TP.HCM, ngày….tháng….năm….
TP.HCM, ngày….tháng….năm….
cáo được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin kính chúc Quý thầy cô, Ban Giám đốc và toàn thể cán bộ-công nhân
viên Ngân hàng lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
TP.HCM, tháng 10 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Linh Nhâm.
!
1. "#$%&'()*+,-
Cùng với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước thì
ngành ngân hàng cũng không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng của mình để hoà chung
với nhịp độ phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật.
Từ khi Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO)-nền kinh tế
năng động và đầy cạnh tranh, để có thể hội nhập và đứng vững trên thị trường tài chính-
tiền tệ thì các Ngân hàng thương mại phải không ngừng tự hoàn thiện và làm mới phù hợp
với quy luật phát triển chung. Mở rộng dịch vụ Ngân hàng là một trong những nội dung
cơ bản trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại một cách toàn diện và nâng cao năng lực
cạnh tranh của các Ngân hàng.
Các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đã và đang phát triển nhiều hình
thức huy động cũng như cho vay: mở rộng và đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng, nhất là
dịch vụ thẻ; mở rộng mạng lưới, tập trung tại các thành phố lớn và khu công nghiệp; mở
rộng cho vay tiêu dùng. Bên cạnh đó, cũng từng bước đổi thay và ứng dụng công nghệ
tiên tiến của ngân hàng, nhằm làm cho hoạt động của mình ngày càng đa dạng hoá về các
loại hình kinh doanh dịch vụ, tăng cường vai trò cạnh tranh để thu hút khách hàng, giảm
đến mức thấp nhất những rủi ro trong hoạt động kinh doanh và thu được lợi nhuận cao
nhất.
Từ thực tế đó cho thấy khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công ty,
doanh nghiệp là cần vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường mà hiện nay, các cá
nhân cũng là những người cần vốn hơn bao giờ hết. Tuy nhiên vẫn mới chủ yếu ở các lĩnh
vực truyền thống mà chưa chú ý nhiều đến mảng cho vay tiêu dùng, trong khi trên thế
giới cho vay tiêu dùng đã rất phát triển và trở thành một nguồn thu chính cho Ngân hàng.
trình tham khảo,
• &DG(6/&0/IJK"+&L(6+-(MHK-@:N
- Phương pháp thống kê, miêu tả, tổng hợp số liệu.
- Phương pháp so sánh: sơ sở dữ liệu; tỷ trọng; cơ cấu.
- Phương pháp phân tích số liệu và đánh giá số liệu (số tuyệt đối, số
tương đối).
Ngoài ra đề tài còn tham khảo ý kiến của cán bộ tín dụng tại PGD để có những ý kiến sát
với thực tế hơn
4. H-+DO(67,/&437-(6&-9(%F:
• Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động cho vay tiêu dùng được phân tích dưới góc
độ các chỉ tiêu tài chính nhằm mục đích đưa ra các giải pháp thích hợp cho Ngân hàng
TM XNK Việt Nam chi nhánh Hòa Bình, PGD Hòa Hưng. Nội dung nghiên cứu của báo
cáo tập trung vào phân tích tài chính, phân tích tương quan giữa các hoạt động cho vay
tiêu dùng qua các năm.
• Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động cho vay tiêu dùng tại PGD Hòa Hưng
trong hai năm 2011, 2012 và 6 tháng đầu năm 2013.
5. PQ+%=:7,(5-#:(6%R8)*+,-
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài báo cáo gồm 3 chương:
• Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
thương mại.
• Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP XNK
Việt Nam chi nhánh Hòa Bình, PGD Hòa Hưng.
• Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại
Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam chi nhánh Hòa Bình, PGD Hòa Hưng.
SS
STUVW
CBTD: Cán bộ tín dụng.
EIB: Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam
Khối DN: Khối doanh nghiệp.
Bảng 3.1: Thị phần cho vay và huy động vốn của một số Ngân hàng năm 2011
Bảng 3.2: Kế hoạch đặt ra năm 2013 tại Ngân hàng EXIMBANK-chi nhánh Hòa Bình,
PGD Hòa Hưng.
