Bài giảng môn học Luật kinh doanh - Pdf 25

3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1.1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƯỚC
1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của nhà nước
* Nguồn gốc của nhà nước
- Trong thực tế, ngay từ thời kỳ cổ, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng từ những góc độ tiếp
cận khác nhau đã đưa ra những kiến giải khác nhau về nguồn gốc nhà nước. i) Các nhà tư
tưởng theo thuyết thần học cho rằng: nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự
chung. ii) Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lại cố gắng chứng minh rằng nhà nước
là kết quả sự phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người.
iii) Thuyết khế ước xã hội lại cho rằng: nhà nước là sản phẩm của một khế ước được ký kết
trước hết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước.
- Nội dung quan điểm của chủ nghĩa Mác về nguồn gốc nhà nước
(i) Nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước là một phạm trù
lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước là lực lượng nảy sinh
từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người. Nhà nước chỉ xuất hiện khi
xã hội phát triển đến một mức độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiện khách
quan cho sự tồn tại của nó mất đi. Những luận điểm quan trọng về sự xuất hiện nhà
nước đã được Ang-ghen trình bày tập trung trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của
gia đình, của chế độ tư hữu, của nhà nước”.
(ii) Nhà nước xuất hiện khi nào và bởi những điều kiện gì?
Chế độ cộng sản nguyên thuỷ: Có một thời kỳ rất dài, xã hội loài người tồn tại
mà không có nhà nước. Đó là thời kỳ tiền nhà nước hay còn gọi là thời kỳ cộng
sản nguyên thuỷ. Đặc điểm của thời kỳ này: *) Cơ sở tồn tại: là một nền kinh tế
tự nhiên, con người sống, tồn tại hoàn toàn dựa vào các vật phẩm tự nhiên. Hình
thức lao động không mang tính sản xuất (hái lượm và săn bắn). *) Cấu trúc xã
hội: một xã hội không có bất công, bóc lột, được xây dựng trên cơ sở kinh tế
không có sở hữu . *) Chế độ mẫu hệ: quyền lực thuộc về đàn bà, người đàn bà
thời đó quyết định đời sống cộng đồng. Quyền lực của đàn bà không mang tính
chính trị. *) Hình thức tổ chức xã hội: thị tộc, bộ lạc. Một xã hội không có nhà

nước mang bản chất khác nhau. Ngay trong cùng một hình thái kinh tế xã hội, thậm chí
ngay trong một quốc gia thì ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, nhà nước cũng mang bản chất
khác nhau hoặc ít nhất cũng có những nét cơ bản khác nhau.
 Những đặc trưng của nhà nước.
i) Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập với dân
cư. Quyền lực công cộng này là quyền lực chính trị chung. Chủ thể của quyền lực này
là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị. Để thực hiện quyền lực, để quản lý xã hội,
nhà nước phải có một tầng lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Lớp
người này được tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy đại
diện cho quyền lực chính trị có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp
thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục túng theo ý chí của giai cấp thống trị.
ii) Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc
vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Lãnh thổ là dấu hiệu đặc
trưng của nhà nước. Nhà nước thực thi quyền lực chính trị trên phạm vi toàn lãnh thổ.
iii) Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị -
pháp lý, nó thể hiện ở quyền tự quyết của nhà nước về chính sách đối nội, đối ngoại,
5
không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không tách
rời của nhà nước. Chủ quyền quốc gia có tính tối cao.
iv) Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công
dân. Nhà nước và pháp luật có mối quan hệ phụ thuộc nhau: không thể có nhà nước
mà thiếu pháp luật và ngược lại. Trong xã hội chỉ có nhà nước mới có quyền ban hành
pháp luật.
v) Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc.
 Định nghĩa về nhà nước: nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ
máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện
và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội
1.1.2 Kiểu, hình thức nhà nước
* Kiểu nhà nước.
- Khái niệm: Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản của nhà nước thể

