Website: Email : Tel (: 0918.775.368Lời mở đầu
Nền kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng
đổi mới, các thành phần kinh tế cũng trở nên đa dạng và hoạt động có hiệu quả
hơn. Mục tiêu tăng trởng kinh tế của nớc ta năm 2005 là thực hiện cổ phần hoá
thành công hơn 2000 doanh nghiệp Nhà nớc, nhằm tạo nên một môi trờng bình
đẳng để các doanh nghiệp phát triển. Đồng thời, Đảng và Nhà nớc cũng đa ra một
loạt chính sách khuyến khích đầu t trong và ngoài nớc để hỗ trợ phần nào cho các
doanh nghiệp trong quá trình tiến tới hội nhập AFTA cũng nh hoà nhập với nền
kinh tế thế giới.
Đợc hình thành từ dự án mở rộng sản xuất của Tổng Công ty điện tử Hanel,
ngay từ giai đoạn mới hình thành, Công ty cổ phần Hanel xốp nhựa đã nhận đợc sự
hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nớc và đặc biệt là Tổng Công ty Hanel. Với hơn 40%
vốn điều lệ là do sự góp vốn của cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty Hanel,
Công ty đã làm hài lòng các cổ đông bởi kết quả kinh doanh liên tục có lãi trong 8
năm liên tiếp. Đồng thời, các sản phẩm của Công ty đã chiếm lĩnh đợc thị trờng
xốp nhựa, xốp chèn và mục tiêu đặt ra trong năm 2005 là tham gia thành công trên
thị trờng chứng khoán.
Để có đợc sự thành công nh vậy, Công ty đã kết hợp rất nhiều quyết định tài
chính, trong đó có sự thành công của chính sách cổ tức. Trong khi rất nhiều công
ty cổ phần còn lúng túng trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế thì Công ty đã
xây dựng một chính sách cổ tức khá hoàn chỉnh và cụ thể, vừa đảm bảo lợi ích cho
các cổ đông, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của Công ty trong tơng lai.
Tuy nhiên, để phù hợp với nhu cầu phát triển cuả nền kinh tế, Công ty cũng
phải hớng tới một chính sách cổ tức hoàn thiện hơn. Chính vì vậy, em xin đợc
chọn đề tài: Hoàn thiện chính sách cổ tức tại Công ty cổ phần Hanel xốp nhựa
với hi vọng qua thời gian thực tập tại Công ty có thể giúp em nâng cao hiểu biết,
góp phần hoàn thiện hơn những kiến thức đã đợc nghiên cứu tại giảng đờng Đại
học.
sách của chủ nghĩa trọng thơng đã xuất hiện ở Anh một loạt Công ty thơng mại
góp cổ phần nhằm phát triển buôn bán hải ngoại và cớp đoạt các nớc thuộc địa.
Cùng với nớc Anh, ở Hà Lan và Pháp cũng lần lợt xuất hiện những công ty nh vậy
là pháp nhân độc lập, có năng lực pháp lý, một loại hình tổ chức công ty góp cổ
phần ổn định, vốn cổ phần trở thành đầu t dài hạn, cổ phiếu chỉ có thể chuyển nh-
ợng mà không đợc rút vốn, lợi tức cổ phiếu đợc trả theo định kỳ, thị trờng buôn
bán chuyển nhợng cổ phiếu cũng bắt đầu xuất hiện- tiền thân của thị trờng chứng
khoán.
Từ thế kỷ thứ 18 đến nửa cuối thế kỷ 19 loại hình công ty cổ phần đã đợc
phát triển nhanh chóng ở Pháp, Đức, Mỹ không những chỉ kinh doanh thơng mại
mà còn ở các ngành ngân hàng, giao thông vận tải , xây dựng đờng sắt, các ngành
chế tạo cơ khí, khai thác mỏ, sự nghiệp công cộng và bảo hiểm ở các nớc t bản
phát triển, về sau xuất hiện ở các nơi trên thế giới.
