BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
BỘ Y TẾTRƯỜNG ðẠI HỌC Y HÀ NỘI
CHUYÊN ðỀ TIẾN SỸ Y HỌC PHẪU THUẬT GHÉP GIÁC MẠC
ðIỀU TRỊ VIÊM LOÉT GIÁC MẠC NẶNG Hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Thị Minh Châu
NCS: Phạm Ngọc ðông, NCS 23, CN Nhãn khoa
Hướng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Thị Minh Châu
PGS. TS Phạm Thị Khánh Vân
NCS: Phạm Ngọc ðông, NCS 23, CN Nhãn khoa
2
MỤC LỤC
1. Mở ñầu 3
2. ðại cương về ghép giác mạc 4
2.1. Phân loại ghép giác mạc 4
2.1.1. Theo nguồn gốc mảnh ghép 4
2.1.2. Theo mục ñích ghép 5
2.1.3. Phân loại theo kỹ thuật ghép 7
2.2. Kết quả ghép giác mạc 9
3. Ghép giác mạc ñiều trị VLGM nhiễm trùng nặng 10
3.1. Chỉ ñịnh: 12
3.2. Kỹ thuật ghép 13
3.3. ðiều trị sau ghép giác mạc 16
3.4. Kết quả ghép giác mạc ñiều trị 18
3.5. Biến chứng của phẫu thuật ghép giác mạc ñiều trị 20
3.5.1. Biến chứng trong mổ 21
3.5.2. Biến chứng sau mổ 24
2. ðại cương về ghép giác mạc
Ghép giác mạc là phẫu thuật thay thế phần giác mạc bệnh lý của mắt
bằng tổ chức giác mạc lành. Giác mạc ghép thường ñược lấy từ mắt tử thi
hoặc từ những mắt phải bỏ nhãn cầu nhưng giác mạc còn tốt.
2.1. Phân loại ghép giác mạc
2.1.1. Theo nguồn gốc mảnh ghép [2]:
Dựa trên mối quan hệ di truyền giữa người cho và người nhận, ghép giác
mạc (và ghép mô tạng nói chung) ñược phân thành 4 loại:
- Ghép khác loài (xenograft): là ghép giác mạc ñược trao ñổi giữa hai cơ
thể thuộc hai loài khác nhau. Loại ghép này ñã ñi vào lịch sử ghép giác
mạc (các tác giả ñã lấy giác mạc lợn ñể ghép cho người).
- Ghép khác gen cùng loài (allograft): Giác mạc ghép ñược lấy từ giác mạc
của người này (thường lấy từ tử thi), ghép cho người khác. Loại ghép này
chiếm ña số trong các trường hợp ghép giác mạc.
- Ghép cùng gen (synograft) là trường hợp ghép trao ñổi giác mạc giữa hai
cơ thể hoàn toàn giống nhau về mặt di truyền (ví dụ anh em sinh ñôi cùng
trứng). Trên thực tế, loại ghép giác mạc này hầu như không gặp.
- Ghép giác mạc tự thân (autograft): trong một số ít trường hợp, lấy giác
mạc của một mắt ñã mất chức năng nhưng giác mạc còn tốt (như trong
trường hợp teo gai thị), ghép cho mắt bên kia bị bệnh giác mạc của chính
bệnh nhân ñó hoặc ghép chuyển vị trí tổn thương trên giác mạc cùng một
mắt (ghép xoay).
5
2.1.2. Theo mục ñích ghép:
Ghép giác mạc ñược tiến hành với nhiều mục ñích khác nhau, trong
ñó chủ yếu là ñể cải thiện thị lực. Chỉ ñịnh ghép giác mạc ñược phân làm
bốn nhóm chủ yếu là ghép quang học, ghép tái tạo cấu trúc nhãn cầu, ghép
ñiều trị và ghép thẩm mỹ [16].
Ghép giác mạc ñiều trị ñược chỉ ñịnh cho các trường hợp viêm loét
giác mạc nhiễm trùng ñể nhằm loại trừ các tác nhân vi sinh vật gây bệnh
không ñáp ứng với các thuốc kháng sinh ñặc hiệu. Ghép thường ñược chỉ
ñịnh trong các trường hợp viêm loét giác mạc do nấm hoặc Acanthamoeba.
