Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Bài tập cá nhân số 2:
Sinh viên: Phạm Mỹ Linh
Lớp tín chỉ : 36K15.1
Lớp học phần: QTCL3_3
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
Giới hạn nghiên cứu:
- Lĩnh vực: Ngành sản xuất nước uống không gas
- Thời gian: giai đoạn từ 2000-2013
- Phạm vi: trong lãnh thổ Việt Nam
1. Môi trường toàn cầu
1.1. Môi trường nhân khẩu học
o Xu hướng gia tăng dân số
Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, dân số thế giới đã đạt 6 tỷ người vào năm 1999,
tăng lên 6,5 tỷ người năm 2004, lên 6,7 tỷ người năm 2008, và dự báo sẽ lên đến 7
tỷ người vào năm 2012 và 9,2 tỷ người vào năm 2050. Dân số thế giới đã trải qua
sự tăng trưởng liên tục kể từ cuối dịch bệnh dịch hạch khoảng những năm 1348-
1350 Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm; tức
cứ 1 giây lại có 4,4 em bé chào đời; tăng 78 triệu người hàng năm; bình quân cứ
13 năm dân số thế giới đã tăng thêm 1 tỷ người.
Dân số theo vùng: Dân số liệu thống kê trong 6 châu lục và 10 quốc gia
Dân số Châu Á chiếm hơn 60% dân số thế giới với hơn 4 tỷ người. Trung Quốc và
Ấn Độ cùng nhau chiếm khoảng 37 phần trăm dân số thế giới.
Châu Phi đứng sau với 1 tỷ người, chiếm 15% dân số thế giới.
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 1
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Châu Âu có 733.000.000 người, chiếm 11% dân số thế giới. Bắc Mỹ là nơi có đến
352 triệu người (5%), châu Mỹ La tinh và vùng Caribê có 589000000 người (9%),
và Châu Đại Dương có 35 triệu người (ít hơn 1%)
Biểu đồ dân số thế giới giai đoạn 2000- 2011
Prospects)
Biểu đồ dân số thế giới và dự đoán tương lai
(Nguồn: United Nations, Population Division/DESA, World Population
Prospects)
Khuynh hướng: già hóa dân số
Đe dọa: Cần có những thức uống phù hợp cho sức khỏe của người
cao tuổi
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 4
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
1.2. Môi trường văn hóa xã hội
o Toàn cầu hóa Internet
Tổ chức tự do và tiến bộ (PFF) có trụ sở tại Mỹ công bố sô lượng người sử
dụng Internet tăng thêm hơn hơn 100 triệu người từ mức 248 triệu ghi nhận năm
2000, và lên mức 513 triệu vào năm 2001
Theo thống kê của Asia Digital marketing Yearbook, tính đến năm 2006, cả
thế giới đã có đến hơn 1 tỷ người sử dụng Internet, trong đó 20 quốc gia và vùng
lãnh thổ dẫn đầu chiếm gần 80% số người sử dụng Internet toàn cầu, châu Á-Thái
Bình Dương, với 223 triệu người sử dụng mạng thông tin toàn cầu, đã vượt qua
175 triệu người ở Mỹ và 173 triệu của châu Âu.
Khuynh hướng: số lượng người sử dụng internet ngày càng gia tăng, việc
cập nhật thông tin của các doanh nghiệp đến khách hàng trên toàn thế giới
sẽ dễ dàng và tiện lợi hơn, giảm bớt chi phí marketing
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 5
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Cơ hội: giảm chi phí tiếp thị
Tiếp thị hình ảnh thương hiệu nhanh hơn tới nhiều khách hàng hơn.
o Chi phí nguyên liệu
Giá đường trên thế giới:
Đường cũng là một trong những nguyên liệu chính sản xuất nước uống không
gas. Giá đường trên thế giới xảy ra đầy biến động trong thời gian qua và rơi vào
người mắc bệnh đái tháo đường (chiếm 4,8% dân số toàn cầu) thì dự báo đến năm
2025 sẽ có 300 triệu người mắc. Trong đó, khu vực Tây Thái Bình Dương có số
người mắc cao nhất với 44 triệu người, Đông Nam Á là 35 triệu người và tốc độ
gia tăng ở các nước đang phát triển là 170%.
