235 Kiểm soát lạm phát góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2006-2010 - Pdf 25

1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI................................................................................ 10
2. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU....................................................................... 11
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI..................................................... 12
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................. 13
4.1 Phương pháp luận................................................................................... 13
4.2 Phương pháp........................................................................................... 14
5. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ...................................................... 15
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT – ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT ............. 17
1.1.1 Các quan điểm về lạm phát .............................................................. 17
1.1.2 Đo lường lạm phát............................................................................. 18
1.2. CÁC LOẠI LẠM PHÁT .............................................................................. 19
1.2.1 Lạm phát vừa phải.............................................................................. 19
1.2.2 Lạm phát cao....................................................................................... 19
1.2.3 Siêu lạm phát...................................................................................... 19
1.3. NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT.................................................... 20
1.3.1 Lạm phát cầu kéo ............................................................................... 20
1.3.2 Lạm phát chi phí đẩy .......................................................................... 21
1.4. HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT ..................................................................... 22
1.5. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở CÁC NƯỚC.......... 25
1.5.1 Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu.............................................. 25
1.5.2 Nhóm giải pháp tác động vào cung.................................................... 25
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM VỪA QUA
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1976 ĐẾN
NAY.............................................................................................................. 27
2
2.1.1 Khái quát tình hình lạm phát Việt Nam từ 1976 đến 1995................. 28

CSTT Chính sách tiền tệ
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DTBB Dự trữ bắt buộc
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng trung ương
NSNN Ngân sách nhà nước
OTC Thò trường phi tập trung
TCTD Tổ chức tín dụng
TNQD Thu nhập quốc dân
VND Đồng Việt Nam
XDCB Xây dựng cơ bản
XNK Xuất nhập khẩu
UBND Ủy ban nhân dân
USD Đôla Mỹ
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới

4
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói lạm phát luôn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch đònh
chính sách kinh tế. Nói lạm phát là một vấn đề cũ thì không có gì sai, bởi vì từ
xưa tới nay, có rất nhiều nhà kinh tế đã gián tiếp hay trực tiếp đề cập đến nó,
trong đó có những trí tuệ vó đại như CácMác, Fisher, Friedman...Song lạm phát
lúc nào cũng là vấn đề mới cả, nó nóng bỏng từng ngày từng giờ, thay đổi liên
tục, có khi tạm ổn đònh, có khi giảm xuống, có khi lên cơn sốt. Cho nên bàn về
lạm phát trong thời điểm này tưởng chừng như đã quá muộn nhưng lại chưa trễ tí

nhất đến nay (từ 1976), đặc biệt là giai đoạn 2001-6/2005.
Thứ ba, chỉ ra được ảnh hưởng của lạm phát tới 3 biến số kinh tế vó mô
quan trọng còn lại trong tứ giác kinh tế
1
, đó là tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất
nghiệp và cán cân thanh toán (đối với các biến số khác mà lạm phát có mối
quan hệ mật thiết như lãi suất, tỷ giá hối đoái...trong phạm vi luận văn chưa đi
vào nghiên cứu). Đồng thời, bước đầu xem xét mối quan hệ hồi qui giữa lạm
phát với ba biến số trên, và đi tìm một ngưỡng lạm phát mà ở đó khi lạm phát
tăng lên quá ngưỡng đó thì có ảnh hưởng không tốt tới tăng trưởng kinh tế.

1
Tuy không nói ra, nhưng mục tiêu chung của mọi quốc gia đều xoay quanh 4 con số
trụ cột: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp và cán cân thanh toán. Các chuyên
gia kinh tế quốc tế đã một cách hình tượng 4 con số trên là 4 đỉnh của tứ giác – tứ giác
kinh tế.
6
Thứ tư, trên cơ sở diễn biến tình hình lạm phát ở nước ta rút ra được những
nguyên nhân cơ bản nào tác động tới lạm phát ở nước ta. Ngoài những nguyên
nhân cơ bản được phân tích trong bài, luận văn cũng bước đầu hệ thống các
nguyên nhân gây ra lạm phát ở nước ta theo nhiều hướng khác nhau.
Thứ năm, xem xét lại cách đo lường lạm phát ở nước ta hiện nay, từ đó rút
ra những hạn chế để đề xuất một cách đo lường tốt hơn.
Thứ sáu, đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát để ổn đònh kinh tế
vó mô giai đoạn 2006-2010, góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để giải quyết những vấn đề đặt ra ở trên, luận văn cần trả lời được những
câu hỏi như sau:
Một là, nền kinh tế Việt Nam có bò lạm phát hay không, trong đó tập trung

