm Giống lợn (7,70 mm và
54,11 mm), ngoại trừ khối lượng bắt đầu của lợn Piétrain kháng stress nuôi tại Trung tâm
Giống lợn (18,97 kg) cao hơn (P<0,001) khi nuôi tại trại Đồng Hiệp (13,65 kg).
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của trại giống đến khả năng sinh trưởng
của lợn Piétrain kháng stress
Chỉ tiêu
Đồng Hiệp
Trung tâm Giống lợn
n
LSM
SE
n
LSM
SE
Khối lượng bắt đầu (kg)
739
13,65
b
0,38
416
18,97
0,42
Dày cơ thăn (mm)
344
59,94
a
1,27
177
54,11
b
1,44
Tỷ lệ nạc (%)
344
64,15
0,46
177
64,14
0,52
* Trong cùng một hàng, những giá trị LSM không mang cùng chữ cái, sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Khối lượng bắt đầu, tỷ lệ nạc, tăng khối lượng trung bình hàng ngày có xu hướng
tăng từ lứa 1 và đạt giá trị cao nhất ở lứa 3, ngoại trừ dày mỡ lưng có xu hướng ngược
lại. Khối lượng bắt đầu, tỷ lệ nạc đạt thấp ở lứa 1 (15,12 kg và 63,65%), tăng ở lứa 2
(16,15 kg và 64,21%), lứa 3 (16,68 kg và 64,72%), đạt giá trị cao nhất ở lứa 4 (18,31 kg
và 64,97%) và giảm ở lứa 5 (15,01 kg và 63,06%). Dày mỡ lưng có xu hướng ngược lại,
giảm dần từ lứa 1 và đạt giá trị thấp nhất ở lứa 4. Tăng khối lượng trung bình hàng ngày
của lợn Piétrain kháng stress tăng từ lứa 1 (486,119 g/ngày) đến lứa 2 (495,54 g/ngày),
Thức ăn thu nhận (kg)
9
1120,48
346,89
30,96
Tăng khối lượng (kg)
9
415,63
121,7
29,28
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)
9
2,68
0,16
5,9
Lợn cái Piétrain kháng stress giai đoạn kiểm tra năng suất có tăng khối lượng
trung bình hàng ngày (556,52 g/ngày) cao hơn và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
(2,60 kg) thấp hơn so với lợn đực (508,83 g/ngày và 2,71 kg).
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của tính biệt đến khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn
giai đoạn kiểm tra năng suất của lợn Piétrain kháng stress
Chỉ tiêu
Đực
Cái
n
LSM
SE
n
LSM
a
19,15
Thức ăn thu nhận (kg)
7
1153,93
137,57
2
1003,40
257,38
Tăng khối lượng (kg)
7
423,74
48,74
2
387,25
91,19
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg)
7
2,71
0,06
2
2,60
0,11
* Trong cùng một hàng, những giá trị LSM không có chữ cái giống nhau, sai khác có ý nghĩa (P < 0,05)
3.1.4. Năng suất thân thịt và chất lượng thịt của lợn Piétrain kháng stress
Kiểu gen halothane không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về năng suất thân thịt, chất
85,37
2,14
20
84,67
2,37
15
81,29
b
2,73
28
88,75
a
1,84
Khối lượng móc hàm (kg)
21
69,76
1,99
20
68,17
2,09
14
66,23
2,53
27
71,70
1,65
Tỷ lệ móc hàm (%)
23
66,21
0,70
12
65,34
0,74
12
65,40
0,71
11
66,15
0,67
Dài thân thịt (cm)
15
88,93
1,52
15
88,42
1,52
14
89,05
1,63
16
88,30
1,39
Diện tích cơ thăn (cm²)
19
54,49
1,26
16
54,09
54,66
1,24
32
56,11
1,55
52
52,76
b
1,22
31
58,01
a
1,57
Tỷ lệ nạc (%)
51
63,17
0,24
32
63,72
0,30
52
63,51
0,24
31
63,39
0,31
* Trong cùng một hàng, những giá trị LSM không có chữ cái giống nhau, sai khác có ý nghĩa (P < 0,05)
Kiểu gen halothane không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về chất lượng thịt lợn
2
s
± SE
h
