Một số tìm hiểu về điểm di tích chính Bắc Môn (Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội) - Pdf 25

Dương Mạnh Thắng VHH2B
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
BÁO CÁO THỰC TẬP NĂM THỨ 4
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ TÌM HIỂU VỀ ĐIỂM DI TÍCH CHÍNH BẮC MÔN
(Khu di tích Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội)
1
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Cúc
Sinh viên thực hiện : Dương Mạnh Thắng
Lớp : Vhh2b
Khoa : Văn hóa học
Dương Mạnh Thắng VHH2B
Hà nội, tháng 4 năm 2014
MỤC LỤC
Trang
1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề …………………………………………….5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… ………………………… 5
4. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………5
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ………………………………6
6. Kết cấu của đề tài …………………………………………………… 6
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG
LONG…………………………………………………………………………………… 7
1.1 Tên gọi và vị trí của khu di tích Hoàng thành Thăng Long……… 7
1.1.1 Tên gọi…………………………………………………………… 7
1.1.2 Vị trí và địa điểm phân bố di tích…………………………………7
1.2 Các di tích trên mặt đất của khu trung tâm di tích Hoàng thành
Thăng Long……………………………………………………………… 7
1.2.1 Kỳ đài……………………………………………………………… 7
1.2.2 Đoan Môn…………………………………………………………….8
1.2.3 Nền điện Kính Thiên…………………………………………………

quần thể kiến trúc của khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Cửa Bắc là
một trong năm cửa thành được mở khi xây dựng thành Thăng Long dưới
thời nhà Nguyễn từ năm 1805 gồm có cửa Bắc, cửa Đông, cửa Tây, cửa
Đông Nam và cửa Tây Nam.
Cửa Bắc hiện này nằm hơi chếch về phía nam phố Phan Đình Phùng.
Theo cấu trúc chung, mỗi cửa thành có một công sự bảo vệ nhô ra bên
ngoài hình tháp gọi là dương mã thành và mở ra một cửa bên ngoài gọi
là nhân môn. Từ cửa Chính Bắc đường ra cửa nhân môn mở về phái bên
phải của dương mã thành nối với phố Cửa Bắc hiện nay. Phố Cửa Bắc
hiện nay là đường đi vào cửa Bắc thành Hà Nội trước kia.
Cửa Bắc còn là minh chứng lịch sử gắn liền với cuộc chiến chống
thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ngay trên lầu hai của Cửa Bắc là nơi
đặt ban thời hai vị tổng đốc Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương đã anh
dũng cùng nhân dân chiến đấu.
Chính vì ý nghĩa đó cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng của
việc bảo tồn điểm di tích Cửa Bắc tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số tìm
hiểu về điểm di tích Chính Bắc Môn” làm báo cáo thực tập của mình.
4
Dương Mạnh Thắng VHH2B
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long nói chung và điểm di tích Chính Bắc
Môn có ý nghĩa quan trọng với lịch sử và văn hóa của Hà Nội cũng như cả
nước. Việc nghiên cứu và tìm hiểu về điểm di tích Chính Bắc Môn tuy chưa cụ
thể nhưng đã được đề cập đến trong các công trình sau:
- Thông báo khoa học số 1/2013, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin.
- Thông báo khoa học số 2/2013, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin.
- Hồ sơ di sản Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội.