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn của PGD Hòa Hưng qua các năm
Biểu đồ 2.2: Tình hình dư nợ cho vay tại PGD Hòa Hưng qua các năm
Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận chưa phân phối của PGD Hòa Hưng qua các năm
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng tại PGD Hòa Hưng
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng tại PGD Hòa Hưng qua các năm
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo mục đích sử dụng vốn tại PGD Hòa
Hưng qua các năm
Biểu đồ 2.7: Dư nợ cho vay tiêu dùng theo thời hạn món vay tại PGD Hòa Hưng
Biểu đồ 2.8: Tình hình nợ quá hạn của các khoản cho vay tiêu dùng tại PGD Hòa Hưng
qua các năm
Biểu đồ 2.9: Tình hình thu hồi nợ quá hạn tại PGD Hòa Hưng qua các năm
Biểu đồ 3.1: Thị phần cho vay bình quân của một số Ngân hàng tiêu biểu
Biểu đồ 3.2: Thị phần huy động vốn của một số Ngân hàng tiêu biểu
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
YNZ[\!\]^!_`
ab
YYP&0-c:0+7*&$4+)5(6%&$782%R8
YYYP&0-(-@3%&$782
Cho vay là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng
khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ phải hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong
một thời hạn thỏa thuận và kèm theo lãi suất.
YYde%)-f3
Ngân hàng đáp ứng cho tất cả các khách hàng sử dụng vốn nhưng khách hàng phải
đáp ứng được các điều kiện của Ngân hàng đặt ra.
Qui mô của các hợp đồng cho vay từ nhỏ đến lớn, với nhu cầu vay nhỏ đến các dự
án lớn mức rủi ro cao hay thấp, mức thu hồi vốn như thế nào, tài sản thế chấp và uy tín
của khách hàng ra sao sẽ ảnh hưởng đến mức lãi suất Ngân hàng quy định cụ thể. Ngoài
mua bán chịu, cách này có nhiều bất lợi đối với người bán vì người bán thu hồi vốn chậm,
lại gặp phải nhiều rủi ro. Hình thức mua bán chịu chỉ khả thi trong trường hợp người mua
có uy tín, có khả năng thanh toán trong tương lai và người bán được tổ chức khác tài trợ
vốn. Cách thứ hai, cách này làm người mua vay được tiền nên có đủ khả năng thanh toán,
cách này vừa thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng mà nhà sản xuất cũng bán đựơc hàng
và thu hồi được vốn ngay.
Như vậy, cần đến một tổ chức thứ ba thực hiện việc cho vay đối với người mua
hoặc hỗ trợ cho người bán. Sẽ không có một tổ chức nào đảm nhận được vị trí này bằng
các tổ chức trung gian tài chính, mà quan trọng nhất là các NHTM. Thông qua việc thực
hiện cho vay tiêu dùng, Ngân hàng đã mở rộng hoạt động kinh doanh thu được lợi nhuận
– mục tiêu quan trọng nhất của các tổ chức kinh tế.
Tóm lại, cho vay tiêu dùng là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của thị
trường nhằm giải quyết các vấn đề: người tiêu dùng có nhu cầu tiêu dùng vượt quá khả
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 13
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
năng thanh toán hiện tại, người bán mong muốn tiêu thụ được hàng hoá và người có tiền
mong muốn tìm kiếm thu nhập từ hoạt động này. Đó là ba lí do chính hình thành nên
nghiệp vụ cho vay tiêu dùng.
Trong lịch sử hầu hết các NHTM không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia
đình vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ và rủi ro vỡ
nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ này,
các Ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những
món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật thị trường
tiền gửi và cho vay đã buộc các Ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một
khách hàng trung thành, tiềm năng. Một trong những nguyên tắc cơ bản khiến cho Ngân
hàng có vị trí thống trị trên lĩnh vực cho vay tiêu dùng là Ngân hàng không ngừng khai
thác nguồn tiền gửi dân cư và coi đây là nguồn vốn quan trọng nhất. Rất nhiều hộ gia đình
sẽ không muốn gửi tiền vào một Ngân hàng nếu họ không thấy được rằng mình sẽ có
triển vọng vay lại tiền từ chính Ngân hàng đó khi có nhu cầu. Do vậy, nhiều Ngân hàng
lớn đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh.
dù chính lãi suất ghi trong hợp đồng ảnh hưởng đến qui mô số tiền phải trả.
Nhu cầu vay của khách hàng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế
có tăng trưởng, mọi người lạc quan về tương lai, họ sẽ chi tiêu nhiều hơn. Ngược lại, khi
nền kinh tế rơi vào suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng lên thì người dân sẽ có xu hướng
tiết kiệm nhiều hơn.