Tại Việt Nam, tình trạng gia tăng số người mắc bệnh đái tháo đường cũng
ngày một cao.
Biểu đồ tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2008
Tại Việt Nam, tình hình mắc bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia
tăng, đặc biệt tại các TP lớn. Theo kết quả điều tra mới nhất, tỉ lệ mắc đái tháo
đường bình quân toàn quốc là 5% dân số (riêng TPHCM là 7%), tỉ lệ tiền đái tháo
đường là 27%.
Các bệnh về tim mạch
Theo báo cáo Viện tim mạch Quốc gia cho biết thì nếu như năm 1970, tỷ lệ
người trưởng thành ở Việt Nam mắc bệnh tăng huyết áp là 10,1%; năm 2000 là
trên 16% thì hiện nay là 25,1% người từ 25 tuổi trở lên, tức cứ 4 người trưởng
thành thì có 1 người bị tăng huyết áp.
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 8
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Bệnh Tăng huyết áp là một ví dụ khá rõ rệt về sự phát triển bệnh Tim mạch
tại Việt Nam:
1960: người bệnh chiếm 1% dân số trưởng thành tại miền Bắc
1976: người bệnh chiếm 1.9% dân số trưởng thành tại miền Bắc
1992: 11.7% đối với cả nước
1999 16,05% ở nội thành Hà Nội.
2001: 23,06% ở nội thành Hà Nội.
2007: 16,32% đối với cả nước.
Bệnh tim mạch là bệnh có nguy cơ gây tử vong cao. Năm 1980, bệnh Tim
mạch là bệnh gây tử vong cao đứng ở hàng thứ tư, còn từ năm 2000 thì bệnh này
gây tử vong hàng đầu.
Theo các năm Hàng đầu Thứ hai Thứ ba Thứ tư
nước không chứa khí carbon dioxide (CO2) như nước tinh khiết, nước ngọt không
gas, nước tăng lực không gas, sữa, …
3.1.2 Mô tả ngành
• Các sản phẩm chủ yếu của ngành chia thành 2 loại chính
- Nước uống giải khát: Nước khoáng, nước suối không gas như Lavi,
Aquafina
- Nước uống bổ dưỡng: sữa đậu nành, nước yến, đồ uống có nguồn gốc
thiên nhiên như: trà xanh, trà thảo mộc, nước hoa quả…
• Một số doanh nghiệp lớn trong ngành: Công ty NGK quốc tế IBC (DN FDI), Tập
đoàn Tân Hiệp Phát, Coca - Cola Việt Nam (FDI) , Công ty CN chế biến thực
phẩm quốc tế, Công ty CP NGK Sài Gòn – Tribeco, Công ty Vinamilk, Công ty
TNHH Red Bull VN (FDI)…
Ngành sản xuất đồ uống không gas là một phân ngành trong ngành nước giải
khát, nó xuất hiện đồng thời với ngành nước giải khát từ khoảng đầu thập niên 90.
Khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường thì trong nước hầu như không có một
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 10
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
thương hiệu nước ngọt hay các sản phẩm đồ uống nào khác ngoài thương hiệu “xá
xị” có từ trước 1975 và sau này vào năm 1992 có thêm thương hiệu Tribeco (một
hãng nước ngọt được thành lập tại Tp Hồ Chí Minh), còn lại hầu hết là các nhãn
hiệu sản xuất thủ công, không có tên tuổi.
Sau một thời gian phát triển mạnh mẽ, theo thống kê đến 2012 cả nước có 134
doanh nghiệp (DN) sản xuất nước giải khát, gồm các DN trong nước và có vốn
FDI.
Trên thị trường hiện có hơn 100 loại nước giải khát không có gas dạng đóng
lon, hộp giấy, chai nhựa, chai thủy tinh uống liền, dung dịch hoặc bột hòa tan rất
nhiều các loại củ quả đã được khai thác để trở thành nước uống.
Theo báo cáo của Cục quản lý cạnh tranh, một thống kê của Nielsen về thị phần
theo nhãn hiệu NGK năm 2011 cho thấy, sản phẩm Trà xanh Không độ chiếm
13% thị phần, C2 chiếm 8,1%, Sting chiếm 5,7%, Coca-Cola chiếm 5,4%,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường các chiến dịch quảng cáo tiếp thị để
duy trì và phát triển thương hiệu của công ty. Khi tạo dựng được lòng trung thành
nhãn hiệu thì sẽ hạn chế được sự nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.