Gần 400 năm đã trôi qua kể từ ngày công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra
đời năm 1600 ở nớc Anh. Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368xuất lúc bấy giờ đòi hỏi một số ngành phải thành lập những doanh nghiệp mà số
vốn để hoạt động vợt quá số vốn riêng lẻ của từng doanh nghiệp t nhân. Ngay cả
số vốn mà t nhân đi vay cũng không thể đáp ứng đợc vì những doanh nghiệp này
phải sau một thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh dài mới có thể đem lại một
lợng lợi nhuận tối đa. Trong khi đó ở từng cá nhân trong xã hội vẫn luôn có những
khoản tiền nhàn rỗi ngắn hạn và dài hạn. Sự tồn tại khách quan đó đã giúp các nhà
doanh nghiệp giải quyết đợc mâu thuẫn về tiền vốn bằng một hình thức sáng tạo
là thành lập các công ty cổ phần mà Mác đã chỉ rõ: "...Ngay trong buổi đầu của
nền sản xuất đã đòi hỏi một số t bản tối thiểu mà lúc bấy giờ từng cá nhân riêng lẻ
cha thể có đợc. Tình hình đó một mặt dẫn đến việc Nhà nớc phải trợ cấp cho
những t nhân nh ở Pháp dới thời Côn- Be, nh một số công quốc ở Đức cho tới
Công ty cổ phần với t cách là công ty hợp vốn hay còn gọi là công ty đối vốn,
chứ không phải là công ty hợp doanh (công ty đối nhân) và yếu tố chủ yếu là cần
có tiền để mua cổ phiếu và trở thành cổ đông của công ty, là một tổ chức kinh
doanh do nhiều ngời cùng góp vốn lập ra để cùng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ khái niệm trên, ta thấy có 3 nội dung pháp lý cần đặc biệt chú ý:
1. Công ty cổ phần phải do nhiều ngời thành lập (tối thiểu là 3)
2. Các hội viên đa vốn của mình ra và góp vốn chung lại để kinh doanh. Đó
là vốn của các thành viên góp, không thể chuyển thành tài sản sở hữu chung của
các thành viên, song quyền sở hữu cá nhân của vốn góp không thay đổi. Có nghĩa
là công ty cổ phần trở thành ngời đi vay đặc biệt của các thành viên, còn các thành
viên lại trở thành ngời cho vay đối với công ty cổ phần. Nh vậy quyền sử dụng vốn
của các thành viên cũng không còn nữa. Vậy ai là ngời đợc sử dụng vốn chung đó?
Ngời này là một chủ thể đợc lập ra theo khế ớc thành lập công ty cổ phần, đó là
pháp nhân công ty, cho nên công ty cổ phần phải đợc pháp luật thừa nhận thì mới
có t cách là một pháp nhân. Tổng số vốn của công ty chia đều cho từng cổ phần có
mức tiền bằng nhau, cổ đông bỏ nhiều vốn sẽ chiếm nhiều cổ phiếu nhng không
thể tăng riêng lẻ mức tiền vốn của từng cổ phiếu.
4. Mục đích của việc thành lập công ty cổ phần là để thu lợi nhuận và chia
cho các cổ đông. Cổ đông của công ty bất kể họ là ai đều phải có trách nhiệm đối
với công ty, không thể trả cổ phiếu nhằm bảo đảm ổn định vốn của công ty.
Đây là những nội dung cơ bản gắn liền với công ty cổ phần, từ lúc hình
thành, phát triển cho đến khi giải thể. Ngoài ra, cũng nh các thành phần kinh tế
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368khác, công ty cổ phần cũng có những đặc điểm chung tơng tự nh các công ty trách
nhiệm hữu hạn và những đặc trng riêng của loại hình công ty cổ phần.
1.1.2 Đặc điểm của Công ty cổ phần
Mô hình tổ chức các doanh nghiệp dới dạng công ty có một lịch sử phát triển
tập trung sức lực vào việc đẩy mạnh hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
Ngoài 4 đặc trng cơ bản trên, ngời ta còn có thể nhận thấy điểm khác biệt rõ
ràng giữa công ty cổ phần với các loại hình công ty khác, đặc biệt là khi so sánh
với công ty trách nhiệm hữu hạn, là ở tính "mở" của nó. Nếu nh các công ty trách
nhiệm hữu hạn thờng là một pháp nhân mang tính "đóng"- nghĩa là các thành viên
của công ty trách nhiệm hữu hạn thờng là thành viên trong một gia đình hoặc một
nhóm ngời có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau thì công ty cổ phần lại đợc coi là có
tính "mở"- thể hiện ở việc nó có thể bán cổ phần của mình cho cả nhà đầu t mà
thậm chí không mấy quan tâm đến công ty. Qua nghiên cứu, một số ngời cho rằng
lý do khiến các nhà đầu t lựa chọn loại hình công ty cổ phần là: thứ nhất, các nhà
đầu t không phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty, do đó,
công ty có thể đầu t vào ngành nghề kinh doanh mang tính rủi ro cao nh ngành sản
xuất, chế biến; thứ hai, nhà đầu t có thể chỉ đơn thuần là ngời góp vốn, không phải
chịu trách nhiệm vô hạn, không cần phải tham gia quản lý, điều hành công ty,
đồng thời dễ dàng rút lui khỏi hoạt động kinh doanh bằng việc chuyển nhợng phần
vốn góp của mình một cách tự do.
