Biện chứng và những nghiên cứu trị liệu bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng đông dược - Pdf 25

bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế

trờng đạI học y hà nội












NGUYễN THị TÂN
Chuyên đề tiến sĩ:

Biện chứng và Những nghiên cứu
trị liệu bệnh
PHì ĐạI LàNH TíNH TUYếN TIềN LIệT
BằNG ĐÔNG DƯợC

TTL : TuyÕn tiÒn liÖt
YHCT : Y häc cæ truyÒn
YHH§ : Y häc hiÖn ®¹i

mục lục
Mở đầu 1

I. Khái niệm chung về bệnh PĐLT/TTL theo YHCT 2

1.1. Lâm chứng 2

1.2. Long bế 5

1.3. Di niệu 6

1.4. Quan hệ giữa PĐLT/TTL với lâm chứng, long bế và di niệu 7

II. Nguyên nhân - cơ chế bệnh sinh PĐLT/TTL theo YHCT 8

2.1. Nguyên nhân gây bệnh PĐLT/TTL theo YHCT 8


5.2. Các nghiên cứu ở nớc ngoài
18

KÕt luËn 28

TàI LIệU THAM KHảO

khoa học lần II - Y học cổ truyền, Sở Y tế Bình định, tr 38 51.
13. Trần Lập Công (2000), Nghiên cứu tác dụng thông tiểu tiện ở bệnh
nhân u PĐLT/TTL của bài thuốc Tỳ giải phân thanh gia giảm,
Luận văn thạc sĩ Y học, Học viện Quân y 103.
14. Trần Xuân Dâng (2003), Nghiên cứu tình hình u tuyến tiền liệt và
kết quả điều trị bằng thuốc y học cổ truyền tại một số địa phơng Hà
tĩnh, Luận văn Chuyên khoa cấp II, Đại học Y khoa Huế.
15. Lê Huy Hảo, Đặng Tuấn Hng (2003), Đông y trong trị bệnh nam
giới, Nhà xuất bản Thanh hoá, tr 7 - 161.
16. Nguyễn Xuân Hớng (1998), Kết quả điều trị 158 bệnh nhân u xơ
tiền liệt tuyến bằng thuốc dân tộc, Tạp chí Y học , tập 225, số 9 -
10/1998, tr 100 101.
17. Nguyễn Xuân Hớng (2001), Kết quả điều trị u xơ tiền liệt tuyến
bằng nớc sắc lá trinh nữ hoàng cung, Đề tài khoa học cấp bộ , tr
18 -20.
18. Dơng Văn Kết, Đỗ Trọng Khiết, Tô Thị Ngọc ( 1998), Một số nhận
xét thử nghiệm lâm sàng điều trị u PĐLT/TTL bằng Blastolysin-
Hepaton-promolan, Tạp chí Y học, tập 225, số 9-10/1998., tr 68- 69.
19. Bành Văn Khìu, Trần Lập Công (2001), Nghiên cứu tác dụng thông
tiểu tiện của bài thuốc Tỳ giải phân thanh gia giảm ở bệnh nhân u
PĐLT/TTL , Tạp chí sinh lý học Tập 5, số 1/2001, 36 - 42.
20. Trần Văn Kỳ (1997), Chứng lâm, Triệu chứng và điều trị học Đông
y, Nhà xuất bản Đồng tháp, tr 84- 87.
21. Trần Văn Kỳ (2002), Đông Y ngoại khoa, Nhà xuất bản Y học chi
nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tr 84- 87.
22. Lê Lam (1999), Giới thiệu dơn thuốc kinh nghiệm chữa khó đái do
u xơ tiền liệt tuyến, Tạp chí Y học cổ truyền Việt Nam, số
303/1999, tr 17 -18.
23. Đỗ Tất Lợi (2000), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất
bản Y học, Hà Nội.