Ghép giác mạc lấy bỏ phần tổ chức ñang có chứa tác nhân gây bệnh, thay
thế bằng giác mạc lành. Ngoài tác dụng bảo tồn nhãn cầu, ghép cũng có tác
dụng làm cải thiện ñộ trong của giác mạc và nhờ vậy, thị lực ñược cải thiện.
Ghép giác mạc ñiều trị còn ñược chỉ ñịnh trong các trường hợp phù,
có các lắng ñọng khác trên giác mạc, bệnh giác mạc bọng vì ghép sẽ làm
giảm ñáng kể mức ñộ ñau trong bệnh lý này.
Ghép ñiều trị chỉ ñược tiến hành như lựa chọn cuối cùng, khi tất cả
các biện pháp ñiều trị khác thất bại. Do vậy, nếu có thể, cần phải thử tất cả
các biện pháp ñiều trị khác trước khi tiến hành ghép như dùng vạt kết mạc,
màng ối ñể ñiều trị loét không lành, dùng keo dán, kính tiếp xúc mềm ñiều
trị các trường hợp loét thủng nhỏ… 7
Ghép thẩm mỹ:
Mục tiêu chủ yếu của các trường hợp ghép này là tái tạo lại hình ảnh
giác mạc bình thường, không ñem lại sự cải thiện nào về thị lực. Ghép ñược
chỉ ñịnh trong các trường hợp sẹo, hoặc có lắng ñọng trên giác mạc. Tuy
nhiên, không thể ñảm bảo chắc chắn rằng mảnh ghép sẽ trong ở tất cả các
trường hợp và bệnh nhân cũng phải ñiều trị kéo dài như trong ghép quang
học ñể chống thải ghép. Ngày nay, với sự phát triển của kính tiếp xúc mềm
có màu, công nghệ làm mắt giả, thì các trường hợp ghép thẩm mỹ ngày càng
hiếm.
2.1.3. Phân loại theo kỹ thuật ghép: Có hai kỹ thuật chính là: ghép giác
mạc lớp và ghép giác mạc xuyên [1, 4, 21].
tái tạo cấu trúc nhãn cầu, loại trừ nhiễm trùng, thì sau mổ, phẫu thuật thành
công nghĩa là bảo tồn ñược nhãn cầu. Trái lại, trong nhóm ghép quang học,
sau mổ thị lực ñược cải thiện hơn so với trước thì mới coi là thành công.
Tiêu chuẩn thành công của phẫu thuật ghép là giác mạc trong, thị lực cải
thiện 1 hoặc 2 dòng trên bảng Snellen. Sau ghép giác mạc 4-8 tháng, thị lực
mắt ghép mới phục hồi ở mức tối ña. Trong khoảng thời gian này, trong một
số trường hợp, thị lực có thể kém hơn so với trước phẫu thuật. Kết quả ghép
giác mạc xuyên phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong ñó chỉ ñịnh
phẫu thuật là yếu tố quan trọng nhất. Có một số chỉ ñịnh phẫu thuật có tiên
lượng tốt hơn. Nhìn chung, tiên lượng kết quả ghép giác mạc ñược chia
thành 4 nhóm như sau [16]:
Nhóm 1: Tiên lượng rất tốt:
Nhóm này bao gồm các trường hợp có bệnh lý ở trung tâm giác mạc
mà phần ngoại vi vẫn bình thường. Giải phẫu vùng rìa, cảm giác giác mạc,
cũng như phim nước mắt hoàn toàn bình thường như trong bệnh giác mạc
hình chóp, loạn dưỡng giác mạc lưới hoặc hạt, loạn dưỡng Fuchs trung tâm,
các trường hợp sẹo giác mạc cũ. Tiên lượng kết quả nhóm này rất tốt, với tỷ
lệ thành công trên 90%. Kết quả ghép tốt nhất trên nhóm bệnh nhân bệnh
giác mạc hình chóp.
Nhóm 2: Tiên lượng tốt
Bao gồm các trường hợp có tổn thương giác mạc ở một phần hoặc
toàn bộ giác mạc chu biên, ít có tân mạch (tân mạch nhu mô ở < 2 góc phần
tư giác mạc). Nhóm này bao gồm các trường hợp như bệnh giác mạc bọng
10
có thể thủy tinh nhân tạo, loạn dưỡng Fuchs lan tỏa, viêm giác mạc herpes
cũ, hội chứng nội mô giác mạc mống mắt, loạn dưỡng giác mạc ñốm. Tiên
lượng kết quả nhóm này tốt, với tỷ lệ thành công từ 80%-90%.