Mặc dù những đặc trng của công ty cổ phần đã thể hiện những lợi thế, song
bên cạnh đó, công ty cổ phần cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho những ngời
tham gia góp vốn và ngời quản lý công ty hay mua bán cổ phiếu, thậm chí có thể
gây ra những rủi ro cho nền kinh tế nếu nh việc sử dụng các phơng tiện tài chính
mạnh mẽ này không nhằm vào mục đích chung.
* Các công ty cổ phần ở Việt Nam:
Nớc ta do ảnh hởng của nền kinh tế Liên Xô và Đông Âu xây dựng theo một
mô hình tổ chức quản lý thống nhất từ Trung ơng tới cơ sở doanh nghiệp với cơ
chế gắn chặt bộ máy của Đảng, đoàn thể quần chúng và Nhà nớc (ngời ta thờng
gọi là "bộ tứ"), lấy tinh thần làm chủ tập thể trên cơ sở động viên chính trị làm
chính. Do vậy bộ máy điều hành từ Trung ơng đến các doanh nghiệp trên cơ sở kế
hoạch hoá tập trung bao cấp, lao động đợc coi là có tính chất xã hội trực tiếp, Nhà
nớc thu tất cả và chi tất cả. Với các tiền đề trên, mỗi doanh nghiệp quốc doanh có
7
* Cổ phần:
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368Vốn điều lệ của Công ty cổ phần đợc chia thành nhiều phần bằng nhau và
mỗi phần này đợc gọi là cổ phần. Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông; ng-
ời sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông.
Công ty cổ phần cũng có thể có cổ phần u đãi; ngời sở hữu cổ phần u đãi gọi
là cổ đông u đãi.
Cổ phần u đãi gồm có:
Cổ phần u đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu
quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông, do điều lệ công ty quy
định.
Cổ phần u đãi cổ tức là cổ phần đợc trả cổ tức với mức
cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định
hàng năm.
Cổ phần u đãi hoàn lại là cổ phần sẽ đợc công ty hoàn
lại vốn góp bất kỳ khi nào theo yêu cầu của ngời sở hữu hoặc theo
các điều kiện đợc ghi lại tại cổ phiếu của cổ phần u đãi hoàn lại.
Cổ phần u đãi khác do công ty quy định.
Sở dĩ phải nghiên cứu các loại cổ phần bởi vì khi phân chia cổ tức, hội đồng
quản trị của công ty cổ phần luôn luôn phải đảm bảo lợi ích của các cổ đông đặc
biệt, tức là những cổ đông đang nắm giữ những cổ phần u đãi. Họ có thể là cổ
đông sáng lập, hoặc là những cổ đông có vai trò đặc biệt quan trọng mà công ty
cần phải giữ mối quan hệ, do đó, mặc dù số lợng cổ đông này không nhiều, song
họ cũng là những thành phần không thể thiếu khi nói đến công ty cổ phần.
* Cổ phiếu:
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối
với thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần.
đều do điều lệ của Công ty quyết định nh đợc hởng siêu lợi tức cổ
phần hay đợc chia các khoản dự trữ và thanh lý lúc giải thể công ty.
Cổ phiếu u đãi về quyền lực bảo đảm cho cổ đông có nhiều quyền lực
hơn trong việc bàn bạc và quyết định mọi công việc của công ty.
Cổ phiếu u đãi về kinh tế (cổ tức, hoàn lại) thờng dành
cho những cổ đông có nhiều cống hiến và làm việc lâu năm ở công
ty, có thể đã nghỉ hu, nh đợc u tiên hoàn vốn trớc cổ đông thờng hoặc
có thể đợc chia lãi theo tỷ lệ cố định theo điều lệ quy định.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368Ngoài 2 loại cổ phiếu trên, các công ty cổ phần còn có một loại cổ phiếu quỹ,
đây là loại cổ phiếu của chính công ty đã phát hành và đợc công ty mua lại bằng
nguồn vốn hợp pháp theo quy định.