35. Lepor Herbert, Lowe Franklin C.(2002), Evaluation and
nonsurgical management of benign prostatic hyperplasia,
Campbells Urology, Vol 2, section 6, chapter 39.
36. Walsh Patrick C. (1992), Benign prostatic hyperplasia,
Campbells Urology, Volume 2, pp. 1003 -1024.
TIếNG TRUNG
37. (1999,)
"()104
"
(98-99 )
38. . (2000,)
"86"
-17.
39. (1999,)
"38"
-(16-17)
40. .(1999,)
""
- (44-46)
41. ..(1999, )
"中葯臍敷治療慢性前列腺炎81例觀察"
新中醫雜誌-老中醫經嚴(16-17頁)
42. 郭元琪.等(2000年,3月,第三期)
"雙澤湯治療慢性前列腺炎60例"
新中醫-中國自然科學核心期刊(45-46頁)
43. 黃之光(1999, 第80期)
"慢性前列腺炎中醫治療近況"
光明中醫雜誌第14卷第80期
文獻總述(22-26頁)
44. 槳學中.等(1999年,第12期)

mong muốn kèm theo [34], [35].
Hiện nay, ngời ta đang tích cực tìm kiếm các thuốc có nguồn gốc thảo
dợc để điều trị PĐLT/TTL nhằm hạn chế các tác dụng phụ và tai biến nói trên.
Một số tài liệu trong và ngoài nớc về YHCT đ đề cập đến việc sử dụng thuốc
Đông dợc trong điều trị bệnh lý này với những kết quả khả quan.
Việc tìm hiểu các nghiên cứu đ và đang đợc tiến hành trong và ngoài
nớc cũng nh các phơng pháp trị liệu bằng Đông dợc trong điều trị
PĐLT/TTL nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bệnh lý này. Đây là cơ sở góp
phần làm rõ nét thêm cho đề tài chúng tôi đang thực hiện: Đánh giá tác dụng
của bài thuốc Tiền liệt thanh giải viên trong điều trị Phì đại lành tính tuyến tiền
liệt.

2

I. KHáI NIệM CHUNG Về BệNH phì đại lành tính tuyến tiền
liệt THEO Y HọC Cổ TRUYềN
Trong Y học cổ truyền (YHCT) không có tên gọi bệnh lý phì đại lành tính
tuyến tiền liệt (PĐLT/TTL). Các y văn xa và nay đều gọi Chứng lâm là chỉ
chung bệnh lý đờng tiết niệu. PĐLT/TTL đợc quy nạp thuộc phạm vi Lâm
chứng , Long bế, Di niệu của y học cổ truyền. Quá trình diễn biến bệnh
khác nhau nh tiểu tiện không thông suốt và phát triển bệnh từ từ gọi là long,
trở ngại cấp tính gọi là bế. Trờng hợp nớc tiểu tự chảy ra gọi là di
niệu[4], [6].
1.1. Lâm chứng
1.1.1. Đại cơng
Lâm chứng là bệnh có đi tiểu nhiều lần, mỗi lân đi tiểu có cảm giác đau,
nớc tiểu ít, khó ra, bụng dới đau lan đến thắt lng, nặng thì tiểu không đợc.
Kim quỹ yếu lợc viết: bệnh lâm đi đái nớc tiểu ra nhỏ giọt, bụng dới căng
đau, đau lan đến rốn [7]. Hải Thợng Ln Ông Lê Hữu Trác đ đề cập có năm
chứng lâm là Nhiệt lâm, Lao lâm, Khí lâm, Huyết lâm và Thạch lâm [28]. Trong

bàng quang, thận h không thể chế ớc đợc chỉ dịch (nớc, mỡ). Tuệ Tĩnh cho
là do ham ăn đồ cao lơng vị hậu, rợu nồng thịt nớng quá nhiều hoặc do lo
nghĩ , sắc dục quá độ đến nỗi thuỷ hoả mất điều hoà, tâm thận không còn giao
với nhau. Vì vậy trong điều trị đ có các phép khác nhau nh thông lợi cố sáp,
thanh nhiệt, hoá kết thăng dơng, hoạt lợi [9], [27].
Trên cơ sở phân biệt các chứng lâm khác nhau còn phân biệt h thực. Nói
chung lúc đầu bệnh mới phát gấp là thực, vì bàng quang thấp nhiệt, khí trệ không
thông lợi là chính; bệnh lâu ngày phần nhiều là h, bệnh ở tỳ, thận. Lấy tỳ h,
thận h, khí âm đều h là chính. Cùng một bệnh lâm, vì chịu ảnh hởng các