Các khoản cho vay tiêu dùng thường có rủi ro lớn. Do tình hình tài chính của
khách hàng có thể gặp biến động dẫn đến khách hàng mất khả năng thanh toán, hoặc rủi
ro do khách hàng sau khi tiêu dùng sản phẩm không muốn trả tiền. Mặt khác trong trường
hợp khách hàng gặp sự cố về sức khoẻ, dẫn đến không còn đủ năng lực hành vi dân sự thì
việc thu hồi nợ là rất khó khăn. Hơn nữa, các cá nhân và hộ gia đình không dễ dàng vượt
qua được các khó khăn về tài chính như một hãng kinh doanh. Do đó, các khoản cho vay
tiêu dùng thường được quản lý một cách chặt chẽ và linh hoạt.
Mức thu nhập và trình độ học vấn của khách hàng. Đây là hai biến số có quan hệ
mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng. Khách hàng có thu nhập cao có xu
hướng vay nhiều hơn so với mức thu nhập của mình. Cũng như những gia đình mà người
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 15
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
tạo thu nhập chính có học vấn cao luôn có nhu cầu chi tiêu dùng các sản phẩm giá trị cao,
công nghệ cao.
Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến đổi lớn, phụ thuộc vào quá trình
làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. Nếu khách hàng là người
buôn bán thì thu nhập của họ có thể cao bất thường nhưng không ổn định. Chỉ cần một sự
biến động không tốt về giá cả những mặt hàng kinh doanh của họ có thể dẫn đến những
con số thiệt hại rất lớn, làm giảm khả năng trả nợ của họ. Đồng thời phải xác định tư cách
của khách hàng. Đây là yếu tố khó xác định, song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn
trả của khoản vay.
Ydl&<(K$4-%&$782+-9:#;(6
YdlYm(%F7,$/&DG(6+&F%&$,(+h.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể được chia làm 3 loại sau:
Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức cho vay tiêu dùng phổ biến hiện nay,
cho người tiêu dùng, hình thức này Ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán
hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc khách hàng.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó Ngân hàng
trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay.
Ydpk:2+hC(&%&$782+-9:#;(6
Khách hàng lập và nộp hồ sơ vay vốn đến Ngân hàng
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho Ngân hàng bộ hồ sơ vay vốn và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho Ngân
hàng. Hồ sơ vay vốn cơ bản gồm các giấy tờ sau:
Giấy đề nghị vay vốn.
Các tài liệu chứng minh năng lực pháp luật, năng lực hành vi nhân sự. Cụ thể,
khách hàng vay tiêu dùng phải xuất trình chứng minh nhân dân và sổ đăng ký hộ khẩu
thường trú.
Tờ tự khai tình hình tài chính.
Báo cáo vay nợ và nguồn thu để trả nợ.
Ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn và ra quyết định cho vay
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 17
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
Thẩm định hồ sơ vay vốn là quá trình xem xét, phân tích các thông tin, số liệu đã thu
thập trong hồ sơ của khách hàng. Mục đích của thẩm định trước khi cho vay là xác định
giới hạn an toàn của quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng vay vốn.
Khi thẩm định một bộ hồ sơ vay tiêu dùng, CBTD phải phân tích rất nhiều yếu tố liên
quan đến người đi vay, một trong những yếu tố mà Ngân hàng đặc biệt quan tâm là đặc
điểm của người đi vay và khả năng thanh toán của khách hàng.
Thông thường thì những đặc điểm cơ bản của người đi vay được bộc lộ qua mục đích
của việc vay tiền. CBTD sẽ phải hỏi xem khách hàng sẽ dùng khoản tiền vay vào việc gì?
Liệu mục đích vay có phù hợp với chính sách cho vay của Ngân hàng không? Có bằng
chứng nào cho thấy khách hàng sẽ không có khả năng hoàn trả khoản vay không?
Đặc điểm của người đi vay và khả năng thanh toán của họ được thể hiện qua các
thông tin như sau:
khoản thể tín dụng tăng nhanh hay tình trạng séc phát hành ra bị gửi trả lại. Việc đảo nợ
theo kiểu vay tiền người này để trả cho người kia đều bị hầu hết các Ngân hàng phản đối.
Đây được coi như là một tiêu thức về khả năng quản lý tiền vay của khách hàng.
Đảm bảo tiền vay:
Đây là một phương tiện để ngân hàng có thêm một nguồn vốn khách để thu hồi nợ.