* Cổ tức:
Cổ tức là số tiền hàng năm đợc trích từ lợi nhuận của công ty để trả cho mỗi
cổ phần mà các cổ đông đang nắm giữ, phần lợi nhuận này phải tơng ứng với số l-
ợng cổ phần mà họ đang có.
Theo lý thuyết, cổ tức đợc coi là khoản lãi chia cho mỗi cổ phần hàng năm
dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Cổ tức theo đó là tỷ lệ phần trăm
tính trên mệnh giá cổ phiếu. ở đây, cần phân biệt thị giá cổ phiếu là giá trị thị tr-
ờng của mỗi cổ phiếu có thể trao đổi trên thị trờng chứng khoán tại thời điểm nhất
định. Hay nói cách khác, thị giá cổ phiếu là giá có thể bán hoặc mua trên thị trờng
chứng khoán tại một thời điểm nhất định. Thị giá cổ phiếu không phụ thuộc mệnh
giá cổ phiếu mà phụ thuộc:
+ Hoạt động của Công ty
+ Tốc độ tăng trởng của Công ty
+ Xu hớng phát triển của Công ty
+Các chính sách kinh tế của chính phủ
Cũng theo nguyên tắc trên, thì cổ tức sẽ đợc thanh toán dựa trên cơ sở mệnh
giá cổ phiếu đợc thẩm định qua Uỷ ban chứng khoán và đợc niêm yết trên thị tr-
ờng chứng khoán. Hàng năm, trên cơ sở lợi nhuận sau thuế,Hội đồng quản trị
Công ty sẽ quyết định trích một phần lợi nhuận chia đều cho các cổ đông, phần
còn lại đợc tái đầu t. Hiện tại, các công ty cổ phần của Việt Nam cũng đang áp
dụng hình thức này. Tuy nhiên, do còn hạn chế trong công khai tài chính, các cổ
đông chỉ biết tỉ lệ cổ tức công bố chứ cha đợc biết đầy đủ về tình hình kinh doanh
của Công ty và theo đó không đủ cơ sở để đánh giá tỷ lệ cổ tức đợc công bố có
hợp lý hay không, xu hớng phát triển của công ty ra sao?
Việc đánh giá đúng trị giá cổ phiếu, thị giá cổ phiếu, cơ sở tính toán cổ tức
hàng năm đang là vấn đề đặt ra trớc Uỷ ban chứng khoán nhà nớc và là vấn đề cơ
bản của mỗi công ty cổ phần mặc dù một số công ty đã bắt đầu lựa chọn một
chính sách cổ tức thích hợp song đây là một vấn đề khá mới mẻ đối với phần lớn
các công ty.
Mỗi công ty hoạt động kinh doanh có thể trả cổ tức theo một tỷ lệ nhất định
hoặc giữ lại cổ tức này cho hoạt động đầu t nếu đợc cổ đông chấp thuận thông qua
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368Đại hội cổ đông hàng năm. Thậm chí các công ty cổ phần còn có quyền trả cổ tức
dới nhiều dạng, nếu đợc Đại hội cổ đông chấp nhận. Thông thờng, các công ty cổ
phần thờng lựa chọn trả cổ tức bằng tiền mặt theo quý, theo tháng hoặc định kỳ.
Việc trả cổ tức bằng tiền mặt có nhiều thuận lợi, nhất là đối với những cổ đông chỉ
mong muốn nhận đợc tiền lãi hàng năm đối với phần vốn mà mình đóng góp; tuy
nhiên, ở một số công ty lớn, đặc biệt là ở các nớc phát triển, trả cổ tức bằng cổ
phiếu lại đợc a chuộng hơn, có lẽ một phần là do thị trờng chứng khoán ở các nớc
này khá phát triển và hấp dẫn các nhà đầu t hơn là những khoản tiền mặt nhỏ.
Mọi cổ đông đều có quyền đợc nhận cổ tức theo quyết định của Đại hội đồng
cổ đông. Tuy nhiên, tuỳ theo tính chất của số cổ phần mà cổ đông nắm giữ, cổ tức
o Phát hành cổ phiếu - trái phiếu
o Huy động nợ thông qua tín dụng ngân hàng và tín
dụng thơng mại.