4

nhân tố khác nhau cho nên bệnh lý cũng không đơn thuần nh nhau. Nh cùng
một chứng khí lâm đ có chứng thực lại có chứng h: chứng thực vì khí trệ
không thông lợi, chứng h vì khí h hạ hm. Chứng huyết lâm vì thấp nhiệt dồn
xuống, làm hại lạc mạch thuộc thực; vì âm h hoả vợng, h hoả đốt lạc mạch
thuộc h. Chứng nhiệt lâm đ qua điều trị, có khi thấp nhiệt cha hết lại xuất
hiện triệu chứng thận âm bất túc hoặc khí âm đều tổn thơng, đó là h thực lẫn
lộn; thực thì thanh lợi, h thì bổ ích đó là nguyên tắc cơ bản chữa bệnh lâm.
Chứng thực thì bàng quang thấp nhiệt là chính, khi chữa bệnh nên thanh nhiệt lợi
thấp, vì nhiệt hại huyết lạc nên lơng huyết chỉ huyết, vì cát sỏi tụ lại nên thông
lâm bài sỏi. Nếu khí trệ không thông lợi nên lợi khí sơ đạo. Chứng h nếu tỳ h
là chính, nên bổ h ích thận [6].
Từ Linh Thai có nói: Phép chữa bệnh lâm có thông có tắc cần nên phân
biệt; có ứ huyết đọng tắc bí niệu quản nên thông trớc; không có ứ tích mà h
thoát ra nên bổ mạnh.
Chữa bệnh lâm ngày xa có thuyết kiêng phát hn và phép bổ. Sách Kim
quỹ yếu lợc viết: Ngời bị bệnh lâm không đợc phát hn. Chu Đan Khê nói:
Không nên dùng thuốc bổ khí, khí đợc bổ càng trớng, huyết đợc bổ càng
sáp lại, nhiệt đợc bổ càng thịnh lên. Trong thực tế lâm sàng không phải tất cả

Thăng ma, trớc uống thuốc rồi sau cho nôn hoặc trong khi uống thuốc cho nôn;
huyết h thì sử dụng Tứ vật thang uống thuốc rồi cho nôn hoặc Khung quy thang
kết hợp cho nôn; đờm nhiều sử dụng Nhị trần thang uống thuốc trớc rồi sau cho
nôn mửa, nếu đàm khí bế tắc thì dùng Nhị trần thang gia Mộc hơng, Hơng phụ
rồi móc họng cho nôn. Nh vậy Chu Đan Khê đ dùng phép thổ ví nh nớc
nhỏ trong bình, khiếu trên bít lại, khiếu dới không thông đợc, khi mở khiếu
trên ra thì khiếu dới thông [6].
Trơng Cảnh Nhạc quy nạp thành bốn phơng diện: vì hoả tà kết tụ ở tiểu
trờng, bàng quang; đó là vì suối nớc khô cạn mà khí môn nhiệt bế lại không
thông; có khi vì nhiệt ở can thận hoặc vì bại tinh hoặc vì huyết hao trở tắc lại mà
đờng nớc không thông; có khi vì chân dơng kiệt ở dới, nguyên khí mất gốc,
khí h không hoá mà đọng lại; có khi vì can mạnh khí nghịch trở ngại đến bàng
quang, khí nghịch mà đóng lại hoặc hoả ở bàng quang mà nhiệt bế không thông