2
d
± SE
h
2
a
± SE
Khối lượng sơ sinh
0,58 ± 0,07
0,08 ± 0,01
-
0,13 ± 0,07
Khối lượng cai sữa
0,65 ± 0,08
0,52 ± 0,13
0,77 ± 0,11
0,12 ± 0,08
Khối lượng 60 ngày
0,86 ± 0,10
0,75 ± 0,19
0,98 ± 0,14
0,25 ± 0,15
Khối lượng 7,5 tháng
0,54 ± 0,11
0,31 ± 0,14
0,77 ± 0,18
12937
589,53
30,77
5
1
132
592,00
23,99
4
2
12944
589,01
21,93
6
3
13155
549,74
18,68
11
4
39
601,66
15,85
3
5
1084
565,87
14,88
9
6
1020
641,62
-2,20
1
13
1115
529,94
-4,78
13
14
1114
529,90
-5,80
14
15
51
559,28
-9,18
10
16
1073
517,96
-10,16
17
17
1071
517,90
-12,88
18
18
giá trị giống
Tăng khối lượng trung bình hàng ngày của đời con
n
Mean
SD
Cv%
Xếp
hạng
12937
30,77
1
17
551,20
52,6
9,55
1
132
23,99
2
8
535,10
36,5
6,82
3
12944
21,93
3
56,75
11,71
12
1021
11,33
7
48
485,24
42,02
8,66
11
138
11,01
8
13
548,10
115,2
21,02
2
1104
10,88
9
17
524,70
65,4
12,46
4
34
463,90
59,8
12,88
17
1115
-4,78
14
6
503,40
94,3
18,73
9
1114
-5,80
15
52
482,06
62,6
12,99
13
51
-9,18
16
34
446,53
12938
-26,60
20
25
465,20
74,7
16,05
16
Giá trị giống ước tính và giá trị kiểu hình trung bình của đời con của cá thể lợn
đực 12937 đạt cao nhất (30,77 và 551,20 g/ngày), giảm dần ở các cá thể lợn đực 132
(23,99 và 535,10 g/ngày), 12944 (21,93 và 519,40 g/ngày), 13155 (18,68 và 516,90
g/ngày), 39 (15,85 và 498,40 g/ngày) và 1084 (14,88 và 484,65 g/ngày).Tuy nhiên, mối
liên hệ giữa giá trị giống ước tính của từng cá thể lợn đực và giá trị kiểu hình trung bình
đời con vẫn có sự khác biệt nhất định (Bảng 3.13).
Tăng khối lượng trung bình hàng ngày đời con của nhóm đực giống được chọn lọc
với tỷ lệ 5% đạt cao nhất (551,20 g/ngày) và giảm dần ở những nhóm đực giống được chọn
lọc (Bảng 3.15) với tỷ lệ 10% (546,07 g/ngày), 15% (536,94 g/ngày), 20% (530,50 g/ngày).
So với mức tăng khối lượng trung bình hàng ngày theo dõi được từ 504 đời con là 486,70
g/ngày, chênh lệch thành tích đời con của các nhóm đực giống được chọn lọc với các tỷ lệ
5, 10, 15 và 20% tương ứng là 64,50; 59,37; 50,24 và 43,80 g/ngày; hoặc 113,25; 112,20;
110,32 và 109%.
19
Bảng 3.13 Giá trị giống ước tính của các nhóm đực giống chọn lọc và tăng khối lượng
trung bình hàng ngày ở đời con (g/ngày)
Nhóm đực giống chọn lọc
Tăng khối lượng trung bình hàng
ngày ở đời con
25
546,07
47,91
8,77
15
3
21,93
30,77
38
536,94
60,00
11,17
20
4
18,68
30,77
56
530,50
75,40
14,21
CHƯƠNG 4. THẢO LUẬN
4.1. Khả năng sản xuất của lợn Piétrain kháng stress
4.1.1. Các chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch lợn đực Piétrain kháng stress
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến các chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch của lợn
đực Piétrain kháng stress tương tự kết quả công bố của Do et al. (2013); Trịnh Hồng Sơn
và cs. (2013b); Trịnh Văn Thân và cs. (2010); Gregor and Hardge (1995).
năm cao hơn so với kết quả công bố của Kazimierz and Krzysztof (2011). Kết quả này
có xu hướng tương tự công bố của Smital (2009); Wysokinska et al. (2009); Wierzbicki
et al. (2010); Trịnh Văn Thân và cs. (2010); Do et al. (2013); Barranco et al. (2013).