Nhóm 3: Tiên lượng trung bình:
Giác mạc trong nhóm này có ñặc ñiểm chung là rất dày, tổn thương
mục ñích bảo tồn nhãn cầu [TDT 5]. Tỷ lệ phẫu thuật ghép giác mạc ñiều trị
VLGM trong tổng số các ca ghép giác mạc thay ñổi theo từng tác giả, theo
thời ñiểm thông kê và ở từng nước. Nhìn chung, tỷ lệ ghép ñiều trị VLGM
chiếm khoảng 6,3-29,8% trong tổng số các ca ghép giác mạc [3, 10, 13].
Ghép giác mạc ñiều trị có thể can thiệp mạnh mẽ vào quá trình nhiễm
trùng bằng cách loại bỏ tối ña số lượng các tác nhân gây bệnh tới mức có thể
ñiều trị ñược bằng các thuốc kháng sinh/chống viêm hoặc hệ miễn dịch của
cơ thể có thể tự loại trừ chúng ñược. Trong phẫu thuật này, phần giác mạc
bị viêm, nhiễm trùng ñược lấy ñi và thay thế bằng phần giác mạc lành.
Ghép giác mạc ñiều trị là phẫu thuật ghép nhằm mục tiêu:
- Tái tạo lại cấu trúc của nhãn cầu và/hoặc
- Loại trừ hiện tượng viêm, nhiễm trùng giác mạc không ñáp ứng với
ñiều trị nội khoa.
Thông thường, phẫu thuật ghép giác mạc ñiều trị ñược tiến hành nhằm cả
hai mục tiêu này, như trong trường hợp ñiều trị các trường hợp viêm loét
giác mạc nhiễm trùng, không ñáp ứng với ñiều trị nội khoa, kèm theo có
thủng giác mạc. Ghép giác mạc ñiều trị thường là phẫu thuật cấp cứu nhằm
bảo tồn nhãn cầu. Vì vậy, khác với ghép quang học, mục tiêu chính là phục
12
hồi thị lực cho bệnh nhân, còn trong ghép ñiều trị, ñây là mục tiêu thứ yếu.
Thị lực chỉ phục hồi ñược trong một số trường hợp mà thôi [7].
3.1. Chỉ ñịnh [19]:
Ghép giác mạc ñiều trị VLGM nhiễm khuẩn ñược chỉ ñịnh khi:
- VLGM vẫn tiến triển mặc dù ñã ñiều trị nội khoa tích cực
- VLGM hoại tử, phồng màng descemet hoặc thủng giác mạc.
Viêm loét giác mạc do vi khuẩn: nhờ có các kháng sinh ngày càng mạnh
và ñặc hiệu ñối với vi khuẩn, nên chỉ ñịnh ghép ñiều trị ñối với VLGM do vi
khuẩn ngày càng ít hơn. Tuy nhiên, nếu ñiều trị chậm hoặc không ñúng
cách, nhiễm trùng có thể tiến triển nặng hơn, gây thủng giác mạc. Một số
hợp ghép giác mạc ñiều trị ñều phải làm ghép xuyên, thay thế toàn bộ chiều
dày giác mạc tổn thương bằng giác mạc lành. Tuy nhiên, với những trường
hợp tổn thương giác mạc rộng nhưng không ăn sâu hết bề dày giác mạc, có
tác giả ñã ghép giác mạc lớp ñể ñiều trị.
Malik và Singh ñiều trị 36 mắt loét giác mạc do trực khuẩn mủ xanh
bằng hai phẫu thuật ghép lớp và ghép xuyên. Tất cả các mắt ghép lớp ñều bị
nhiễm trùng tái phát, 1 mắt phải bỏ nhãn cầu. Trong khi ñó, ở nhóm ghép
xuyên, chỉ có 4 trong tổng số 28 mắt ghép bị nhiễm trùng tái phát. Tác giả
cho rằng, ghép xuyên có hiệu quả hơn so với ghép lớp trong việc loại trừ
nhiễm trùng [18]. Cùng với quan ñiểm này, Foster khuyến cáo không nên
phẫu thuật ghép lớp trong ghép giác mạc ñiều trị các trường hợp VLGM
nhiễm trùng, nhất là trường hợp loét giác mạc do nấm vì nguy cơ tái phát rất
cao [TDT 4].