6

thì có thể lợi đi; can thận có thực hỏa thì phải trừ hỏa là thủy tự thông; can mạnh
khí nghịch ủng bế không thông thì phá khí, hành khí [6].
1.2.2. Nguyên nhân
Bí tiểu là do thận và bàng quang bị nhiệt gây nên (Nam dợc thần hiệu - bí
tiểu tiện)[27]. Trơng Cảnh Nhạc cho là hoặc tinh bại hoặc tích huyết làm tắc
đờng nớc nên tiểu không thông. Hiện nay thờng cho là do thấp nhiệt ứ trệ ở
bàng quang hoặc nhiệt ở thận xuống bàng quang kết hợp với thấp làm cho khí
hoá không lợi ; hoặc nhiệt úng thịnh ở phế , tân dịch không xuống thận dợc,
hoặc nhiệt ở phế đi xuống bàng quang làm cho khí cơ không điều hoà, sự vận
chuyển và khí hoá của thuỷ dịch ở tam tiêu thất thờng gây nên, hoặc ở bàng
quang có huyết ứ ngng tụ, sỏi làm tắc đờng nớc, hoặc thận dơng h làm khí
hoá của bàng quang không lợi, không có nớc tiểu [9], [24].
Trong YHHĐ chứng này thờng do các bệnh gây ứ đọng nớc tiểu hoặc
vô niệu gây nên.

viết trong chơng Mạch chứng và cách chữa bệnh phong hàn tích tụ ở ngũ tạng,
Kinh văn 166: Hạ tiêu kiệt thì ỉa đái không tự chủ đợc mà phế tỳ khí h
không chu nhiếp đợc cũng có thể ảnh hởng đến sự bế tàng của bàng quang
[5], [6].
Vu Tại Kinh nói: Tỳ phế khí h, không ớc thúc đợc thuỷ đạo mà sinh
bệnh đái không nhịn đợc. Sách Kim quỹ cho là trên h thì không chế đợc
dới, đó là nói rõ phế tỳ hoặc thận bị suy nhợc đều có thể làm cho bàng quang
mất tác dụng đốc thúc mà sinh ra đái dầm hoặc đái không nhịn đợc [5], [6].
1. 4. Quan hệ giữa PĐLT/TTL với lâm chứng, long bế và di niệu
Qua nghiên cứu các khái niệm về lâm chứng, long bế và di niệu của
YHCT , rõ ràng bệnh lý PĐLT/TTL liên quan đến cả 3 khái niệm trên. Tuy
nhiên trên thực tế, khi bệnh còn chỉ định nội khoa thì liên quan đến lâm chứng
nhiều hơn là long bế và di niệu. 8

II. NGUYÊN NHÂN - CƠ CHế SINH BệNH PĐLT/TTL THEO YHCT
Tuyến tiền liệt là một tuyến sinh sản lệ thuộc lớn nhất trong cơ quan sinh
dục. Nó là một thể tuyến phát triển ở ngoài niệu đạo của nam giới. Sự phát triển
và trởng thành của TTL có liên quan mật thiết với tinh hoàn. Khi còn nhỏ, TTL
rất bé, đến 16 tuổi tuyến này mới phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển
của tinh hoàn. Đến 24 tuổi TTL phát triển tới đỉnh cao và giữ ở trạng thái cân
bằng đó cho đến khi cơ thể bị lo hoá thì bị khô, thu hẹp lại. Nhng với một số
ngời TTL lại phát triển phì đại [15].
2.1. Nguyên nhân gây bệnh PĐLT/TTL theo YHCT : do các nguyên nhân
sau:

bàng quang. Thận chủ về thuỷ dịch là chỉ vào tác dụng hết sức quan trọng của
thận đối với việc điều tiết giữ sự thăng bằng về thuỷ dịch trong cơ thể. Sự phân
bố và bài tiết thủy dịch trong thân thể chủ yếu nhờ tác dụng khí hoá của thận.
Khí hoá của thận đợc bình thờng thì công năng mở ra, đóng vào có chừng mực
[6].
Mặc khác thuỷ dịch thông qua sự thu nạp của vị, sự chuyển hoá của tỳ, sự
túc giáng của phế mà thấm xuống đến thận làm cho thứ thanh đi lên phế, phân
bố khắp toàn thân, thứ trọc thấm xuống bàng quang mà bài tiết ra ngoài, từ đó
mà duy trì sự vận hoá thuỷ dịch bình thờng của cơ thể. Nếu công năng khí hoá
của thận bị thất thờng, thì sự mở đóng tiền âm, hậu âm không thuận lợi mà gây
bí tiểu [6].
Giải thích về cơ chế bệnh lý khí h sinh bí đái, Trơng Cảnh Nhạc căn cứ
vào Bàng quang là châu đô chi quan, khí hoá từ đó mà ra đ nói: Bàng quang
là phủ của thận thủy, cho nên thuỷ vào bàng quang là từ khí mà hoá thành thuỷ,
vì vậy có khí thì có thuỷ, có thuỷ mới có nớc tiểu.
Vì có hoả để mà vào, sau đó có hoả để mà ra cho nên thứ vào thứ ra đều
do khí hoá, đó là ý nghĩa khí hoá của kinh bàng quang. Nay hễ bệnh khí h mà
đóng lại thì đó tức là chân dơng kiệt ở dới, bề của nguyên khí không có gốc,
thuỷ hoả không giao nhau, âm dơng ngăn cách, cho nên khí không hoá thuỷ,
thuỷ bị đọng lại không vận hành. Khí không hoá thuỷ làm cho bàng quang có
khi khô kiệt. Khí đ không hoá đợc mà muốn ép cho thông lợi thì làm sao đợc.
Trong âm đ không có dơng mà lại dùng thuốc khổ hàn thì có nguy hại không.

10

Vì thế ông nêu cách chữa khí h mà bế thì cần phải làm cho đợc hoá, mà cần
biện rõ hàn nhiệt của tạng phủ [6].
III. TRIệU CHứNG BệNH PĐLT/TTL THEO YHCT
Bệnh PĐLT/TTL trong thời kỳ đầu của bệnh triệu chứng không rõ ràng
nên khó có thể phát hiện bệnh. Chỉ khi có rối loạn tiểu tiện thì mới phát hiện

4.1.1. Thể phế khí h nhợc
Tiểu tiện không thông, họng khô, miệng khát, hô hấp kém, rêu lỡi vàng,
mạch hoạt sác.
Bài thuốc thờng dùng gồm các vị: Hoàng cầm, Phục linh, Tang bạch bì,
Mạch đông, Xa tiền tử, Chi tử, Mộc thông, Hạnh nhân, Quất hạnh
4.1.2. Thể thấp nhiệt hạ chú
Nớc tiểu vàng đậm, bí tiểu, miệng khát, lỡi hồng, rêu lỡi dày nhớt,
mạch hoạt sác.
Nguyên tắc điều trị là thanh nhiệt hoá thấp, thông lợi bàng quang.
Bài thuốc thờng dùng là Bát chính thang gia giảm.Bao gồm:
Mộc thông, Xa tiền tử, Cù mạch, Biển xúc, Chi tử, Hoạt thạch, Cam thảo,
Hoàng bá, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Bại tơng thảo, Phợng vĩ thảo
4.1.3. Thể âm h hoả vợng
Đi tiểu ít, có màu vàng đậm, bế trở không thông, miệng khát, đại tiện táo,
bón, kèm theo triệu chứng choáng đầu ù tai, chất lỡi nhạt, mạch huyền sác.
Nguyên tắc trị liệu là Bổ thận, dỡng âm, thanh lợi bàng quang.
Bài thuốc thờng dùng là Tri bá địa hoàng thang gồm các vị:
Tri mẫu, Hoàng bá, Địa hoàng, Sơn thù du, Sơn dợc, Trạch tả, Đan bì,
Phục linh, Tr linh, Hoạt thạch.
4.1.4. Thể thận dơng h suy
Bài tiết kém, không thoải mái, nớc tiểu trong, mặt trắng nhợt, tinh thần
mệt mỏi, tay chân lạnh, lng gối đau mỏi, khó chịu, lỡi nhợt rêu lỡi trắng,
mạch trầm tế nhợc.
Nguyên tắc điều trị trong trờng hợp này là bổ thận ôn dơng, hành khí lợi niệu.
Bài thuốc thờng dùng là Bát vị hoàn gia giảm gồm các vị:
Phụ tử, Nhục quế, Nhục thung dung, Sơn thù, Trạch tả, Phục linh, Xa tiền
tử, Ngu tất.