Trong thực tế, các doanh nghiệp thờng sử dụng linh hoạt 3 phơng thức trên
sau khi đã cân nhắc lợi - hại của từng phơng thức huy động. Chẳng hạn nếu nh huy
động nợ để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ luôn
phải chịu một áp lực rất lớn từ phía các chủ nợ, ở đây có thể là ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng khác, thêm vào đó, thủ tục xin vay để thực hiện dự án tơng đối
phức tạp, đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo hoặc có uy tín trên thị tr-
ờng. Chấp nhận hình thức huy động này luôn đặt các doanh nghiệp ở trong tình
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368trạng rủi ro, có thể phá sản nếu việc kinh doanh bị thua lỗ, đồng thời trách nhiệm
của ban giám đốc là rất nặng nề. Các công ty cũng có thể phát hành trái phiếu
hoặc cổ phiếu để tăng vốn tuỳ theo cơ cấu vốn của công ty ở thời điểm hiện tại.
Tuy nhiên, có một phơng thức huy động vốn ít mạo hiểm hơn và cho đến thời
điểm này đợc đánh giá là có u thế nhất trong số các phơng thức huy động vốn, đó
là giữ lại lợi nhuận để tái đầu t. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia chính
là phơng thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh
nghiệp. Ưu thế của phơng thức này là ở chỗ, doanh nghiệp vừa có thể giảm bớt chi
phí của việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu - tức là giảm bớt sự phụ thuộc vào
bên ngoài, vừa giảm bớt gánh nặng nợ nần trên vai các nhà quản trị tài chính của
công ty so với việc huy động nợ từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Thực tế
cũng có rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu t từ lợi nhuận để lại và
họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lợng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng
nhu cầu vốn ngày càng tăng trong tơng lai.
Nguồn vốn tái đầu t từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện đợc nếu nh doanh
nhờ tới sự giúp đỡ của ngân sách nhà nớc, các công ty cổ phần phải tự chịu trách
nhiệm với kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Chỉ khi nào công ty hoạt động
có lãi mới phải chi trả cổ tức, đó là cơ sở để xây dựng chính sách cổ tức của công
ty, vì bản chất của chính sách cổ tức chính là quyết định phân phối lợi nhuận.
Thông thờng, để xây dựng chính sách cổ tức, công ty cần phải có một số điều kiện
cơ bản:
Hoạt động có lãi vợt mức kế hoạch, ít nhất là trong 5
năm
Thiết lập cơ cấu vốn trong từng giai đoạn tăng trởng
Xác định tỷ lệ chi trả cổ tức.
Thứ nhất là công ty phải có lãi trong thời gian tối thiểu là 5 năm (thời hạn
này có thể u tiên đối với các công ty mới thành lập), bởi vì cơ sở của việc chi trả
cổ tức cũng nh lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận sau thuế của công ty. Nếu bản
thân công ty hoạt động không có lãi thì hoàn toàn không phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán lợi tức cổ tức cho các cổ đông, và điều này có nghĩa là công ty cũng
không thể giữ lại lợi nhuận để tái đầu t,do đó không thể thiết lập chính sách cổ tức
nếu nh công ty không có lợi nhuận.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368Căn cứ thứ hai quyết định tới việc xây dựng chính sách cổ tức chính là cơ cấu
vốn hiện tại của công ty. Vấn đề này liên quan tới quyết định giữ lại lợi nhuận để
tái đầu t sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn nh thế nào, và công ty phải cân nhắc kỹ lỡng
khi xây dựng chính sách cổ tức.
Ngoài hai yếu tố trên, chính sách cổ tức còn đợc xây dựng dựa trên cơ sở
công ty xác lập tỷ lệ chi trả cổ tức hợp lý. Tỷ lệ này nên là cao hay thấp, u thế và
nhợc điểm của nó nh thế nào, bài viết sẽ đề cập ở phần sau, tuy nhiên có thể nói
khi xây dựng chính sách cổ tức, các nhà hoạch định chính sách không thể bỏ qua
những mô hình tính toán cơ bản này, bởi nó là nền tảng của quyết định phân phối
để chia lãi cổ phần, phần còn lại là lợi nhuận không chia. ở các công ty cổ phần, tỷ
lệ phần lợi nhuận chia lãi và lợi nhuận không chia tuỳ thuộc vào chính sách cổ tức
mà đại hội cổ đông thông qua trong mỗi thời kỳ nhất định. Đây là nội dung cơ bản
nhất đợc đề cập trong chính sách phân phối cổ tức, bởi vì mục tiêu chính của việc
thiết lập chính sách cổ tức là tính toán và cân nhắc tỷ lệ hợp lý giữa cổ tức thanh
toán cho cổ đông với phần lợi nhuận giữ lại để đầu t.