14
Killingsworth và cs. nhận thấy, ghép xuyên loại trừ ñược nhiễm trùng
trên 100% số mắt ñược ghép [11]. Ghép giác mạc xuyên cho 108 mắt bị loét
giác mạc do nấm, Xie thấy không có mắt nào bị nhiễm nấm tái phát và hơn
80% số mắt có giác mạc trong, thị lực ñạt từ 2/10 trở lên [23]. Với phẫu
thuật ghép lớp, Xie chỉ thành công trong 93% số mắt (51/55 mắt loét giác
mạc do nấm). Tác giả cho rằng mặc dù ghép lớp không loại trừ hết nấm như
ghép xuyên, nhưng khi giác mạc của người cho không tốt, bị tổn hại nội mô
nhiều thì vẫn có thể sử dụng ñể ghép lớp nhằm bảo tồn nhãn cầu cho bệnh
nhân [24].
ðặc ñiểm kỹ thuật ghép giác mạc xuyên ñiều trị VLGM:
- Vô cảm:
Có thể mổ ghép giác mạc bằng gây tê tại mắt hoặc mê toàn thân. Tùy
theo tình trạng hợp tác, tuổi bệnh nhân, bệnh lý tại mắt mà lựa chọn hình
thức vô cảm phù hợp. Gây mê thường ñược chỉ ñịnh cho ghép ở trẻ em, hoặc
những bệnh nhân kém hợp tác. Các ñối tượng còn lại thường ñược mổ gây
tổn thương tế bào nội mô [21].
- Khâu mảnh ghép:
Sau khi chuẩn bị xong mảnh ghép và nền ghép, bơm chất nhầy vào tiền
phòng người nhận ñể ñặt mảnh ghép vào nền ghép. Chất nhầy giúp cho duy
trì cấu trúc hình vòm của giác mạc, bảo vệ nội mô của mảnh ghép.
Khâu mảnh ghép bằng chỉ nylon 10-0. Mũi khâu ñầu tiên ñược ñặt ở vị
trí 12h. ðây là mũi khâu khó nhất vì lúc này mảnh ghép chưa ñược cố ñịnh.
16
Nếu khâu không cẩn thận sẽ làm tổn hại ñến tế bào nội mô, ảnh hưởng xấu
ñến ñộ trong của mảnh ghép sau này. Mũi khâu thứ 2 ñặt phía ñối diện, ở 6h.
ðây là mũi khâu quan trọng vì nó quyết ñịnh sự cân xứng của mảnh ghép
ñối với nền ghép. Nếu ñặt mũi khâu không ñúng sẽ làm ảnh hưởng ñến quá
trình liền mép ghép, chậm biểu mô hóa, gây loạn thị nặng sau mổ [21].
Trong ghép ñiều trị, mặc dù ñã lấy hết phần giác mạc tổn thương nhưng
phần giác mạc còn lại vẫn có thể phù nề. Khi khâu, cần dùng mũi khâu rời vì
sẽ ñảm bảo chắc chắn hơn (không nên khâu vắt). Nên ñặt mũi khâu xa hơn
về phía giác mạc nền ghép vì có thể có hiện tượng “cắt bơ”, do giác mạc chủ
bị tổn thương. Khâu rời cho phép có thể cắt chỉ sớm khi có viêm nhiễm, tân
mạch, lỏng chỉ hoặc nhiễm trùng tái phát. ðầu chỉ ñược giấu vào trong nhu
mô ñể tránh gây kích thích, tạo tân mạch sau mổ [21].
- Tái tạo tiền phòng:
Sau khi khâu cố ñịnh giác mạc bằng 8 mũi khâu, cần tái tạo tiền phòng
bằng chất nhầy hoặc dung dịch ñẳng trương, hoặc hơi ñể duy trì áp lực nội
nhãn. Tái tạo tiền phòng góp phần bảo vệ tế bào nội mô, tạo áp lực ñể khâu
dễ dàng hơn. ðể ñảm bảo tiền phòng tái tạo tốt, trước khi kết thúc phẫu
thuật, dùng chất nhuộm fluorescein ñể ñảm bảo mép ghép kín hoàn toàn,
không bị dò thủy dịch.
3.3. ðiều trị sau ghép giác mạc:
Sau khi ghép giác mạc ñiều trị, bệnh nhân cần ñược tiếp tục ñiều trị tại
sử dụng corticosteroid ñồng thời với kháng sinh sẽ có tác dụng ñiều trị viêm.