Tại ngành sản xuất đồ uống không gas với sự đa dạng sản phẩm, và thái độ thích
trải nghiệm những hương vị mới của khách hàn nên sự trung thành nhãn hiệu
trong ngành là không cao
• Tính kinh tế theo quy mô
Tuy là ngành mới phát triển nhưng nền tảng sở hữu 60% thị phần trong nước
các đại gia như Pepsico, Coca cola và Tân Hiệp Phát trong lĩnh vực nước giải
khát thì trong lĩnh vực nước uống không gas, các công ty này cũng có một lợi ích
về tính kinh tế quy mô rất lớn.
Với việc sở hữu những cơ sở sản xuất rộng lớn, sự giảm chi phí nhờ vào sản
xuất hàng loạt, hưởng chiết khấu khi mua các nguồn nguyên liệu.Với tính kinh tế
theo quy mô phần nào làm giảm đe dọa nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm
tàng
• Chi phí chuyển đổi
Người tiêu dùng hầu như không tốn chi phí chuyển đổi khi chuyển qua sử dụng
một nhãn hàng khác. Vì hầu hết tại các hệ thống siêu thị, các quầy tạp hóa đều
trưng bày rất nhiều loại nước uống không gas, và khách hàng có thể tùy ý lựa chọn
mà không tốn thêm 1 khoảng phí nào
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 12
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Những lợi thế chi phí tuyệt đối, tính kinh tế theo quy mô của các công ty
trong ngành khiến cho rào cản thâm nhập ngành cao dẫn đến đe dọa từ các
đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là yếu.
3.2.2. Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Cấu trúc cạnh tranh: đây là ngành tập trung với thi phần được năm giữ bởi 1
vài các công ty lớn như Pepsico, Coca cola, Tân Hiệp Phát… Và trong 1 ngành tập
trung để tránh 1 cuộc chiến tranh về giá các hãng cố gắng cạnh tranh trên các nhân
tố không phải giá như chất lượng sản phẩm, khuyễn mãi, thiết kế bao bì….
phẩm của nhiều công ty khác nhau. Do vậy phân khúc khách hàng chỉ được vị thế
yêu cầu giá thấp hơn hoặc yêu cầu dịch vụ tốt hơn. Nhưng với sự thay đổi thị hiếu
thường xuyên của những khách hàng này _bộ phận trực tiếp tạo ra cầu của ngành,
các công ty cần nghiên cứu thị hiếu của phân khúc này để có thể đưa ra những sản
phẩm đáp ứng một cách tốt nhất
- Khách hàng là các nhà phân phôi, siêu thị, các cửa hàng đại lý: Đây là các nhà
bán buôn và bán lẻ giúp phân phôi và tiêu thụ một lượng lớn các sản phẩm của
công ty đến người tiêu dùng cuối cùng. Và với sự đa dạng sản phẩm cũng như các
doanh nghiệp sản xuất nước uống không gas. Do vậy phân khúc khách hàng này
có một vai trò rất quan trọng và không thể thay thế được trọng chuỗi cung ứng sản
phẩm đến người tiêu dùng.
=> Đe dọa từ năng lực thương lượng của người mua cao.
3.2.4. Năng lực thương lượng của nhà cung cấp
Sản phẩm của ngành là các phẩm như các loại nước ép trái cây, các loại trà
thiên nhiên đóng chai, sữa đậu nàng… Các sản phẩm này thường sử dụng các sản
phẩm đầu vào là đường, hương liệu, các loại trái cây hay trà xanh.
Tại Việt Nam có thuận lợi về nguồn “đầu vào”, đó là nguồn trái cây tươi
(riêng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng 2,93 triệu tấn/năm, nguồn nước
khoáng có trữ lượng lớn (hiện có 287 nguồn nước khoáng), trong đó ở miền Tây
Bắc bộ có 87 nguồn, Đông Bắc bộ 14 nguồn, đồng bằng Bắc bộ 17 nguồn, Bắc
Trung bộ 22 nguồn, duyên hải Nam Trung bộ 56 nguồn, cao nguyên Nam Trung
bộ 24 nguồn, Đông Nam bộ 13 nguồn và Đồng bằng sông Cửu Long 54 nguồn .