Quan hệ đối kháng
được nguỵ trang
mềm dẻo hơn
liên minh giai cấp,
các giai cấp tồn tại
nhưng không có mâu
thuẫn đối kháng.
Cơ sở tư
tưởng
đa thần, đa giáo quốc đạo đa nguyên chủ nghĩa Mác –
Lênin
Bảng 1.1: Các kiểu nhà nước
6
* Hình thức nhà nước.
- Hình thức nhà nước nói lên cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, tức là phương thức
chuyển ý chí của giai cấp thống trị thành ý chí nhà nước. Hình thức nhà nước do bản chất và
nội dung của nhà nước quy định.
- Hình thức nhà nước bao gồm các yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc, chế độ
chính trị.
•Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình
tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân
dân vào việc thiết lập các cơ quan này. Hình thức chính thể gồm hai dạng cơ bản là
chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Nếu quyền lực tối cao của nhà nước tập
trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa
kế thì chính thể đó là chính thể quân chủ và nhà nước là nhà nước quân chủ. Nếu
quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện do bầu ra trong một thời
hạn nhất định thì hình thức chính thể đó có tên gọi là chính thể cộng hoà và nhà nước
gọi là nhà nước cộng hoà.
•Hình thức cấu trúc nhà nước: là sự tổ chức nhà nước theo các đơn vị hành chính lãnh
thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa cơ quan nhà nước

- Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Đó là tổ chức nhà nước có
tính độc lập tương đối, có thẩm quyền và thành lập theo quy định của pháp luật, nhân danh
nhà nước thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước bằng những hình thức và phương
thức đặc thù.
+ Về mặt cơ cấu, cơ quan nhà nước là một tổ chức hoàn chỉnh có tính độc lập tương
đối so với các tổ chức khác trong việc thực hiện thẩm quyền mà pháp luật trao.
+ Đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước (đặc điểm cho phép phân biệt với các cơ
quan, tổ chức khác) là tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở
chỗ các cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền được pháp luật quy định chặt chẽ - đó là
tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà nhà nước trao cho cơ quan nhà nước. Yếu tố cơ bản
của thẩm quyền là quyền ra các quyết định có tính bắt buộc các chủ thể có liên quan
phải thi hành.
+ Các cơ quan nhà nước được thành lập và hoạt động trên cơ sở luật và các văn bản
pháp luật khác. Điều đó có nghĩa là một cơ quan nhà nước chỉ được thành lập khi đã
có một văn bản pháp luật quy định về việc này.
* Các bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước
(1) Cơ quan lập pháp (cơ quan quyền lực nhà nước)
- Cơ quan quyền lực nhà nước do dân trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân thực hiện một
cách thống nhất quyền lực nhà nước và báo cáo trước nhân dân. Hệ thống các cơ quan này
là nền móng, xương sống của bộ máy nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước khác đều bắt
nguồn từ cơ quan quyền lực nhà nước, do cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp hoặc gián
tiếp thành lập.
- Cơ quan quyền lực nhà nước gồm:
•Quốc hội: là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập
hiến, lập pháp, quyết định những chính sách và các vấn đề quan trọng nhất của đất
nước, thực hiện quyền giám sát tối cao việc thi hành hiến pháp, pháp luật. Trong hệ
thống các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất còn có cơ quan thường trực của quốc
hội, gọi là uỷ ban thường vụ quốc hội. Cơ quan này do quốc hội bầu ra, chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp của quốc hội
và thực hiện các kỳ họp của quốc hội, chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của các

của pháp chế, hệ thống viện kiểm sát được tổ chức theo nguyên tắc thủ trưởng và trực thuộc
chặt chẽ theo chiều dọc. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm, có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức tất cả các thành viên của
các viện kiểm sát cấp dưới.
1.2 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT
1.2.2 Bản chất của pháp luật
- Định nghĩa pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành (hoặc
thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố
điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội.
9
- Bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp của nó.
(1) Về bản chất, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị được nhà nước thể chế
hoá. Nôi dung của ý chí đó được đảm bảo bằng lực lượng vật chất của giai cấp thống
trị. Nói một cách khác pháp luật vừa là một phạm trù khách quan vừa là một phạm trù
chủ quan. Điều đó có nghĩa là: pháp luật do các nhu cầu kinh tế - xã hội quy định
nhưng các nhu cầu ấy lại thông qua sự đánh giá chủ quan của nhà làm luật. Sự đánh
giá chủ quan này không đơn thuần là một dạng ý thức tư tưởng phản ánh hiện thực mà
còn là sự mong muốn có ý chí của giai cấp thống trị nhằm tác động vào trật tự các
quan hệ xã hội
(2) Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật, đó là nhân tố điều chỉnh về mặt giai cấp các mối quan hệ xã hội nhằm định
hướng cho các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù hợp với ý
chí của giai cấp thống trị, bảo vệ, củng cố địa vị của giai cấp thống trị
- Bên cạnh tính giai cấp, không thể coi nhẹ giá trị xã hội to lớn của pháp luật. Giá trị xã
hội của pháp luật đó là ích lợi của pháp luật đối với xã hội do các thuộc tính cơ bản của nó
quy định.
(1) Pháp luật là quy luật khách quan của xã hội
(2) Pháp luật là thước đo để kiểm tra hành vi con người, là công cụ kiểm nghiệm các
quá trình, hiện tượng xã hội, là phương tiện chứa đựng các giá trị xã hội đưa đến cho
con người những lượng thông tin nhất định về các yêu cầu, các giá trị mà xã hội có, xã