- Wedsite: Hanoi.ws có bài viết : Thành Cửa Bắc – Chứng tích thời oanh
liệt của Hà Nội”…
Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về các giá trị của điểm di

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
1.1 Tên gọi và vị trí của khu di tích Hoàng thành Thăng Long
1.1.1 Tên gọi
6
Dương Mạnh Thắng VHH2B
- Tên thường gọi: Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội
- Tên gọi khác: Khu di tích Thành cổ Hà Nội và di tích khảo cổ học 18
Hoàng Diệu
1.1.2 Vị trí và địa điểm phân bố di tích
Hiện nay, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (Bao
gồm Thành cổ Hà Nội và di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu) nằm trên một
khuôn viên khá rộng, gần 19 ha (186. 3777, 9m2), thuộc địa bàn phường Điện
Biên và phường Quán Thành, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội được giới hạn bởi:
+ Phía Bắc giáp: Đường Phan Đình Phùng, đường Hoàng Văn Thụ
+ Phía Tây giáp: Đường Hoàng Diệu, Đường Độc Lập và khuôn viên Hội
trường Ba Đình
+ Phía Nam giáp: đường Bắc Sơn và khuôn viên Hội trường Ba Đình
+ Phía Tây Nam giáp: đường Điện Biên Phủ
+ Phía Đông giáp: Đường Nguyễn Tri Phương
1.2 Các di tích trên mặt đất của khu trung tâm di tích Hoàng thành Thăng
Long
1.2.1 Kỳ đài
Kỳ Đài (Cột Cờ Hà Nội) cao 33, 4m, xây năm 1812 trên bệ tam cấp đồ sộ
tượng trưng cho tam tài (thiên, địa, nhân). Cấp dưới cùng mỗi cạnh 42m, cấp trên
cùng mỗi cạnh 15m, cấp giữa có tên các cửa: Cửa Đông (Nghênh Húc) – đón ánh
ban mai, Cửa Nam (Hướng Minh) – hướng về ánh sáng, Cửa Tây (Hồi quang) –
ánh sáng phản chiếu. Tháp hình bát giác với cầu thang 54 bậc xoáy ốc lên lầu nóc,
có 39 cửa nhỏ hình hoa thị và 6 cửa hình dẻ quạt để soi sáng và thông hơi. Hiện
nay Cột Cờ nằm trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, là biểu
tượng của Thủ dô Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch sử đánh dấu những mốc son của cách
mạng Việt Nam. Đây là nơi diễn ra nhiều cuộc họp,nhiều sự kiện quan trọng gắn
với những mốn son của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của quân và dân ta.
Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972 Đánh
thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng
tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh . Phòng họp D67 chính
là nơi hội tụ kết tinh và tỏa sang tinh hoa Việt Nam,trí tuệ Việt Nam để đưa nhân
dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Nhìn bề ngoài D67 là một ngôi nhà mái bằng bình thường, kích thước 43.02 x
20.85m chiều cao đỉnh mái 7.89m nằm dưới lùm cây. Tuy nhiên tính quân sự của
D67 hiện rõ khi vào trong. Tường dày 0.6m, cách âm, cửa có hai lớp lớp ngoài
bằng thép tấm dày 1cm. Trên mái có một lớp cát cản được mảnh róc két và bom
bình thường.
Hầm D67 (hầm quân ủy trung ương) được xây dựng vào năm 1967 cùng với
nhà D67. Hầm nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67 dành
cho Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương. Hầm sâu khoảng 9m được xây dựng
kiên cố để chống bom. Cửa hầm làm bằng thép tấm có ba cầu thang lên xuống.
Hai đường dẫn từ hầm lên hai phòng làm việc của đại tướng Võ Nguyên Giáp và
đại tướng Văn Tiến Dũng trong nhà D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang.
Ngoài ra còn một cầu thang phía Nam thông với nhà con Rồng.
1.2.4 Hậu Lâu
Hậu Lâu, còn gọi là lầu Công chúa, có kiến trúc gốc thời Nguyễn, xây dựng
lại trong thời Pháp thuộc, xưa là nơi ở của các cung tần mỹ nữ hộ giá nhà vua khi
tuần du Bắc Hà. Lầu được xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, phía trên là các
9
Dương Mạnh Thắng VHH2B
công trình kiến trúc với 5 tầng mái đan xen nhau. Lầu dưới cùng có 3 tầng mái,
lầu trên cùng có 2 tầng mái. Mái lợp kiểu ngói ống, trát vữa, xi măng. Bốn góc
đao cong, hai góc bờ ngoài đắp đầu rồng, hai đầu hồi đắp hổ phù, hai góc đao đắp
hình hồi long bằng vữa.