Ngoài ra, Việt Nam còn có các nguồn nông sản khác như đậu tương, bí đao Các
loại cây công nghiệp: chè, mía được trồng và phát triển với mật độ cao.
Với nguồn nhiên liệu dồi dào, và phổ biến, các công ty trong ngành dễ dàng
với việc thu mua trực tiếp hoặc qua các thương buôn với khối lượng lớn.
=> Đe dọa từ năng lực thương lượng của nhà cung cấp là yếu
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 14
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
3.2.5. Sản phẩm thay thế
hàng loạt các sản phẩm mới với các thành phần chiết xuất từ thiên nhiên, đánh
thẳng vào tâm lý muốn khỏe hơn của người tiêu dùng. Bắt đầu với “ Cuộc chiến
trà xanh”.
Thời điểm năm 2006 chỉ manh nha một vài nhãn hàng và điều này đã giúp
Tân Hiệp Phát thắng lớn với trà xanh Không Độ. Đến nay, chỉ tính sơ bộ đã có
hơn chục nhãn hàng trà của các thương hiệu trong và ngoài nước như: Real Leaf
(Coca-Cola), Vfresh (Vinamilk), Lipton Pure Green (Pepsi), C2 (URC), Anatu
(Bidrico) xuất hiện.
Năm 2009 là thời điểm có tốc độ giảm mạnh nhất, còn 9,5% (về doanh thu)
và 4,9% (về sản lượng). Đây cũng là cột mốc để đánh giá tốc độ phát triển vượt
bậc của sản phẩm trà đóng chai uống liền.
Theo khảo sát của một công ty nghiên cứu thị trường hàng năm, thị trường
nước giải khát không gas tăng 10% trong khi đó nước có gas giảm 5%. Điều này
cho thấy cùng với xu thế chung trên thế giới, người tiêu dùng Việt Nam đã chú ý
lựa chọn dùng các loại nước giải khát có nguồn gốc thiên nhiên, giầu vitamin và
khoáng chất, ít có hóa chất kể cả các hóa chất tạo hương vị màu sắc. Chính vì thế,
các công ty sản xuất kinh doanh nước giải khát tích cực đầu tư dây chuyền, thiết
bị, công nghệ theo hướng khai thác nguồn trái cây, trà xanh, thảo mộc và nước
khoáng rất phong phú đa dạng trong nước,chế biến thành những đồ uống hợp khẩu
vị, giầu sinh tố bổ dưỡng cho sức khỏe đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng
Thống kê của Nielsen trong năm 2011 về ngành hàng nước giải khát cho thấy
các sản phẩm của ngành đồ uống không gas chiếm một lựng thị phần khá cao như:
trà xanh Không Độ chiếm 13% thị phần, C2 chiếm 8,1%, Sting chiếm 5,7%,
Number One và trà Dr. Thanh cùng có mức 4,9%, Red Bull 3,6%
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 16
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Nhiều nhóm hàng trong ngành nước giải khát không gas có doanh số tăng
mạnh trong 6 tháng đầu năm 2012. Đặc biệt, hai ngành hàng nước tăng lực và
nước uống đóng chai đã tăng lần lượt là 27% và 23%.
Con số thống kê tại hệ thống siêu thị Big C về ngành hàng nước giải khát
và thị phần
Trong đó nhóm 1 gồm 2 công ty lớn trong ngành là Pepsi và Coca cola. Đây
là 2 công ty có độ mạnh thương hiệu cao nhất. Các phát triển trên toàn cầu và có
mặt hơn 200 quốc gia trên thế giới với kinh nghiêm lâu đời, và dòng các sản
phẩm thương hiệu mạnh trong ngành sản xuất đồ uống, tuy vậy với ngành đồ uống
không gas vừa phát triển thị phần của nó chưa bằng doanh nghiệp đi trước như
Tân Hiệp Phát.
Nhóm 2 có độ mạnh thương hiệu thấp hơn so với 2 gã khổng lồ trong
ngànhvà đây là các công ty trong nước hay có vốn đầu tư nước ngoài. Các công ty
chỉ mới gia nhập ngành và cón ít kinh nghiệm so vói nhóm 1, tuy vậy các công ty
này tận dụng được sự đi đầu về sản phẩm mới nên có thị phần nhỉnh hơn.