chế là thuộc tính thể hiện bản chất giai cấp của pháp luật. Tính cưỡng chế của pháp
luật luôn tồn tại cùng với sự tồn tại của pháp luật. Việc cưỡng chế buộc mọi người
phải thi hành nghiêm chỉnh pháp luật.
1.2.3 Các hình thức của pháp luật
- Pháp luật cũng giống như mọi hiện tượng xã hội, có hình thức thể hiện và hình thức tồn tại
riêng của nó. Trong khoa học pháp lý, thường quan niệm: hình thức của pháp luật là khái
niệm dùng để chỉ ranh giới tồn tại của pháp luật trong hệ thống các quy phạm xã hội, là hình
thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, đồng thời đó cũng là phương thức tồn tại, dạng
tồn tại thực tế của pháp luật.
- Hai dạng hình thức của pháp luật
(1) Hình thức bên trong của pháp luật (cấu trúc của pháp luật) bao gồm các nguyên
tắc chung của pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật và quy
phạm pháp luật.
+ Nguyên tắc chung của pháp luật là những quy tắc được ghi nhận có tác dụng
định hướng và chỉ đạo toàn bộ hệ thống pháp luật
+ Hệ thống pháp luật là cơ cấu bên trong của pháp luật, được quy định một cách
khách quan bởi các điều kiện kinh tế - xã hội, biểu hiện ở sự phân chia hệ thống
ấy thành các bộ phận cấu thành khác nhau, phù hợp với đặc điểm, tính chất của
các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh nhưng giữa các bộ phận khác nhau ấy có
mối quan hệ qua lại chặt chẽ và thống nhất. Hệ thống pháp luật được chia thành
11
các ngành luật. Các ngành luật lại chia thành các chế định pháp luật. Các chế
định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật.
+ Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận. Quy phạm pháp luật là "tế bào" - đơn vị nhỏ nhất
của toàn bộ hệ thống pháp luật của quốc gia. Cấu trúc của quy phạm pháp luật
gồm ba bộ phận: giả định, quy định, chế tài.
i) Giả định: thường nói về địa điểm, thời gian, các chủ
thể, các hoàn cảnh thực tế mà trong đó mệnh lệnh của qui phạm được thực
hiện.

sinh giữa nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm
(iv) Luật dân sự: gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá - tiền tệ và một số quan hệ nhân
thân trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể tham gia quan hệ.
(v) Luật đất đai: là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo vệ, quản lý và sử dụng đất, trong đó
đất đai là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước thống nhất
quản lý theo quy hoạch và kế hoạch chung
(vi) Luật hôn nhân gia đình: bao gồm tổng thể những quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ nhân thân và tài sản phát sinh do việc kết hôn giữa
nam và nữ như: điều kiện kết hôn, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa
cha mẹ và con cái nhằm bảo đảm chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, bình đẳng
nam nữ, xây dựng gia đình hạnh phúc, bảo vệ lợi ích của bà mẹ và trẻ em,
chăm sóc giáo dục con cái.
(vii) Luật lao động: là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là các quan hệ về sử dụng lao động
(quan hệ lao động) và các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng lao
động (quan hệ liên quan đến quan hệ lao động).
(viii) Luật tài chính bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh những
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng
các quỹ tiền tệ của các chủ thể thực hiện hoạt động phân phối của cải dưới
hình thức giá trị
(ix) Luật tố tụng hình sự: gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra,truy tố, xét xử và
kiểm sát việc điều tra, xét xử những vụ án hình sự. Luật tố tụng hình sự
cũng quy định những nguyên tắc, thủ tục và điều kiện để tiến hành điều tra,
kiểm sát và xét xử các vụ án hình sự, quyền và nghĩa vụ của người tham gia
tố tụng hình sự.
(x) Luật tố tụng dân sự: là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh

nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành. Trình tự, thủ
tục, hình thức ban hành văn bản luật được quy định tại điều 84, 88, 147 Hiến
pháp 92. Văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất. Văn bản luật có hai hình thức:
Hiến pháp và các đạo luật (hoặc bộ luật).
(i) Hiến pháp là luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các
văn bản pháp luật. Đặc trưng của Hiến pháp thường là quy định hệ thống
chính quyền trong một nước và các quyền công dân. Nó quy định các vấn
đề cơ bản nhất của quốc gia như: hình thức, bản chất nhà nước, chế độ
14
chính trị, chế độ kinh tế, các vấn đề chủ yếu về văn hoá, xã hội, khoa học,
công nghệ, an ninh, quốc phòng, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà
nước.
(ii) Các đạo luật, bộ luật cũng là văn bản do Quốc hội ban hành để cụ thể
hoá Hiến pháp, điều chỉnh các loại quan hệ xã hội trong các lĩnh vực đời
sống nhà nước và xã hội. Nước ta có Bộ luật hình sự, bộ luật dân sự, bộ luật
tố tựng hình sự, bộ luật tố tụng dân sự,…. Còn các đạo luật thì được ban
hành với số lượng khá lớn: luật hôn nhân gia đình, luật đất đai, luật doanh
nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp,…
Văn bản dưới luật là những văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được luật quy định và có hiệu lực pháp lý
thấp hơn các văn bản luật. Theo Hiến pháp 92, nước ta có những văn bản dưới
luật sau đây:
(i) Nghị quyết của Quốc hội. Mặc dù đây cũng là văn bản của Quốc hội
nhưng về nguyên tắc nó có hiệu lực thấp hơn luật, phải phù hợp với luật.
Nghị quyết của Quốc hội thường được ban hành để giải quyết các vấn đề
quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng thường mang tính chất
nhất thời hoặc tính cụ thể (ví dụ: chia tỉnh, thành lập bộ, về tăng cường
chống buôn lậu,…)
(ii) Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Pháp lệnh có

hoạt động của mọi cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ ở Trung ương và địa
phương. Trong quan hệ với các văn bản pháp luật khác, văn bản của Thủ
tướng có vai trò như văn bản của tập thể Chính phủ.
(v) Quyết định, chỉ thị, thông tư của các bộ, cơ quan ngang Bộ. Để thi hành
luật, pháp lệnh, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng, trong phạm vi
quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành các văn bản dưới
hình thức quyết định, chỉ thị, thông tư. Xuất phát từ vị trí của Bộ, cơ quan
ngang Bộ, nên văn bản của chúng có hiệu lực thấp hơn văn bản của Chính
phủ, Thủ tướng và các cơ quan cấp trên khác, phải phù hợp với chúng, và
về nguyên tắc, có hiệu lực pháp lý cao hơn văn bản của các cơ quan quản lý
nhà nước ở địa phương về những vấn đề mà những cơ quan này được nhà
nước giao quản lý thống nhất trong cả nước.
(vi) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp. Hội đồng nhân dân các cấp
là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương có quyền ra các nghị quyết để
điều chỉnh các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình.
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải phù hợp với, không được trái,
không mâu thuẫn với pháp luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp trên
và văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp trên.
(vii) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong phạm vi thẩm
quyền luật định, Uỷ ban nhân dân các cấp ra quyết định, chỉ thị để thực hiện
16
những văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và hội đồng nhân dân cùng
cấp, và để điều hành hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương.
 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.Các quy phạm pháp luật tồn tại
trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực điều chỉnh trong những giới
hạn xác định. Điều đó có nghĩa là hiệu lực điều chỉnh các quan hệ xã hội bị giới
hạn trong phạm vi không gian, thời gian và nhóm người. Những giới hạn này
được thiết lập có thể bằng con đường chỉ ra một cách trực tiếp trong quy phạm
pháp luật đó, hoặc có thể bằng những quy định chung về hiệu lực thời gian,
không gian, nhóm người trong văn bản quy phạm pháp luật đó. Dưới đây sẽ