12


13

- Lấy hai con ốc rửa sạch, hai nhánh hành. Tất cả đập nát, đắp vào rốn
ngày 2 lần, mỗi lần từ 3 - 4 tiếng rồi bỏ đi. Cách 2 - 4 tiếng lại đắp lần
nữa.
4.3. Điều trị bằng liệu pháp đơn nghiệm phơng
- Bài 1:
Bột bọ hung 3g, mỗi ngày uống 1 lần, bằng nớc ấm.
Nếu khí h thì uống thêm Bổ trung ích khí hoàn.
Nếu thực nhiệt thì uống thêm Long đởm tả can thang.
- Bài 2:
Sinh đại hoàng 12g, Hoa kinh giới 12g. Tất cả phơi khô, nghiền nhỏ dùng
để uống. Trớc tiên uống một nửa, sau một tiếng uống nốt nửa còn lại. Dùng
nớc ấm để uống.
- Bài 3:
Mỗi ngày ăn một nắm hạt bí ngô cũng có thể chữa đợc bệnh phì đại
tuyến tiền liệt ở thời kỳ đầu.
4.4. Điều trị bằng phơng pháp châm cứu
- Châm kim vào các huyệt Quan nguyên, Khí hải, Tam âm giao, Âm
lăng tuyền. Bắt đầu châm từ nhẹ đến mạnh. Cứ một phút châm một lần.
Đối với những ngời âm h cần gia cứu Quan nguyên, Khí hải, giữ
nguyên kim châm cho đến khi bài niệu mới thôi.
- Trờng hợp bí đái cấp tính thì châm vào các huyệt Trung cực, Quy lai,
Tam âm giao, Bàng quang du và tiến hành cứu các huyệt: Khí hải,
Quan nguyên, Thuỷ đạo [15]
Tốt: các triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt, siêu âm TTL nhỏ lại
Khá: các triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt, siêu âm TTL ít thay đổi
Không kết quả: không thấy kết quả về lâm sàng cũng nh siêu âm.

15

Không chịu thuốc: tác dụng phụ, xấu.
Kết quả cho thấy sau 3 tháng điều trị, các triệu chứng kích thích và tắc nghẽn
giảm ở hầu hết bệnh nhân, tuy nhiên tỷ lệ cha cao và cha đồng đều ở những
bệnh nhân khi biểu hiện lâm sàng đ quá rõ. Thể tích tuyến tiền liệt giảm từ 51,3
14,6 xuống còn 35,95 12,42cm
3
. Loại rất tốt chiếm 19,1%, tốt chiếm 40,1%,
Khá: 34%, và không kết quả 6,3%.
5.1.3. Bài thuốc Hoàn xích hơng của Trần Xuân Dâng [14]
Hoàn xích hơng là bài thuốc bao gồm các vị: Ngấy hơng (cây ngấy, ngũ
gia bì, đũm hơng), Xích đồng nam, Bạch linh, Trạch tả, Đan bì, Sơn thù, Hòai
sơn, Thục địa. Thuốc đợc dùng dới dạng viên tròn.
Nghiên cứu đợc tiến hành trên 100 bệnh nhân đợc chẩn đoán
PĐLT/TTL ở một số địa phơng Hà Tĩnh. Bệnh nhân đợc uống thuốc trong 30
ngày. Tiêu chuẩn đánh giá dựa vào sự biến đổi của 4 chỉ tiêu: điểm IPSS, lu
lợng nớc tiểu, thể tích nớc tiểu tồn d, trọng lợng tuyến tiền liệt. Cụ thể
nh sau:
Tốt : khi cải thiện đợc 4 chỉ tiêu
Khá : chỉ cải thiện 3/4 chỉ tiêu
Trung bình : cải thiện 2/4 chỉ tiêu
Kém : cải thiện đợc 1/4 chỉ tiêu
Sau 1 tháng điều trị , kết quả tốt 76%, khá 16%, trung bình 5%, kém 3%.
Số lần đi tiểu trung bình giảm từ 9,56 lần/ngày xuống còn 5,8 lần/ngày. Số lần đi
tiểu của bệnh nhân đều giảm trong đó đi tiểu <5 lần/ngày chiếm 56%. Tổng số