Thấp nhất là các công ty sản xuất nhỏ lẻ tại địa phương, đa phần là các doanh
nghiệp nhỏ sản xuất và cung cấp sản phẩm cho thị trường địa phương.
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 18
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
3.5. Động thái cạnh tranh
• Tân Hiệp Phát, Coca- cola và Pepsi
Năm 2001, Tân Hiệp Phát bỏ thương hiệu bia Bến Thành vốn không thể
cạnh tranh nổi với bia Sài Gòn để nhảy sang một thị trường hoàn toàn mới:
nước tăng lực. Hương vị đặc biệt, đánh đúng sở thích của giới trẻ, nước uống
tăng lực Number 1 của Tân Hiệp Phát đã thành công nhanh chóng.
Sau khi Tân Hiệp Phát thành công với Number 1, Coca-Cola và Pepsi mới
tung ra các sản phẩm tương tự là Samurai và Sting để cạnh tranh. Nhưng lúc
này, Tân Hiệp Phát đã đủ mạnh để tham gia cuộc chiến truyền thông với 2 đại
gia quốc tế. Ban đầu, Sting không thắng nổi Number 1. Không bỏ cuộc, Pepsi
tiếp tục cho ra đời nước uống tăng lực Sting dâu và nhanh chóng thu được
thiện cảm, đặc biệt là của giới trẻ và tiến lên dẫn đầu thị trường nước uống tăng
lực tại Việt Nam.
Sau khi để mất vị trí số 1 trên thị trường nước tăng lực vào tay Pepsi,
năm 2006, Tân Hiệp Phát đã chuyển sang khai phá thị trường trà xanh đóng
phải chạy theo.
Hiện nay:
- Tân Hiệp Phát đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất nước giải khát Number One Chu
Lai tại Khu Công nghiệp Bắc Chu Lai (Quảng Nam) với vốn đầu tư 1.820 tỉ
đồng. Nhà máy được xây dựng trên khu đất diện tích 23ha, công suất thiết kế 600
triệu lít/năm. Điều đáng quan tâm là nhà máy được đầu tư mới 100% toàn bộ các
dây chuyền sản xuất đồng bộ và hiện đại nhất từ châu Âu.
Không chỉ dừng lại ở nhà máy sản xuất tại KCN Bắc Chu Lai, hiện tại,
Tân Hiệp Phát đang triển khai dự án nhà máy thứ hai tại Hà Nam, nâng công suất
lên 2 tỷ lít.
- Phía Coca-cola cũng đang tiếp tục cho ra đời những dòng sản phẩm mới, gần đây
nhất phải kể tới là sản phẩm nước cam Minute Maid Teppy. Đây là sản phẩm
nước cam đóng chai có hương vị cam thơm ngon cùng các tép cam tự nhiên mọng
nước, tràn đầy năng lượng dành cho giới trẻ năng động. Đặc biệt hơn, ngoài chai
thuỷ tinh truyền thống, nước cam Teppy còn có chai nhựa PET độc đáo, tiện dụng
mang đến một phong cách thưởng thức di động hiện đại cho giới trẻ Việt Nam.
Bên cạnh sản phẩm của nhãn hàng Coca-cola
Cuối năm 2012, ông Muhtar Kent, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Tập
đoàn Coca-Cola đã đến Việt Nam và công bố sẽ tiếp tục đầu tư thêm 300 triệu
USD trong 3 năm tới. Trước đó, năm 2009, nhà lãnh đạo này đã chọn Việt Nam
là thị trường cần đến thăm ngay sau khi nhậm chức, cùng khoản đầu tư 200 triệu
USD đi kèm.
- Không kém cạnh, Pepsi cũng liên tục khai trương các nhà máy mới ở Đồng Nai
(45 triệu USD) và Bắc Ninh (73 triệu USD). Mới đây, Pepsi đã bán lại 51% cổ
phần cho Tập đoàn Suntory của Nhật. Suntory được thành lập từ năm 1899, cho
đến nay đã có hơn 200 công ty con và 28.500 nhân viên tại Nhật, Mỹ, châu Âu
và châu Á - Thái Bình Dương. Công ty đồ uống đa quốc gia này hoạt động trong
nhiều lĩnh vực từ chăm sóc sức khỏe, thực phẩm cho đến nhà hàng và hoa. Năm
2011, tổng doanh thu của Hãng là hơn 23 tỉ USD.