còn sót lại. Chính Bắc Môn hiện nay nằm trên phố Phan Đình Phùng.
2.1.2 Lịch sử hình thành
Năm Ất Sửu, vua Gia Long sai quan đốc sức đắp thành, chu vi 1958 tầm 2
thước 5 tấc, xay bằng gạch đá. Ngoài thành đều đào hào xung quanh. Thành mở 5
cửa Đông Nam, Tây Nam, Chính Đông, Chính Tây và Chính Bắc xây bằng gạch
đá, bốn bề cao và bằng một lối ra vào xây bằng đá, trên tròn dưới vuông. Trên
của dựng nhà gạch làm lầu canh. Ngoài cửa thành đều xây lăng giác thành.
Ở cửa chính Đông dựng một tòa nhà gạch, cắt lính thay phiên nhau canh
gác. Ở Cửa Đông Nam dựng hai tòa nhà gạch gọi là Diệp Nghị Đường. Hàng
tháng vào ngày 27 các quan lại làm việc trong thành tụ tập ở đó. Phàm quan dân
các huyện trấn ai có việc thì đến đây tâu trình. Nha bên phải công đường đặt sáu
phòng nha lại lưu giữ, trình gửi công văn. Lại đặt trạm dịch, 1 nhà gạch bốn mái
đặt quân luân phiên canh trực, khi có chiếu thư, truyền lệnh cũng dán ở đây, ở
lang giác thành cửa Chính Bắc cũng dựng một nhà dài bên trong chứa công
lương… (Trích Bắc Thành dư địa chí, xuất bản 1969).
2.1.3 Kiến trúc
Chính Bắc Môn được xây theo hướng vọng lâu, phía trên là lầu phía dưới là
thành. Tuy Chính Bắc Môn không cao nhưng khá bề thế. Cổng quay hướng Bắc
chếch 15°, dạng hình thang lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch, một viên đặt
12
Dương Mạnh Thắng VHH2B
ngang xen một viên đặt dọc liên kết bằng vữa hợp chất. Mép cửa kè đá hình
chững nhật, diềm trên bằng đá trang trí viền cánh sen, gạch cỡ trung bình 35.5cm
х 11cm х 12cm. Đá kè kích thước dài từ 38cm đến 86cm, rộng từ 17cm đến
32cm, dày khoảng 42cm, phía trên có hai ống máng bằng đá trang trí văn mây
xoắn để thoát nước từ trên vọng lâu xuống. Phía trên vòm cửa chính có gắn tấm
biển đá ghi ba chữ “Chính Bắc Môn”, diềm biển đá trang trí hoa dây nổi.
Trên mặt thành có thể thấy 1 tấm biển đá khắc ngày 25/04/1882 với 2 vết
lõm ngay cạnh. Đó là dấu tích khi Pháp phá thành Hà Nội chúng giữ lại cửa Bắc
vì nơi đây còn hai vết đại bác do pháo thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882

có các cỡ 38cm x 17cm x14cm, 42cm x 14cm x 13cm. Gạch vuông gồm có
34cm x 34cm x6cm, 38cm x 38cm x 5.5cm.
Kỹ thuật xây xếp đơn giản không có chất kết dính. Theo chiều thẳng
đứng gạch thường xếp giật cấp. Theo mặt phẳng ở phía ngoài gạch xếp 1 viên
ngang xen 1 viên dọc, ở phía trong nhòi gạch vỡ nện chặt.
14
Dương Mạnh Thắng VHH2B
Cấu trúc: Gồm hai phần: móng và tường. Phần móng được thấy rõ ở
phía nam hố khai quật. Phần này gồm một lớp gạch dăm dày 6cm nện chặt.