Sau khi chuyển lỗ cho các năm trớc, phần lợi nhuận sau thuế đợc phân phối
theo trình tự:
1. Bù các khoản lỗ năm trớc không đợc trừ vào lợi nhuận trớc
thuế;
2. Trả tiền phạt vi phạm pháp luật nhà nớc nh: vi phạm luật thuế,
luật giao thông, luật môi trờng, luật thơng mại và quy chế hành chính.. sau
khi đã trừ tiền bồi thờng tập thể hoặc cá nhân gây ra (nếu có);
3. Trừ các khoản chi phí thực tế đã chi nhng không đợc tính vào
chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế;
4. Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi các khoản trên đợc phân
phối nh sau:
4.1 Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính. Khi số d của quỹ này bằng
25% vốn điều lệ của doanh nghiệp thì không trích nữa;
4.2 Trích tối thiểu 50% vào quỹ đầu t phát triển;
4.3 Trích 5 % vào quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. Khi số d quỹ
này đạt 6 tháng lơng thực hiện của công ty thì không phải trích nữa;
4.4 Chia lãi cổ phần
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.3684.5 Số lợi nhuận còn lại sau khi trích các quỹ trên đợc trích lập quỹ
khen thởng và quỹ phúc lợi. Mức trích tối đa cho cả 2 quỹ căn cứ vào tỷ
suất lợi nhuận trên vốn.
nhân viên chức trong công ty, mức thởng cũng ho Hội đồng quản trị và Giám đốc
quyết định.
Căn cứ vào tỷ lệ phân chia các quỹ nh trên, phần lợi nhuận còn lại chiếm
khoảng 30 -40% sẽ đợc quyết định chi trả cho các cổ đông dới dạng cổ tức hay giữ
lại để đầu t. Đây là một quyết định rất nhạy cảm đối với các công ty cổ phần, vì
chi trả cổ tức không chỉ liên quan tới thái độ của cổ đông mà còn tác động tới giá
của cổ phiếu trên thị trờng, từ đó ảnh hởng tới uy tín và triển vọng phát triển của
công ty trong tơng lai mà bài viết sẽ đề cập tới khi nghiên cứu tác động của chính
sách cổ tức.
Nội dung thứ hai đợc nhắc đến khi thiết lập chính sách cổ tức đó là cách thức
chi trả cổ tức mà Hội đồng quản trị của công ty phải thông qua. Bởi vì công ty cổ
phần không bị giới hạn về cách thức trả cổ tức. Công ty có thể trả phần lãi cổ phần
cho cổ đông dới dạng tiền mặt (cổ tức) hoặc bằng cổ phiếu, tuy nhiên việc trả cổ
tức dới dạng tiền mặt thờng đợc a chuộng hơn, nhất là đối với những cổ đông nhỏ
chỉ quan tâm tới tiền lãi thu đợc mà không có sự tính toán lâu dài về triển vọng
phát triển của công ty. Ta sẽ xem tại sao chi trả cổ tức tiền mặt lại đợc lựa chọn
hơn cổ phiếu? Đó là do tâm lý của những ngời góp vốn, muốn nhanh chóng nhận
đợc phần thởng cho sự hy sinh quyền sử dụng phần vốn của mình. Họ là những cổ
đông nhỏ, không quan tâm tới lợi thế của việc nắm giữ một số lợng cổ phiếu lớn
của công ty. Thêm vào đó, với phần tiền mặt của mình, họ sẽ dễ dàng tham gia
hoạt động đầu t khác nếu muốn hoặc sử dụng lợng tiền này để gửi tiết kiệm - một
biện pháp an toàn và đơn giản. Tuy nhiên, những cổ đông lớn lại a thích quyền lực
hơn là nắm giữ một khoản tiền không đáng kể so với số vốn góp ban đầu của họ.