không thể xa rời, thoát ly khỏi thực tiễn, do vậy phải căn cứ vào tình hình thực
tiễn kinh tế – xã hội và đònh hướng phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam của
Đảng làm kim chỉ nam cho mọi vấn đề khi đó giải pháp đưa ra mới phù hợp “ý
Đảng lòng dân” do vậy phương pháp luận của luận văn là vận dụng quan điểm
đường lối của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001-
2010.
4.2 Phương pháp
Trên cơ sở các phương pháp luận chủ đạo, trước tiên luận văn đi vào thu
thập các số liệu về lạm phát, tăng trưởng kinh tế... và các số liệu cần thiết khác
8
cho nghiên cứu. Do vậy, phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp
nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, sưu tầm các số liệu được phổ biến
trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là từ các bộ, ban, ngành. Công
việc này tiến hành qua 2 bước như sau:
- Thống kê các số liệu cần thiết cho nghiên cứu như tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ
thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế...qua các năm từ 1976 đến 6/2005
(có thể một số năm không có số liệu).
- Tùy vào mục đích nghiên cứu mà trích lọc số liệu theo từng giai đoạn
khác nhau.
Dựa trên số liệu thống kê có được, luận văn sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp, hồi qui, đồ thò có sự hỗ trợ của máy tính để xử lý và biểu
diễn số liệu có được theo các nội dung cần thiết. Riêng trong phương pháp hồi
qui tác giả chọn sai số cho phép là 5% (độ tin cậy đạt 95% trong các phân tích).
Nếu phân tích hồi qui cho kết quả nhưng không đảm bảo độ tin cậy thì kết luận
kết quả hồi qui không có ý nghóa về mặt thống kê. Cũng trong phương pháp hồi
qui, để đơn giản dãy số phân tích nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy, tác giả chọn số
liệu trong vòng 10 năm từ 1996 đến 6/2005 để chạy hàm hồi qui, tuy nhiên chuỗi
số liệu có thể mở rộng ra hoặc thu hẹp lại trong từng tình huống nghiên cứu.
Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu thay đổi như thế nào qua thời gian,
luận văn sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu nhằm xem xét vấn đề trong

động của kinh tế khu vực và thế giới ở một mức độ cao hơn bao giờ hết. Chỉ mới
có sự lên xuống của giá dầu, giá vàng, giá đôla Mỹ...trong thời gian qua đã
10
khiến cho chỉ số giá tiêu dùng của nước ta cũng dao động theo. Có nhiều biến số
kinh tế vó mô cần thiết phải dao động lên xuống như một điện tâm đồ như tỷ giá
chẳng hạn nhưng riêng đối với tỷ lệ lạm phát thì nếu nó thường xuyên thay đổi
và dao động ở biên độ lớn tức là mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội đều dao
động theo, tính không ổn đònh gia tăng, bất ổn luôn là mầm móng cho mọi cuộc
khủng hoảng từ khủng hoảng kinh tế cho đến khủng hoảng chính trò.
Do vậy, đề tài đi vào nghiên cứu lạm phát với mong muốn nắm vững hơn
về diễn biến tình hình lạm phát ở Việt Nam thời gian qua và những nhân tố tác
động tới lạm phát để từ đó kiểm soát lạm phát tốt hơn góp phần tạo nên một sự
ổn đònh về kinh tế, cùng với sự ổn đònh chính trò giúp chúng ta thực hiện thắng
lợi các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra.
Với những mục đích như trên, đề tài mang ý nghóa thiết thực đối với công
cuộc phát triển kinh tế hiện nay.
Toàn bộ nội dung của đề tài được thể hiện trong 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề lý luận về lạm phát.
- Chương II: Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm vừa qua.
- Chương III: Kiểm soát lạm phát góp phần ổn đònh kinh tế vó mô Việt
Nam giai đoạn 2006 – 2010.
11