18
Trong ghép giác mạc ñiều trị VLGM do herpes, dùng corticosteroid cùng
với chống virus toàn thân hoặc tại mắt cũng không làm tăng nguy cơ ñáng kể
ñối với giác mạc. Sở dĩ có sự tranh luận vì trong ghép giác mạc ñiều trị,
thường các tác nhân gây bệnh không ñáp ứng tốt với các thuốc ñiều trị, như
trường hợp loét do nấm hoặc Acanthamoeba. Khi có bất kỳ dấu hiệu nhiễm
trùng tái phát nào thì cũng cần ngừng corticosteroid ngay. Tuy nhiên, khi
mắt ñược ñiều trị tích cực và cắt hết phần tổ chức nhiễm trùng thì có thể sử
dụng corticosteroid mà không gây ra các biến chứng nghiêm trọng.
- ðiều chỉnh nhãn áp:
Sau mổ, cần theo dõi chặt nhãn áp. Trong ghép xuyên vì mục ñích quang
học, tăng nhãn áp gặp trong khoảng 50% các trường hợp. Trong ghép ñiều
trị, bệnh nhân có thể có dính trước, viêm mống mắt, viêm vùng bè làm cho
nhãn áp tăng cao, tỷ lệ tăng nhãn áp có thể cao hơn. Dùng các thuốc giãn
ñồng tử ñể làm liệt thể mi, chống nghẽn ñồng tử, giảm dính trước ở chu
biên, góp phần giảm nguy cơ tăng nhãn áp. Cần phải ñiều trị nội khoa và
ngoại khoa tích cực ñể kiểm soát nhãn áp sau ghép ñiều trị.
3.4. Kết quả ghép giác mạc ñiều trị:
Mục tiêu chính của ghép giác mạc ñiều trị là loại trừ nhiễm trùng, bảo vệ
sự toàn vẹn của nhãn cầu, phục hồi thị lực là mục tiêu thứ yếu. Các chỉ số ñể
ñánh giá kết quả phẫu thuật ghép giác mạc ñiều trị bao gồm:
1. Loại trừ nhiễm trùng
2. ðộ trong của mảnh ghép
3. Kết quả về thị lực
Tiên lượng thị lực sau ghép ñiều trị phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
nhau. Ghép giác mạc ñiều trị thường là phẫu thuật cấp cứu nên khó có thể
19
thấy rằng tỷ lệ loại trừ nhiễm trùng là 100%, với 70% số mắt có giác mạc
trong. Tác giả nhận thấy nếu ñường kính mảnh ghép dưới 9mm, thì tỷ lệ giác
mạc trong là 83%, nếu ñường kính lớn hơn 9mm, tỷ lệ này chỉ còn 50%
[11].
Viêm loét giác mạc do nấm: Tỷ lệ thành công về giải phẫu, loại trừ hoàn
toàn nấm trong ghép ñiều trị dao ñộng từ 86-100%. Tỷ lệ thành công về
chức năng từ 13,3 – 60% [5, 15, 17, 19]. Sander báo cáo chỉ có 2/15 mắt
ñược ghép giác mạc ñiều trị do nấm có ñược thị lực hữu ích sau mổ [17].
Viêm loét giác mạc do herpes: Thành công của phẫu thuật ghép phụ
thuộc vào mức ñộ viêm, tình trạng tân mạch, chỉ khâu và ñiều trị chống viêm
sau phẫu thuật. Sau ghép ñiều trị, tỷ lệ thành công ñạt 63,6% ở những mắt
ñang viêm cấp tính, 100% ở những mắt có thủng giác mạc, không có viêm.
Tỷ lệ mảnh ghép trong ñạt từ 39 -100% [19]. Sau 2 năm, có tới 44% số mắt
bị viêm loét tái phát [12]
Viêm loét giác mạc do Acanthamoeba: Tỷ lệ loại trừ ñược tác nhân gây
bệnh trong ghép ñiều trị VLGM do Acanthamoeba rất thay ñổi. Các tác giả
báo cáo tỷ lệ thành công về giải phẫu chỉ khoảng 50%. Tỷ lệ nhiễm trùng tái
phát sau mổ khá cao, từ 30-50%. Ficker và cs. nhận thấy tỷ lệ tái phát sau
ghép tới hơn 50% và tiên lượng mảnh ghép sống rất thấp [8].