Việc khai thác lợn đực giống ở mùa Hè, Thu cần thiết có các biện pháp để giảm thiểu
ảnh hưởng bất lợi của điều kiện môi trường đến các chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch.
4.1.2. Năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain kháng stress
Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng suất sinh sản của lợn
nái Piétrain kháng stress tương tự với kết quả công bố của Do et al. (2013); Nguyễn Văn
Thắng và Vũ Đình Tôn (2010); Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b); Šprysl et
al. (2012); Duziński et al. (2014). Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Piétrain
kháng stress đều thấp hơn so với tiêu chuẩn theo quyết định số 675/QĐ-BNN-CN của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014) quy định đối với lợn Piétrain giống.
Tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra còn sống, khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái Piétrain
kháng stress trong nghiên cứu này cao hơn so với kết quả công bố của Pholsing et al.
(2009) và thấp hơn so với kết quả công bố của Ibanez-Escriche et al. (2009);
Orzechowska and Mucha (2009); Nguyễn Văn Đức và cs. (2010).
Khối lượng sơ sinh/con của lợn nái Piétrain kháng stress qua 4 thế hệ có xu hướng
tương tự với kết quả công bố của Roeche et al. (2010); Klimas and Klimiene (2011).
Sử dụng nái mang kiểu gen CC có các chỉ tiêu về năng suất sinh sản cao hơn so
với nái mang kiểu gen CT. Kết quả này có xu hướng tương tự với công bố của Phan
Xuân Hảo (2001); Đỗ Đức Lực và cs. (2013b), nhưng có xu hướng ngược lại với kết quả
công bố của Stalder et al. (1998). Sử dụng đực phối mang kiểu gen CC hoặc CT không
làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của nái Piétrain kháng stress. Kết
quả này tương tự kết quả công bố của Đỗ Đưc Lực và cs. (2013b). Không tìm thấy tương
tác giữa kiểu gen halothane của đực phối và nái, ngoại trừ chỉ tiêu khối lượng sơ
sinh/con. Tuy nhiên, cần hạn chế ghép đôi giao phối giữa lợn đực và nái mang kiểu gen
halothane CT để không làm gia tăng tần số kiểu gen không mong muốn TT. Đực phối có
ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng sơ sinh/con (Đặng Vũ Bình và cs., 2005; Nguyễn Văn
Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006a; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010). Mccann et
al. (2008) khẳng định sử dụng đực thuần hoặc đực lai không ảnh hưởng đến năng suất
nông thôn (2014) quy định đối với lợn Piétrain giống gốc (≥ 600 g/ngày). Tuy nhiên, tỷ
lệ nạc trong nghiên cứu này cao hơn so với kết quả theo dõi của Zhang et al. (1992),
Müller et al. (2000), Nguyễn Văn Đức và cs. (2010), Tomka et al. (2010), Saintilan et al.
(2013). Như vậy, khả năng sinh trưởng của lợn Piétrain kháng stress nuôi tại miền Bắc
Việt Nam thường thấp hơn khi nuôi tại Châu Âu với khí hậu ôn đới, nhưng có tỷ lệ nạc
cao hơn.
Ảnh hưởng của kiểu gen halothane đến các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của lợn
Piétrain kháng stress trong nghiên cứu này tương tự kết quả công bố của Leach et al.
(1996); Youssao et al. (2002); Sanchez et al. (2003); Đỗ Đức Lực và cs. (2008); Merour et
al. (2009); Do et al. (2013).
Lợn cái Piétrain kháng stress có tăng khối lượng trung bình hàng ngày, dày mỡ lưng,
dày cơ thăn cao hơn so với lợn đực. Xu hướng này cũng được tìm thấy trong kết quả nghiên
cứu của Youssao et al. (2002); Đỗ Đức Lực và cs. (2008); Do et al. (2013).