1.3 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.3.1 Quan niệm truyền thống về pháp luật kinh doanh
- Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung với sự thống trị của khu vực kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể, hạn chế tự do khế ước, thủ tiêu cạnh tranh cũng như áp dụng mệnh lệnh
hành chính trong quản lý kinh tế đã là lý do sản sinh ra ngành luật kinh tế theo mô hình Xô
viết với các đặc điểm sau:
(i) Sự can thiệp của công quyền vào các hoạt động sản xuất kinh doanh.
(ii) Hoạt động kinh tế và việc quản lý các hoạt động đó hoà nhập thành một lĩnh vực
thống nhất.
(iii) Yếu tố tổ chức, kế hoạch và tài sản gắn liền với nhau. Các quan hệ kinh tế do luật
kinh tế điều chỉnh luôn chứa đựng trong mình hai yếu tố: yếu tố tổ chức - kế hoạch và
tài sản.
(iv) Chủ thể của Luật kinh tế luôn là những cơ quan, tổ chức kinh tế - được coi là
những pháp nhân.
(v) Phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế là sự kết hợp giữa thương lượng, bình
đẳng và mệnh lệnh hành chính.
- Như vậy là, theo quan niệm truyền thống ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây, luật
kinh tế được coi là một ngành luật độc lập, điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình quản lý, lãnh đạo kinh tế của nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở xã hội chủ nghĩa.
1.3.2 Pháp luật kinh doanh trong cơ chế thị trường
- Khác hẳn với mô hình kinh tế kế hoạch, kinh tế thị trường đòi hỏi phải xoá bỏ chế độ
độc tôn của một hình thức sở hữu, đòi hỏi phải khuyến khích và phát triển một cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần với sự bình đẳng của chúng trước pháp luật. Kinh tế thị trường đòi hỏi
phải có một môi trường pháp lý đảm bảo tự do kinh doanh của tất cả các chủ thể sản xuất -
kinh doanh.
- Hiểu theo cách chung nhất thì pháp luật kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật
mà với các quy phạm đó, nhà nước tác động vào các tác nhân tham gia đời sống kinh tế và
các quy phạm liên quan đến mối tương quan giữa sự tự do của từng cá nhân và sự điều
chỉnh của nhà nước. Nói cách khác, pháp luật kinh doanh quan tâm tới hai vấn đề lớn, đó

(1) Văn bản quy phạm pháp luật.
Các văn bản luật: (i) Hiến pháp 92: là đạo luật cơ bản, là nguồn có giá trị pháp lý
cao nhất của luật kinh tế và các ngành luật khác. Đối với pháp luật kinh doanh,
các quy định trong Hiến pháp là cơ sở, nguyên tắc chung cho việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật kinh doanh. (ii) Các đạo luật: Luật doanh nghiệp
19
(12/06/1999), Luật doanh nghiệp nhà nước (26/11/2003), Luật đầu tư, Luật hợp
tác xã (26/11/2003), Luật thương mại (10/05/1997), Bộ luật dân sự, Luật lao
động, Luật cạnh tranh (03/12/2004), Luật phá sản doanh nghiệp (15/06/2004),….
Các văn bản dưới luật: (i) Pháp lệnh: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, pháp lệnh
trọng tài thương mại, … (ii) Nghị định: nghị định 02/2000/NĐ-CP (03/02/2000)
hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh nghiệp, nghị định 17/HĐBT
(16/1/1990) quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế, ….
(2) Tập quán thương mại."Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên
không có thoả thuận, thì có thể áp dụng tập quán, nếu các tập quán đó không trái với
các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam" [Điều 14, BLDS]. Tập quán thương mại có
thể được hiểu là những quy tắc cư xử hoặc thói quen hình thành từ xa xưa, được thừa
nhận một cách rộng rãi trên một vùng lãnh thổ hoặc một lĩnh vực thương mại. Bộ luật
dân sự đã công nhận tập quán là một nguồn phụ trợ của pháp luật, song khó xác định
được điều này có ý nghĩa trong thực tiễn xét xử đến mức nào, vì các bản án và lập luận
của toà án Việt nam cho đến nay chưa được thống kê và công bố rộng rãi. Khác với
tập quán thương mại trong nước, tập quán thương mại quốc tế được hình thành dần
dần trong lịch sử phát triển của các quan hệ thương mại đã có một ý nghĩa thực tiễn
hơn nhiều. Những tập quán thông dụng nhất là các điều kiện cơ sở giao hàng do Phòng
thương mại quốc tế ban hành.
(3) Án lệ, theo cách hiểu như pháp luật theo hệ thống luật Anh - Mỹ, không được thừa
nhận ở Việt nam. Nhưng, xét từ thực tiễn, chúng tôi cho rằng, nước ta đang có những
dấu hiệu thực tế của sự thừa nhận sơ khai giá trị pháp lý của những "án lệ". Bởi lý do,
những hướng dẫn nghiệp vụ công tác xét xử của các toà án cấp trên cũng như những
báo cáo tổng kết công tác ngành toà án không phải là văn bản qui phạm hiểu theo