Những cổ đông này thờng là thành viên của Hội đồng quản trị, hay chí ít thì cũng
quan tâm tới việc tham gia quản lý điều hành công ty mà họ là cổ đông. Do đó, chi
trả cổ tức dới dạng cổ phiếu sẽ giúp họ thực hiện đợc 2 mục đích: vừa tăng số cổ
phiếu, vừa tăng quyền điều hành trong công ty. Rõ ràng khi công ty hoạt động có
lãi, họ sẽ là những ngời thực sự nắm phần lời nhờ vào việc bán cổ phiếu trên thị tr-
ờng hoặc hởng cổ tức với mức giá cao hơn.
20
Ngời ta giả định rằng có một thị trờng hoàn hảo, tức là một môi trờng không
có thuế, không có chi phí giao dịch, chính sách cổ tức không ảnh hởng tới chi phí
của cổ phiếu thờng đã khẳng định rằng lúc này cổ tức không phải là mục tiêu thoả
21
gk
D
P
e
1
0
=
Website: Email : Tel (: 0918.775.368mãn các cổ đông. Nếu chúng ta trả cổ tức cho các cổ đông thì tơng ứng với nó là
sự sụt giảm vốn đầu t bằng nguồn lợi nhuận giữ lại, và điều này thực sự đe doạ đến
khả năng phát triển của công ty trong tơng lai. Luận điểm này căn cứ vào công
thức dới đây:
Trong đó: P
0
là giá hiện tại của cổ phiếu trên thị trờng
D
1
là cổ tức đợc trả cho cổ đông
K
e
là tỷlệ lợi tức yêu cầu đối với cổ phiếu thờng hay là chi phí
của cổ phiếu thờng.
g là tốc độ tăng trởng của công ty
phải huy động nguồn vốn ở bên ngoài để đầu t phát triển, đồng thời có thể làm hài
lòng các cổ đông. Ta sẽ xem xét tác động của chính sách cổ tức tới lãi của cổ
phiếu và chiến lợc phát triển của công ty nh thế nào.
(P
1
- P
0
+ D
1
)
Lãi của cổ phiếu =
P
0
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368 P
1
- P
0
D
1
= +
P
0
P
0
Có những tình huống sau:
3. Nếu công ty chi trả cổ tức cao cho các cổ đông, sẽ có những cổ đông a
thích phần lợi tức mà mình nhận đợc hơn là chờ đợi một kết quả kinh doanh đầy
rủi ro trong tơng lai. Tuy nhiên, cũng có những cổ đông không hài lòng với tỷ lệ
cổ tức cao này. Bởi vì họ là những cổ đông có tầm nhìn xa, họ đã nhìn thấy lợi thế
của việc giữ lại lợi nhuận để đầu t, đó chính là sự u tiên về thuế, một trong những
nhân tố tác động trực tiếp đến chính sách cổ tức của công ty mà những cổ đông
khác không nhận thấy. Vậy tác động của thuế nh thế nào, và ngoài thuế ra, thì còn
nhân tố nào tác động tới chính sách cổ tức của công ty?
1.3 Các nhân tố ảnh hởng tới chính sách cổ tức của công ty cổ phần
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài:
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368*Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Có thể nói chính sách cổ tức của mỗi công ty chịu tác động của rất nhiều yếu
tố, nhng chủ yếu là những tác động từ phía Chính phủ. Những chính sách vĩ mô
này tác động trực tiếp tới nội dung của chính sách cổ tức, mà tiêu biểu là chính
sách thuế. Tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế có chính sách thuế khác
nhau, nhng về bản chất, có những quy định chung mà mọi loại hình kinh tế đều
phải tuân thủ, đó chính là nghĩa vụ nộp thuế. Hiện nay có ba loại thuế đợc áp
dụng, đó là thuế thu nhập doanh nghiệp hay còn gọi là thuế thu nhập công ty, thuế
giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Chính sách cổ tức không chịu tác động
của thuế giá trị gia tăng, nhng lại bị ảnh hởng trực tiếp của thuế thu nhập doanh
nghiệp và đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế
của các đối tợng nh doanh nghiệp hoặc thể nhân. Tính chất của thuế này là có sự
thống nhất giữa ngời nộp và ngời chịu thuế, tức là ngời nộp thuế cũng là ngời chịu
thuế.
Thuế thu nhập có phạm vi thu tơng đối rộng và ngày càng phát triển cùng với