Tăng khối lượng trung bình hàng ngày, dày mỡ lưng của lợn Piétrain kháng
stress nuôi tại trại Đồng Hiệp và Trung tâm Giống lợn thấp hơn so với tiêu chuẩn tại
quyết định số 675/QĐ-BNN-CN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(2014) quy định đối với lợn Piétrain giống gốc (≥ 600 g/ngày và 12 - 15 mm). Tuy
nhiên, tỷ lệ nạc ở mức cao (63,99 – 64,29%).
Các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của lợn Piétrain kháng stress qua các lứa đẻ đạt ở
mức thấp và thấp hơn so với tiêu chuẩn tại quyết định số 675/QĐ-BNN-CN của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (2014) quy định đối với lợn Piétrain giống gốc. Tuy nhiên, tỷ lệ
nạc của lợn Piétrain kháng stress qua các lứa vẫn đạt được ở mức cao (62,99 – 64,89%).
22
4.1.3.3. Khả năng sinh trưởng giai đoạn kiểm tra năng suất
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn Piétrain kháng stress giai đoạn kiểm
tra năng suất đạt được so với tiêu chuẩn tại quyết định số 675/QĐ-BNN-CN của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014) quy định đối với lợn Piétrain giống gốc (≤
2,7 kg). Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn của lợn Piétrain kháng stress giai đoạn kiểm
tra năng suất trong nghiên cứu này tương tự với kết quả công bố của Đỗ Đức Lực và cs.
Theo cách phân loại thịt của Warner et al. (1997), Joo et al. (1999) thịt lợn Piétrain
kháng stress có chất lượng tốt với tỷ lệ mất nước bảo quản nằm trong khoảng từ 2 – 5%
và giá trị pH45 lớn hơn 5,8, ngoại trừ giá trị L* cao hơn 50.
Kết quả nghiên cứu này về độ dai thịt thăn lợn Piétrain kháng stress cao hơn so với kết
quả công bố của tác giả Phan Xuân Hảo và cs. (2009) và thấp hơn kết quả công bố của tác giả
Do et al. (2014). Kết quả nghiên cứu này về thành phần hoá học thịt lợn Piétrain kháng stress
23
tương tự công bố của Zhang et al. (1992) và Peinado et al. (2008).
4.2. Định hướng chọn lọc đối với lợn Piétrain kháng stress
4.2.1. Ước tính hệ số di truyền các tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ nạc của lợn Piétrain
kháng stress
Các số liệu thu được về khối lượng sơ sinh, cai sữa, tăng khối lượng trung bình
hàng ngày đều thấp hơn so với công bố của Nguyễn Văn Đức và cs. (2010). Tỷ lệ nạc
trong nghiên cứu này cao hơn so với kết quả theo dõi của Nguyễn Văn Đức và cs.
(2010), Bidanel et al. (1991), Pas et al. (2010), Werner et al. (2010).
Các kết quả ước tính hệ số di truyền bằng phần mềm Harvey thể hiện được
nguyên tắc chung là hệ số di truyền ước tính được từ thành phần phương sai của bố luôn
thấp nhất, cao nhất từ thành phần phương sai của mẹ, còn từ thành phần phương sai của
cả bố và mẹ ở mức trung gian. Điều này phù hợp với bản chất của phương pháp ước
tính. Các kết quả ước tính hệ số di truyền từ phương sai của bố bằng phần mềm Harvey
đối với tính trạng tỷ lệ nạc tương đương với kết quả ước tính từ phần mềm
MTDFREML. Tuy nhiên, có một số khác biệt khá rõ rệt giữa các kết quả ước tính hệ số
di truyền từ hai phần mềm này. Khi sử dụng Model 4 của phần mềm Harvey, các ước
tính đều không thực hiện được khi đưa hai yếu tố cố định (trại, thế hệ) vào trong mô
hình. Kết quả ước tính được từ phần mềm MTDFREML tỏ ra có sức thuyết phục hơn so
với phần mềm Harvey.
Các giá trị của hệ số di truyền mà nghiên cứu này đã ước tính được đối với các tính
trạng: khối lượng sơ sinh, 60 ngày và 7,5 tháng tuổi cũng như tăng khối lượng trung bình
hàng ngày có xu hướng tương tự với kết quả công bố của Roeche et al. (2009), Tomka et al.