nhiệm trả nợ của chính pháp nhân đó với tài sản còn lại và trách nhiệm trả nợ của
chủ sở hữu - người đã sáng tạo ra nó. Pháp nhân chịu trách nhiệm đối với mọi
chủ nợ bằng tất cả mọi thứ tài sản mà nó có - có nghĩa là pháp nhân được giới
hạn khả năng trả nợ trong phạm vi tài sản của nó. Chủ sở hữu - người sáng tạo ra
pháp nhân - không chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân, họ chỉ có nghĩa vụ góp
vốn để thành lập pháp nhân. Nếu pháp nhân vỡ nợ thì họ chỉ mất số vốn đã góp
vào pháp nhân, ngoài ra họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì nữa, chủ nợ
không thể buộc họ phải trả nợ thay cho pháp nhân, tức là người bỏ vốn chỉ chịu
một "trách nhiệm hữu hạn". Pháp nhân là một chủ thể pháp lý độc lập, có các
quyền và nghĩa vụ riêng của mình. Theo pháp luật Việt nam hiện nay, tính chịu
trách nhiệm hữu hạn (tư cách pháp nhân) đã được quy định cho nhiều loại chủ
thể kinh doanh, ví dụ: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, trách
nhiệm hữu hạn của thành viên góp vốn trong hợp danh.
ii) Thể nhân cũng là một thực thể pháp lý độc lập về tư cách chủ thể. Song ở đó,
không có sự tách bạch về tài sản giữa phần của thực thể đó và của chủ sở hữu nó.
Đây là điểm khác biệt căn bản giữa thể nhân và pháp nhân. Chính vì không có sự
21
tách bạch tài sản, nên thể nhân cùng với các chủ sở hữu của nó phải cùng liên đới
chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của thể nhân. Điều đó có nghĩa là,
nghĩa vụ trả nợ của thể nhân là vô hạn, thậm chí vĩnh cửu, trả cho đến khi nào hết
nợ thì thôi, nếu thể nhân không đủ tiền trả nợ thì người chủ sở hữu phải trả thay,
và nếu một người trả không đủ thì những người khác ở trong đó trả tiếp thêm vào
"vì liên đới". Thể nhân bao gồm: cá nhân và các tổ chức không có tư cách pháp
nhân ví dụ như nhóm kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân.
+ Thứ hai: Doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo
thủ tục do pháp luật quy định. Việc thành lập và đăng ký kinh doanh là cơ sở để xác
định tính chất chủ thể pháp lý độc lập của các doanh nghiệp
+ Thứ ba: doanh nghiệp thực hiện các hành vi kinh doanh trên thực tế. Tức là các hành
vi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được thực hiện có hệ thống, độc lập, trên danh