3.5. Biến chứng của phẫu thuật ghép giác mạc ñiều trị:
Trong những năm qua, nhờ có các tiến bộ về kỹ thuật bảo quản giác
mạc, kỹ thuật mổ, dụng cụ vi phẫu, chăm sóc sau mổ nên tỷ lệ sống mảnh
ghép sau ghép giác mạc xuyên ñã tăng lên ñáng kể. Tuy nhiên, mặc dù có
các tiến bộ này, các biến chứng sau mổ ghép vẫn không phải là không có.
21
Các biến chứng có thể ñe dọa ñến sự tồn tại của mảnh ghép hoặc ảnh hưởng
ñến thị lực tối ưu của bệnh nhân.
Việc ñiều trị thành công các biến chứng này phụ thuộc vào khả năng phát
hiện biến chứng và các yếu tố nguy cơ của chúng. Biến chứng của phẫu
Chấn thương mống mắt, thể thủy tinh:
Tổn thương mống mắt và thể thủy tinh rất dễ xảy ra trong ghép ñiều trị vì
giác mạc thủng, phần còn lại cũng rất mỏng. ðể phòng biến chứng này, nên
bơm chất nhầy ñể tái tạo tiền phòng. Khi khoan giác mạc tạo nền ghép, chỉ
khoan một phần chiều dày, sau ñó cắt tạo nền ghép bằng kéo. Hirst và cs
khuyên cáo nên dùng keo cyanocrylate gắn bịt lỗ thủng, sau ñó tái tạo tiền
phòng bằng chất nhầy ñể tránh các tổn thương cho mống mắt và thể thủy
tinh [19] .
Khi có tổn thương thể thủy tinh, cần lấy thể thủy tinh và ñặt thể thủy tinh
nhân tạo. Nếu rách mống mắt rộng, cần khâu phục hồi bằng chỉ polyprolene
10-0 hoặc 11-0.
Tiền phòng nông:
Tiền phòng nông trong ghép giác mạc xuyên có thể xảy ra do mống
mắt nhẽo, do dính giác mạc-mống mắt, áp lực dịch kính tăng, hoặc mảnh
ghép nhỏ. Vì vậy, nên cố gắng tách dính giác mạc-mống mắt tối ña. Trong
các trường hợp có sẹo dính giác mạc-mống mắt hoặc ghép trên trẻ em, có
thể dùng mảnh ghép có ñường kính lớn hơn nền ghép. Sau khi ghép, tái tạo
23
tiền phòng bằng dung dịch muối sinh lý ñể tránh dính tái phát và tổn hại nội
mô. Nguyên nhân không tái tạo ñược tiền phòng là do mép ghép không kín
vì hai bờ giác mạc không tương ñương hoặc do khâu kém.
Không khí có áp lực căng bề mặt cao hơn nước nên không khí thường
có tác dụng làm kín mép ghép và không phát hiện ñược dò mép ghép. Vì vậy
ñể phát hiện ñược dò thủy dịch qua mép ghép, cần thay thế hơi bằng dung
dịch ñẳng trương. Tiền phòng nông cũng có thể do áp lực dịch kính tăng mà
không có dò mép ghép. Trong trường hợp này, có thể hút dịch kính qua pars
plana bằng kim 18G. Nếu mống mắt nhẽo, cần cắt bỏ phần mống này và tạo
hình mống mắt.
3.5.2. Biến chứng sau mổ [7, 22]:
Biến chứng sau mổ ghép giác mạc có thể thay ñổi từ biến chứng nhẹ
ñến các biến chứng nặng, cần phải can thiệp cấp cứu. Vì vậy, việc chẩn ñoán
sớm và can thiệp kịp thời là rất quan trọng trong ghép giác mạc.
Tiền phòng nông và dò thủy dịch qua mép ghép:
Ngày ñầu tiên sau mổ, nếu nhãn áp hạ, tiền phòng nông thì thường là
do thủy dịch dò qua mép mổ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhãn áp
có thể bình thường, thậm chí có thể cao. Có thể xác ñịnh ñược vị trí dò thủy
dịch bằng thử nghiệm Seidel. Tỷ lệ bị hở mép mổ gặp trong 5% - 16,2% các
trường hợp và có thể tránh ñược bằng cách kiểm tra kỹ trước khi kết thúc
phẫu thuật [19].