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT

1.1. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT – ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
1.1.1 Các quan điểm về lạm phát
Cho đến thời điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm về
lạm phát, song chúng ta vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất về lạm
phát. Có người tiếp cận lạm phát theo những nguyên nhân của nó, có người tiếp

tính bằng cách so sánh giá trò hiện tại và giá trò gốc của rổ hàng hóa, dòch vụ
được lựa chọn.
Trên cơ sở xác đònh được chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát
phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước
được tính theo công thức sau:
Mức giá hiện tại – Mức giá năm trước
Tỷ lệ lạm phát =
Mức giá năm trước
x 100%
Như vậy, chúng ta tạm thống nhất rằng lạm phát là sự tăng lên (liên tục)
của giá cả và được tính bằng tỷ lệ phần trăm. Tùy vào sự tăng lên của mức giá
cả mà các nhà kinh tế chia lạm phát thành nhiều cấp độ khác nhau.
1.2. CÁC LOẠI LẠM PHÁT
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, lạm phát được chia thành 3 loại như sau:
- Lạm phát vừa phải
- Lạm phát cao
- Siêu lạm phát
13
1.2.1 Lạm phát vừa phải (Reasonable Inflation)
Lạm phát vừa phải là lạm phát ở mức 1 con số nguyên (tỷ lệ tăng giá cả
hàng hóa trong khoảng 10% trở lại). Ở mức độ lạm phát vừa phải, giá cả tăng
chậm dao động xung quanh mức tăng tiền lương, trong điều kiện như thế giá trò
tiền tệ không biến động nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển.
Khi giá cả tăng vượt ra khỏi mức độ hợp lý trên, người ta nói lạm phát đang
bước vào giai đoạn tăng cao.
1.2.2 Lạm phát cao
Lạm phát cao là lạm phát ở mức độ 2 con số (dưới 100% năm). Người ta
còn gọi lạm phát loại này là lạm phát phi mã để cho thấy mức độ tăng của giá
cả hàng hóa lúc này cũng giống như “một con ngựa bất kham đang tung vó để
chạy”. Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bò đình trệ, nền tài chính bò phá

− Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở
trong nước, ngoài nước hoặc NHTƯ.
− Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên do mức thu nhập tăng hoặc
lãi suất giảm.
− Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng
tốc độ lưu thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ
lưu thông tiền tệ gia tăng.
− Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát
triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hay do lãi suất giảm.
− Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp,
người dân dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn

1
Nhà kinh tế học Thụy Điển.
15
đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn.
− Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như tỷ giá hối đoái, mức
thu nhập của cư dân nước ngoài…làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu kéo
theo tổng cầu gia tăng.
Trong các phân tích ở trên, tổng cầu tăng gây áp lực tăng giá, làm xảy ra
tình trạng lạm phát trong ngắn hạn. Song nếu nền kinh tế chưa đạt được mức sản
lượng tiềm năng thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính
sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm cho kinh tế tăng
trưởng, khi đó đường tổng cung cũng sẽ dòch chuyển xuống phía dưới, sản lượng
của nền kinh tế tăng lên.
Ngược lại với lạm phát do nguyên nhân từ phía cầu là lạm phát do nguyên
nhân từ phía cung, gọi là lạm phát chi phí đẩy.
1.3.2 Lạm phát chi phí đẩy (Cost Push Inflation)
Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng lên
(chi phí sản xuất tăng vượt quá mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh ra