mục tiêu lợi nhuận theo Bộ luật thương mại, luật về công ty, có trách nhiệm hữu hạn".
- Tuy có khá nhiều cách định nghĩa về công ty dưới dạng này hay dạng khác, nhưng tựu
trung, có thể nêu ra một số dấu hiệu cơ bản của công ty như sau:
(i) có sự liên kết của nhiều chủ thể (pháp nhân hoặc thể nhân). Đây là quan niệm
truyền thống về công ty, theo đó công ty phải là kết quả của sự liên kết của các nhà
đầu tư, mà muốn liên kết được thì phải có nhiều người. Người ta rất dễ nhận thấy rằng
không thể thực hiện được sụ liên kết hay góp vốn nếu như chủ thể chỉ có một bên.
Điều cần lưu ý ở dấu hiệu này là khái niệm chủ thể của công ty. Chủ thể ở đây được
hiểu là thể nhân hay pháp nhân. Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều thể
nhân hay pháp nhân. Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều thể nhân với
nhau, hoặc giữa thể nhân với pháp nhân, hoặc giữa các pháp nhân với nhau. Quan
điểm hiện đại: không nhất thiết phải có sự liên kết của nhiều chủ thể.
(ii) Sự liên kết được thực hiện thông qua một sự kiện pháp lý (điều lệ, hợp đồng
hoặc quy chế),
iii) Nhằm thực hiện một mục đích kiếm lời. Nghĩa là công ty có mục đích kinh doanh
chứ không phải là sự liên kết giữa các thành viên để nhằm thành lập một tổ chức có
mục đích phi kinh doanh như: hội từ thiện, các hội đoàn chuyên nghiệp. Hoạt động tìm
kiếm lợi nhuận là hoạt động quan trọng đối với công ty và việc thực hiện tốt hoạt động
này là mục tiêu chính của nó. Mục tiêu lợi nhuận là sự phân chia lợi nhuận thu được từ
việc kinh doanh với bên ngoài cho các thành viên công ty. Những sự liên kết không
nhằm mục đích kinh doanh người ta gọi là các hiệp hội chứ không phải công ty.
- Các loại hình công ty. Suốt khoảng thời gian mấy thế kỷ kể từ khi những công ty đầu
tiên ra đời, trên thế giới đã từng xuất hiện rất nhiều loại hình công ty khác nhau. Có nhiều
loại hiện vẫn còn tồn tại và phát triển, ngày càng khẳng định vị trí của mình trong đời sống
kinh tế nhưng cũng có những loại không còn phát triển nữa và có xu hướng mất dần. Trong
khoa học pháp lý, căn cứ vào tính chất liên kết và chế độ trách nhiệm của các thành viên
công ty: công ty đối nhân (công ty hợp danh), công ty đối vốn (công ty cổ phần và công ty
trách nhiệm hữu hạn). Đây là cách phân loại chủ yếu và có ý nghĩa quan trọng nhất.
23
+ Công ty đối nhân là loại hình công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ

Lịch sử luật công ty gắn liền với các qui định về liên kết, hợp đồng và các quan hệ nợ nần
trong luật La mã. Còn luật công ty hiện đại ra đời trong thời kỳ tự do hoá tư sản đã phát
triển đến mức độ cao.
+ Bất luận thuộc hệ thống pháp luật nào, luật công ty cũng đều là tổng hợp các qui
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trực tiếp trong quá trình thành lập,
24
hoạt động, phát triển và kết thúc hoạt động của công ty. Chức năng của luật công ty
suy cho cùng là khuyến khích mọi người dân đầu tư vốn, tham gia kinh doanh.
+ Nội dung các quy định của pháp luật công ty bao gồm: i) Điều kiện, thủ tục đăng ký
hoạt động cho công ty, ii) Cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty, iii) Cơ cấu vốn,
iv) Điều kiện, thủ tục giải thể công ty.
Ở Việt nam, các quy định điều chỉnh tổ chức, hoạt động của các loại hình công ty được thể
hiện trong Luật doanh nghiệp được quốc hội thông qua ngày 12/12/2005, có hiệu lực thi
hành từ 01/07/2006
2.2.1.2 Công ty hợp danh.
- Công ty hợp danh là một loại công ty đối nhân (đối nhân là trọng về người). Công ty đối
nhân thường tồn tại dưới hai dạng:
+ Công ty hợp danh vô hạn: là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng điều
hành hoạt động kinh doanh, cùng đại diện cho công ty, cùng liên đới chịu trách nhiệm
vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty. Đối với công ty hợp danh vô hạn, sự tin cậy
vào cá nhân mỗi thành viên quan trọng hơn nhiều tài sản thực có của công ty, mối
quan hệ thân tín giữa các thành viên có trách nhiệm vô hạn được đặt lên trên hết. Sự
thay đổi thành viên không dễ dàng được chấp nhận. Hình thức hợp danh vô hạn chỉ áp
dụng hạn chế trong phạm vi họ hàng, bạn bè và có quy mô nhỏ.
+ Công ty hợp danh hữu hạn: là một công ty bao gồm những thành viên có trách
nhiệm hữu hạn và thành viên trách nhiệm vô hạn. Thành viên có trách nhiệm hữu hạn
chỉ chịu trách nhiệm đối với chủ nợ trong phạm vi phần vốn góp của mình. Do thành
viên hữu hạn chỉ có trách nhiệm rất ít nên nó không có quyền điều hành kinh doanh
hoặc đại diện cho công ty. Thành viên có trách nhiệm vô hạn về cơ bản giống thành
viên của hợp danh vô hạn.