u xơ tiền liệt tuyến dựa vào lâm sàng và siêu âm tại bệnh viện Hữu nghị từ năm
1995 đến 1998. Bệnh nhân đợc dùng nớc sắc lá trinh nữ hoàng cung ( Náng
hoa trắng, thập bát học sĩ). Mỗi ngày dùng 3 lá phơi khô, sao vàng hạ thổ, sắc
cách thủy.Chia làm hai lần uống trong ngày. Uống 21 ngày một đợt. Sau mỗi đợt
điều trị kiểm tra bằng siêu âm và dựa vào triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân để
đánh giá kết quả. Kết quả cho thấy dùng lá cây trinh nữ hoàng cung để điều trị u
xơ tiền liệt tuyến mang lại kết quả tốt đạt 97% số bệnh nhân đợc theo dõi. Tiểu
tiện tia to, không són, số lần đi tiểu giảm, kích thớc tuyến tiền liệt giảm.
5.1.6. Điều trị bằng viên nang trinh nữ hoàng cung [2],[11], [26], [30]
Nguyễn văn Bằng và cộng sự đ bớc đầu nghiên cứu cây trinh nữ hoàng
cung, cho thấy cây thuốc có khả năng chữa một số bệnh ung th.
Bác sĩ Lê Anh Th đ sử dụng viên nang trinh nữ hoàng cung ( TNHC) do
công ty cổ phần dợc liệu trung ơng 2 sản xuất. Viên nang cứng làm từ cao khô

17

chứa ancaloit toàn phần của lá cây TNHC. Mỗi viên chứa 250mg cao khô TNHC
tơng đơng với 1,25mg ancaloit toàn phần. Thuốc đợc dùng 8 viên / ngày chia
2 lần sau ăn sáng và tra 1 giờ. Thời gian dùng thuốc trong 60 ngày(2 tháng).
Trên 52 bệnh nhân bị PĐLT/TTL có rối loạn tiểu tiện dùng viên nang TNHC ,
kết quả khá tốt đạt 96,1 %. Tổng điểm IPSS giảm từ 21,32 xuống còn 3,48; thể
tích nớc tiểu tồn d giảm từ 11,86 ml xuống còn 4,3 ml. Tác dụng làm giảm thể
tích TTL của thuốc còn cha thật rõ nét trên siêu âm sau 2 tháng điều trị.
5.1.7. Điều trị bằng chế phẩm TADIMAX[12]
Lê Trung Chính và cộng sự Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Đà
nẵng đ nghiên cứu trên 60 bệnh nhân trên 40 tuổi đợc chẩn đoán U phì đại
lành tính tuyến tiền liệt. Bệnh nhân đợc điều trị bằng chế phẩm TADIMAX do
Xí nghiệp Dợc phẩm Trung Ương 5 - Đà Nẵng sản xuất. Thành phần của thuốc
bao gồm:
Trinh nữ hoàng cung Đào nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status