Lạm phát làm cho thu nhập thực của người lao động bò giảm sút, có thể kéo
theo các cuộc đình công đòi tăng lương với qui mô lớn, dài ngày làm ngừng trệ
sự tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát còn làm cho lãi suất danh nghóa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự
tính tăng lên, nếu lạm phát dự tính không phù hợp với lạm phát thực tế nó sẽ
làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực. Kết quả là ảnh hưởng đến tiết kiệm và
đầu tư, cuối cùng là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật tư hàng hoá,
17
nguyên liệu tăng, làm cho việc sản xuất kinh doanh và kết quả cuối cùng ngày
càng giảm sút và không chính xác, các ngành sản xuất kinh doanh bò lạm phát
làm cho điêu đứng.
Trong lónh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăn
cho việc xác đònh mức sinh lời chính xác của các khoản đầu tư, khiến cho các
nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn,
làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực lưu thông phân phối, giá cả hàng hóa tăng đã gây nên tình
trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa vì thế làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầu
làm cho lónh vực lưu thông bò rối loạn.
Hai là, lạm phát làm phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội
Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghóa tăng lên, nhưng trong đó
chứa đựng sự phân phối lại giữa các nhóm dân cư với nhau; giữa giới chủ và
người làm công, giữa người cho vay và người đi vay, giữa Chính phủ và người
đóng thuế.
Trong lónh vực tài chính nhà nước, tuy lúc đầu lạm phát mang lại thu nhập
cho ngân sách nhà nước qua cơ chế phân phối lại tổng sản phẩm và thu nhập
quốc dân, nhưng do ảnh hưởng nặng nề của lạm phát mà những nguồn thu của
ngân sách nhà nước mà chủ yếu là thuế ngày càng bò giảm.
Ba là, lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ
Trong lónh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm,

cung nhằm làm giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân
làm gia tăng chi phí.
19
1.5.1 Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu
Về phía chính phủ: chính phủ các nước có lạm phát thường tìm cách ngăn
chặn các nguyên nhân dẫn đến gia tăng khối tiền, đồng thời tăng thu cho ngân
sách nhằm rút ngắn cách biệt giữa thu và chi dần dần tiến đến cân bằng thu chi
ngân sách.
Về phía NHTƯ: NHTƯ các nước thông qua việc quản lý và sử dụng các
công cụ của chính sách tiền tệ để tác động trực tiếp làm giảm khối tiền trong lưu
thông, tức là thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt vừa thu hút bớt tiền từ lưu
thông vừa hạn chế cung ứng tiền ra lưu thông.
1.5.2 Nhóm giải pháp tác động vào cung
Về giải pháp hạn chế sự gia tăng của chi phí: giải pháp cơ bản là tác
động vào mối quan hệ giữa mức tăng tiền lương và mức tăng của năng suất lao
động xã hội. Nếu thành công, giải pháp này sẽ hạn chế những đòi hỏi tăng tiền
lương bất hợp lý dẫn đến vòng luẩn quẩn lương – tiền – giá. Đi kèm với cơ chế
tiền lương, các nước tiến hành chính sách kiểm soát giá cả nhằm hạn chế sự
biến động của tiền lương thực tế, tránh rơi vào vòng xoáy lạm phát lương – giá –
tiền.
Về giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hóa: nhằm chặn
đứng nhanh chóng và hiệu quả cơn sốt giá cả vì khan hiếm hàng hoá, các nước
thường cho nhập khẩu các mặt hàng đang thiếu và lên giá. Tuy nhiên giải pháp
này chứa đựng nguy cơ tiềm tàng như làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối, tạo thói
quen tiêu dùng hàng ngoại, làm suy giảm sức sản xuất trong nước. Do vậy về lâu
dài các quốc gia bò lạm phát đều tìm cách gia tăng khả năng sản xuất hàng hoá
trong nước.
Ngoài hai nhóm biện pháp tác động vào cung cầu như ở trên các nước còn
20
áp dụng nhiều biện pháp khác như: kềm giữ giá cả, cải cách tiền tệ...Mỗi biện