Với sự tham gia của cổ đông mới này, chắc chắn Pepsi sẽ không chịu đứng bên
nghiệp cần tích cực nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm thích hợp.
• Các thay đổi về chi phí hiệu quả
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 22
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
Sự khác biệt về chi phí và hiệu quả giữa các đối thủ cạnh tranh có khuynh
hướng làm thay đổi trạng thái cạnh tranh. Các hãng lớn Coca cola, Pepsico đã có
ưu thế về chi phí làm gia tăng áp lực đến các công ty của Việt Nam như Tân Hiệp
Phát, Tribeco… các công ty này nô lực cải thiện công nghệ, quy trình để có được
sự hiệu quả, giảm thiểu chi phí để có thể cạnh tranh với các công ty lớn hiện nay.
• Cải tiến sản phẩm, thay đổi công nghệ, cải tiếng marketing
Cải tiến sản phẩm: Xã hội ngày càng phát triển và nhu cầu của người dân ngày
càng tăng. Để đáp ứng được những thay đổi đó công ty không ngừng nghiên cứu
phát triển thêm nhiều sản phẩm mới phục vụ người tiêu dùng Việt Nam, đồng thời
bổ sung nhiều hương vị mới cho các sản phẩm truyền thống đáp ứng khẩu vị của
người Việt Nam. Ngoài ra cũng nên cải tiến bao bì và hình ảnh của sản phẩm cho
phù hợp hơn để phù hợp với những xu hướng tiêu dùng mới.
Cải tiến Marketing: Không còn phụ thuộc nhiều vào các chương quảng cáo mà
có thêm nhiều hình thức tiếp cận đến người tiêu dùng và hiệu quả hơn. Đưa đến
cho ngươi tiêu dùng những giá trị tăng thêm ngoài giá trị truyền thống mà sản
phẩm mang lại thông qua các chương trình Marketing dùng thử sản phẩm miễn
phí, hệ thống phân phối rộng rãi
3.7. Các nhân tố then chốt
• Mạng lưới phân phối rộng khắp
Để thành công các công ty trong ngành cần thiết lập cho mình một mạng lưới
phân phối rộng khắp và độ bao phủ lớn trên khắp cả nước để có thể phục vụ cho
khách hàng mọi lúc mọi nơi. Sản phẩm của ngành dễ dàng bị thay thế bởi các sản
phẩm khác và lòng trung thành của khách hàng không cao. Coca cola đã từng mất
một lượng thị phần lớn vào đối thử Pepsi của nó vài giai đoạn 2004 do thiếu sự
quan thiếu quan tâm đến các cửa hàng bán lẻ nhỏ. Nó chỉ tập trung phân phối tại
các trung tâm phân phối chính của mình và không để ý phục vụ đơn lẻ cho các cửa
ảnh sản phẩm trẻ trung hơn. Một chiến dịch quảng bá được cho là hoành tráng
nhất của thương hiệu này đang được triển khai đồng bộ trên tất cả các kênh truyền
thông.
KẾT LUẬN:
Ngành sản xuất đồ uống không gas tại Việt Nam là một ngành tập trung, và
đang trong giai đoạn phát triển. Do có những đối thủ khá lớn trong ngành nên sức
hấp dẫn của ngành không cao
Qua những phân tích về môi trường bên ngoài của ngành đồ gia dụng bền lâu,
ta nhận thấy ngành chịu ảnh hưởng mạnh nhất bởi các yếu tố liên quan đến tâm lý
và sự lựa chọn của người tiêu dùng. Do vậy để tăng tính cạnh tranh cũng như thu
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 24
Bài tập cá nhân số 2 GVHD: TS. Nguyễn Thanh Liêm
hút khách hàng các công ty trong ngành chú trọng vào đầu tư Marketing, mang
hình ảnh sản phẩm của mình đến khách hàng, cũng như đi trước trong việc nghiên
cứu những nhu cầu, thị hiếu mới của khách hàng.
SVTH: Phạm Mỹ Linh Trang 25