trong điều lệ công ty.
- Thành viên góp vốn: không có quyền điều hành và đại diện cho công ty, có quyền
được chia lợi nhuận theo quy định của điều lệ công ty.
 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty hợp dannh do
các thành viên hợp danh thoả thuận trong điều lệ công ty. Các thành viên hợp danh có
quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
2.2.1.3 Công ty cổ phần.
- Dưới giác độ của khoa học pháp lý, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa về công ty cổ
phần như sau: Công ty cổ phần là loại hình công ty có tư cách pháp nhân, vốn của công ty
được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông,
là thành viên của công ty cổ phần, họ chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ của công ty
trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty.
Các đặc trưng pháp lý của công ty cổ phần
 Đặc trưng về tư cách pháp nhân. Công ty cổ phần là một pháp nhân, các thành viên
công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn
cam kết góp vào công ty. Điều này bảo vệ các cổ đông của công ty: tự công ty phải có trách
nhiệm đối với những khoản nợ của mình chứ không phải các chủ nhân của công ty
26
 Đặc trưng về cấu trúc vốn. Vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần bằng nhau
gọi là cổ phần.
- Vốn điều lệ là số vốn các thành viên góp vào công ty, được ghi trong điều lệ công ty.
Đây là số vốn cơ bản của công ty cổ phần.
- Cổ phần là phần chia đều nhau nhỏ nhất của vốn điều lệ công ty. Cổ phần là đơn vị góp
vốn. Cổ phần có hai loại:
+ Cổ phần phổ thông là loại cổ phần mà người sở hữu nó sẽ có các quyền và nghĩa
vụ thông thường của một thành viên góp vốn, họ không được hưởng bất kỳ một ưu đãi
nào. Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông. Cổ phần phổ thông không
được chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi.
 Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông và họ sẽ có bốn
quyền cơ bản (điều 53): i) Tham dự và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền

hoàn trả lại phần vốn góp khi chủ sở hữu yêu cầu hoặc theo các điều kiện ghi trên
cổ phần. Cũng giống như cổ phần ưu đãi cổ tức, người sở hữu cổ phần ưu đãi
hoàn lại không có quyền dự họp đại hội đồng cổ đông, và bầu người vào hội
đồng quản trị, ban kiểm soát.
iv) Các loại cổ phần ưu đãi khác do điều lệ của công ty quy định.
- Cổ phần được thể hiện dưới hình thức là các cổ phiếu. Cổ phiếu là một chứng thư chứng
minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với phần vốn góp vào công ty cổ phần. Điều 59
định nghĩa: cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần. Cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công
ty và lúc công ty cần gọi thêm vốn. Cổ phiếu thể hiện giá trị danh nghĩa của số lượng vốn
góp vào công ty. Về mặt pháp lý: cổ phiếu chứng minh phần vốn góp, chứng minh tư cách
cổ đông của người sở hữu.
Cổ phiếu có ba đặc tính
i) Mỗi cổ phiếu có một giá trị ban đầu được tính bằng tiền gọi là mệnh giá cổ phiếu,
mệnh giá cổ phiếu chỉ là giá trị danh nghĩa. Giá trị thực tế của cổ phiếu sẽ tuỳ thuộc
vào hoạt đông kinh doanh của công ty: nếu công ty làm ăn có lãi, có uy tín thì giá trị
thực tế sẽ lớn hơn mệnh giá, ngược lại công ty làm ăn thua lỗ, kém hiểu quả thì giá trị
đó sẽ thấp hơn mệnh giá
ii) Cổ phiếu thường không có thời hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty cổ
phần phát hành ra nó.
iii) Cổ phiếu có thể được lưu thông trên thị trường như một thứ hàng hoá, hay nói cách
khác, cổ phiếu có thể chuyển nhượng được. Cổ phiếu có thể được dùng làm tài sản
thừa kế, tài sản cầm cố thế chấp trong các quan hệ tín dụng.
 Đặc trưng về thành viên. Thành viên của công ty cổ phần gọi là cổ đông, số lượng cổ
đông tối thiểu để thành lập một công ty cổ phần là ba, số lượng tối đa không hạn chế.
- Phân loại cổ đông. i) Căn cứ vào số vốn góp vào công ty ta có: cổ đông nhiều vốn, cổ
đông ít vốn, ii) Căn cứ vào loại cổ phần đang sở hữu ta có: cổ đông phổ thông, cổ đông nắm
giữ cổ phần ưu đãi các loại.
- Quyền và nghĩa vụ của các loại cổ đông không giống nhau, tuỳ thuộc vào loại cổ phần
đang nắm giữ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status