khi chuyển sang thiểu phát đã bắt đầu “ấm” dần lên và chuyển sang “sốt” vào
cuối năm 2004 và còn tiếp diễn trong năm 2005.
2.1.1 Khái quát tình hình lạm phát Việt Nam từ 1976 đến 1995
Sau chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta bắt tay vào công
cuộc tái thiết đất nước, xây dựng nền kinh tế XHCN. Nhà nước bên cạnh vai trò
là bộ máy quyền lực tối cao còn đảm nhiệm vai trò quản lý kinh tế, nền kinh tế
được kế hoạch hoá tập trung ở mức cao độ.
22
Trong lónh vực lưu thông phân phối, từ năm 1976 đến năm 1980, chính phủ
Việt Nam thực thi chính sách kiềm chế giá cả, cơ chế đó làm chỉ số giá cả ở thò
trường có tổ chức tăng không nhiều, nhưng chỉ số giá cả ở thò trường tự do lại
tăng khá cao, do vậy lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn này là lạm phát
“ngầm”.
Bảng 2.1: Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 (năm trước bằng 100%)
Năm Thò trường xã hội Thò trường có tổ chức Thò trường tự do
1976 121,9 99,1 150,3
1977 118,6 101,0 138,0
1978 120,9 104,3 139,0
1979 125,2 103,3 140,0
1980 169,6 109,8 143,8
Nguồn: Ban vật giá Chính phủ
1
.
Tuy nhiên, việc phát hành tiền bù đắp thiếu hụt ngân sách liên tục với số
lượng ngày càng lớn nhằm bù lỗ, bù giá và thực hiện các dự án phát triển sau
chiến tranh đã làm cho mức giá chung thời kỳ 1976 – 1980 tăng lên tới 2,62 lần
trong khi tổng giá trò sản lượng thực tế tăng 5,7%, thu nhập quốc dân (TNQD)
sản xuất tăng 1,7%.
Bảng 2.2: Mức tăng GDP và TNQD thời kỳ 1977 – 1980 (%)
Năm Mức tăng GDP Mức tăng TNQD

Bảng 2.4: Tốc độ tăng giá giai đoạn 1989 – 1995 (%):
Năm >>> 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995
Tốc độ tăng giá 76,0 67,1 67,5 17,5 5,2 14,4 12,7
Nguồn:Ban vật giá Chính phủ.
Như vậy, lạm phát Việt Nam thời kỳ 1976 - 1995 từ chổ “âm ỉ cháy” trong
giai đoạn 1976 – 1980 đã “bùng lên thành một ngọn lửa cháy cao” trong những
năm từ 1980 đến 1988, những năm sau đó chính phủ Việt Nam đã phải ra sức dập
24
tắt ngọn lửa này và bước đầu đạt được những kết quả khích lệ.
2.1.2 Khái quát tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000
Trong giai đoạn này, các biện pháp hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát tiếp
tục được thực hiện là cơ sở để duy trì mức lạm phát vừa phải trong nhiều năm.
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ chưa thật sự phát huy hiệu quả, sức cạnh tranh của
nền kinh tế thấp, sức mua chung của xã hội giảm, cộng với việc bò ảnh hưởng
bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực...đã làm cho nền kinh tế rơi
vào tình trạng giảm phát. Tổng sản phẩm trong nước những năm 1992-1997
thường đạt mức tăng trưởng 8-9% đã đột ngột giảm xuống chỉ còn 5,8% vào năm
1998 và 4,8% vào năm 1999. Năm 2000, Việt Nam chặn được sự giảm sút về tốc
độ tăng trưởng, trong năm này nền kinh tế vẫn còn rơi vào trạng thái thiểu phát.
Bảng 2.5: Tốc độ tăng giá giai đoạn 1996 – 2000 (%)
Năm >>> 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng giá 4,5 3,6 9,2 0,1 -0,6
Nguồn: Ban vật giá Chính phủ.
2.1.3 Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2001 – 6/2005
Năm 2001, “tản băng” thiểu phát bắt đầu tan từ từ (CPI tăng 0,8%), nền
kinh tế có khởi sắt đôi chút, tổng sản phẩm trong nước đã tăng 6,89%, nhích hơn
một chút so với năm 2000 (6,79%).
Trước tình trạng giảm phát của nền kinh tế, chính phủ đã có những biện
pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng.
Nhờ chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, quan tâm tạo điều kiện

2002 272.793,0 12,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Với những biện pháp kích cầu như trên, một chuyển biến quan trọng được
ghi nhận trong năm 2002 là nền kinh tế đã chuyển từ thiểu phát liên tục và kéo
dài sang lạm phát nhẹ (CPI tăng 4%)
1
, vừa đủ để kích thích đầu tư, tăng trưởng,
làm cho nền kinh tế ấm lên (tăng trưởng kinh tế đạt 7,04% hoàn thành mục tiêu

1
Phụ lục 2: Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2002.

Trích đoạn Đo lường lạm phât ở Việt Nam bằng lạm phât cơ bản Ngđn hăng nhă nước trong việc kiểm soât lạm phât
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status