Trong cho vay tiêu dùng, một trong những nguồn thu nợ quan trọng và được xem là
nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là thu nhập của cá nhân như: tiền lương và các
khoản thu nhập khác. Khi đánh giá khách hàng, nếu thấy nguồn thu nợ thứ nhất chưa có
cơ sở chắc chắn thì buộc Ngân hàng phải thiết lập thêm cơ sở pháp lý để có thêm nguồn
thu nợ thứ hai. Nguồn thu nợ thứ hai, thông thường bao gồm giá trị tài sản đảm bảo hay
bảo lãnh của bên thứ ba.
Trong trường hợp khách hàng không có hồ sơ tín dụng, hoặc có chất lượng tín dụng
thấp thì Ngân hàng yêu cầu cần phải có người đứng ra bảo lãnh về việc hoàn trả khoản
tiền vay. Nếu người đi vay không thanh toán cho khoản nợ được bảo lãnh chọn Ngân
hàng thì người đứng ra bảo lãnh có trách nhiệm phải thanh toán.
Tuy nhiên, nhiều Ngân hàng chỉ xem việc có người bảo lãnh là một đảm bảo về mặt
tâm lý hơn là một nguồn đảm bảo thực sự. Người đi vay sẽ thấy có trách nhiệm hơn trong
việc hoàn trả khoản vay vì uy tín của người bảo lãnh. Nhưng các nhà quản lý Ngân hàng
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 19
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
thường do dự không muốn thực hiện nhiều khoản cho vay có bảo lãnh vì điều đó có thể
dẫn tới tổn thất cho cả người bảo lãnh mở tài khoản tại Ngân hàng.
Nếu khoản vay có tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố) thì Ngân hàng phải đánh giá về các
điều kiện về tính hợp pháp, số lượng và xác định giá trị của tài sản đảm bảo theo đúng
pháp luật. Các giấy tờ sở hữu tài sản đảm bảo phải được xác nhận của cơ quan công
chứng NN và thẩm định kỹ càng, để biết được mức độ tin cậy của các giấy tờ đó. Trên cơ
sở này, Ngân hàng mới ra quyết định cho vay một cách chính xác nhất.
Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cho vay và ký kết hợp đồng tín dụng với khách
hàng.
Sau khi đã thẩm định hồ sơ vay vốn vay ra quyết định cho vay Ngân hàng tiến hành
hàng không trả được nợ khi đến hạn, Ngân hàng có thể xử lý theo bốn trường hợp sau:
Thứ nhất, do nguyên nhân khách quan, khách hàng có văn bản giải trình xin gia hạn,
Ngân hàng có thể xét cho gia hạn. Theo quy định trong quy chế cho vay của tổ chức tín
dụng đốivới khách hàng được ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, thì
thời hạn gia hạn nợ đối với cho vay ngắn hạn tối đa là 12 tháng, đối với cho vay trung và
dài hạn tối đa bằng ½ thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Thứ hai, do nguyên nhân chủ quan, Ngân hàng sẽ chuyển sang nợ quá hạn và phạt
theo mức lãi suất nợ quá hạn. Theo quy định hiện hành của NHNN Việt Nam thì lãi suất
nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trần cùng loại cho vay.
Thứ ba, nếu không có các thoả thuận trên thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế
chấp, cầm cố để thu nợ.
Nếu ba trường hợp trên hai bên không thoả thuận để giải quyết được, Ngân hàng sẽ
khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng.
Lãi tiền vay:
Việc tính lãi tiền vay và thu lãi được tiến hành hàng tháng. Nếu khách hàng vay chưa
trả được lãi khi đến hạn thì Ngân hàng tính và hạch toán vào tài khoản ngoại bảng để thu
dần, không nhập lãi vào nợ gốc. Trường hợp khách hàng vay có khó khăn về tài chính do
nguyên nhân khách quan thì Ngân hàng có thể xem xét giảm hoặc miễn lãi đối với khách
hàng vay. Việc giảm hoặc miễn lãi cho khách hàng vay tuỳ thuộc vào khả năng tài chính
của từng Ngân hàng cho vay.
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 21
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
Ydw0%(6:o(+,-+hO%&$782+-9:#;(6
Cho vay tiêu dùng là một đang là một thị trường rất tiềm năng. Có nhiều tổ chức
kinh tế tài trợ cho người tiêu dùng như: các NHTM, các công ty tài chính, công ty bảo
hiểm, hợp tác xã, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh…Trong đó NHTM có vai trò
khá quan trọng trong tài trợ tiêu dùng. Các hình thức cho vay tiêu dùng của NHTM cũng
khá đa dạng: cho vay mua xe ô tô, mua nhà, du học, đồ dùng, thiết bị gia đình… Ở các
nước phát triển, cho vay tiêu dùng là một loại hình tài sản khá phổ biến, có khả năng sinh
lời cao cho Ngân hàng.
vốn dưới tác động của lạm phát.
Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của Ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và
mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Tuỳ theo qui định cụ thể của từng quốc
gia, các Ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng…
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung và dài hạn của
NHTM có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể coi là một bộ phận của vốn tự
có do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất
đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
YdxO-n%&%R8%&$782+-9:#;(6
YdxYH-7i-6<(&,(6
Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó
để cho vay kiếm lời. Cho vay tiêu dùng có những lợi ích quan trọng, mang lại lợi nhuận
cao cho Ngân hàng. Cho vay tiêu dùng giúp tăng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng với
các tổ chức tín dụng khác, thu hút được nhiều khách hàng mới, mở rộng quan hệ với
khách hàng từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho Ngân hàng. Thông
qua hoạt động cho vay tiêu dùng Ngân hàng cũng thu được khoản lợi nhuận đáng kể, đa
dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình, nâng cao thu nhập, phân tán rủi ro.
YdxdH-7i-(6Dy-+-9:#;(6
Về phía người đi vay, theo các Ngân hàng, cho vay tiêu dùng mang lại khá nhiều
thuận lợi. Khách hàng sẽ có một khoản tiền lớn ngay lúc cần thiết để chi tiêu và hoàn trả
dần từ thu nhập trong tương lai, và đặc biệt nó rất cần thiết trong những trường hợp khi cá
nhân có nhu cầu chi tiêu cấp bách như chi tiêu cho giáo dục, y tế,… Hoạt động cho vay
tiêu dùng ra đời đã giúp người tiêu dùng kết hợp nhu cầu hiện tại với khả năng thanh toán
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 23
GVHD: Ths. Phm Th Bch Tho
trong tương lai. Trong những trường hợp cần gấp thì lãi suất cho vay Ngân hàng hợp lý
hơn nhiều so với việc khách hàng phải vay "nóng" bên ngoài. Thời hạn cho vay và
phương thực trả nợ linh hoạt căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng. Phương án xấu
nhất đối với khách hàng chỉ xảy ra khi họ không trả được nợ cho Ngân hàng nên phải
"chia tay" với tài sản của mình. Tuy nhiên nếu khách hàng thực hiện đúng những yêu cầu
hàng cả gốc lẫn lãi và có lợi nhuận phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội . Chất lượng
cho vay tiêu dùng được thể hiện:
Đối với NHTM: Chất lượng cho vay được thể hiện ở hiệu quả của việc cho vay phù
hợp với năng lực của ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh, ở việc khả năng thu
hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và đúng hạn. Hiệu quả và khả năng thu nợ càng cao
thì chất lượng cho vay càng cao và ngược lại.
Đối với khách hàng: Chất lượng cho vay là thể hiện các khoản vay được đáp ứng
kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý và có sức cạnh tranh. Các khoản vay vốn từ
NHTM giúp cho khách hàng có đủ tiền để thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng, nâng cao
chất lượng cuộc sống.
Đối với nền kinh tế: Chất lượng cho vay tiêu dùng là một khái niệm vừa cụ thể
(thể hiện qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như: kết quả kinh doanh, vòng quay vốn
tín dụng, nợ quá hạn, giải quyết nhu cầu tiêu dùng ), vừa trừu tượng (thể hiện qua khả
năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế ). Chất lượng cho vay vừa chịu ảnh
hưởng bởi nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ và đạo đức cán bộ ngân hàng và
khách hàng ), vừa khách quan (sự thay đổi môi trường bên ngoài : sự ổn định chính trị
xã hội, môi trường pháp lý, tốc độ tăng trưởng kinh tế).
YdzdH-c:8(&@6-{8%&=+KDO(6%&$782+-9:#;(67,3|h5(6%&$782+-9:
#;(6
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng, một mặt không thể thiếu mà
các NHTM cần chú trọng là việc mở rộng cho vay. Có thể nói, mở rộng cho vay tiêu dùng
và nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng là hai mặt biểu hiện lượng và chất của hoạt động
cho vay tiêu dùng. Mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng là việc tăng cường hoạt
động cho vay tiêu dùng trên nhiều phương diện nhằm nâng cao doanh số, chất lượng cũng
SVTH: Nguyễn Thị Linh Nhâm Trang 25