Dưới dăm gạch là đất sét đen không có di vật. Tuy nhiên đây chỉ là phần móng
ở vị trí không có tường đè lên. Phần móng chỗ có tường không đòa vì để bảo
vệ tường gạch phía trên. Phần tường gồm có hai cấp thu lại theo hướng từ đông
sang tây. Cấp dưới có thể coi như chân tường có thể quan sát thấy rõ từ ba
hướng. Từ hướng Nam: chân tường cao 0.92m gồm có hai lớp đá và năm lớp
gạch được xếp theo trật tự như: Lớp gạch dưới cũng là lớp đá lót, đá được đập
vỡ tự nhiên, kích thước 28cm x 5.14cm x5cm đã xếp chèn ở dưới và xếp bề
rộng ra ngoài. Tiếp theo là lớp đã xanh có gia công sơ sài kích thước lớn hơn
54cm x 15cm, 37cm x 17cm. Bên trên lớp đá có năm hàng gạch vồ, tính từ
dưới lên trên được xếp theo thể thức hàng một gạch xếp dọc, hàng hai gạch xếp
dọc thỉnh thoảng có viên xếp ngang, hàng ba gạch xếp dọc, hàng bốn gạch xếp
dọc có chen viên xếp ngang, hàng năm gạch xếp dọc hoàn toàn. Như vậy các
hàng gạch xếp dọc là chủ yếu tạo một chân tường khác chắc chắn nhưng mặt
phẳng không đều. Từ hướng Bắc: do hố đào còn nhỏ, chân tường đã bị phá chỉ
rõ phần mặt có nhồi gạch vỡ nện chặt.
Từ hướng đông: có thể thấy chân tường chạy theo hướng bắc nam dài
9m, rộng 0.9m, chân tường đang phát triển về hướng bắc. Cấu trúc chân tường
phía này khác hẳn phía nam. Các hàng gạch vồ được xếp thẳng và giật cấp thu
dần vào trong mỗi cấp từ 2cm – 4cm. Hiện đã rõ ba hàng gạch giật cấp như
vậy. Còn phía dưới chưa nhìn rõ được do hố đào còn nhỏ. Phủ kín trên mặt của
chân tường là các lớp gạch vồ, gạch vuông và đất. Gạch tuy được xếp nhưng

16
Dương Mạnh Thắng VHH2B
có xen đất, mảnh gốm và gạch. Tóm lại, đây là đoạn tường kiến trúc chạy theo
hướng Bắc Nam. Phần còn lại đã xuất lộ cao 2.4cm, bề mặt đã xuật lộ rộng
3.3cm.
Niên đại của các di vật và vết tích kiến trúc ở Chính Bắc Môn:
Hai hố H1, H2 đào ở Bắc Môn khá gần nhau và kết cấu địa tâng, loại
hình di vật và niên đại. các vết tích kiến trúc đều tương tự như nhau do đó có
thể xác đinh niên đại chung cho cả hai hố. Về mặt địa tầng, cả hai hố đều chỉ
có một tầng văn hóa. Trong tầng văn hóa, đặc trưng và niên đại của các di vật:
Các di vật thuộc thế kỷ XVII – XVIII chiếm tỷ lệ lớn nhât gồm có các mảnh
gạch vồ, ngói ống và các bộ phận trang trí trên ngói màu xám, màu dỏ hoặc
tráng men xanh, men vàng, các mảnh gốm men hai màu, men mày ghi xám,
men mày vàng đục gốm hoa lam trang trí đơn giản, các mảnh sành… Ngoài ra,
còn một số mảnh gốm hoa lam Trung Quốc. Các di vật thuộc thế kỉ XV – XVI
gồm một tỷ lệ rất ít các mảnh gốm hoa lam, gốm men màu vàng đục, gốm
trắng văn in.
Các di vật thuộc thế kỷ XIII –XIV rất ít gồm một số mảnh gốm men
ngọc hoặc men trắng có vết chồng dính thời Trần và một vài mảnh men ngọc
Trung Quốc. Trong lớp kiến trúc này mỗi hố có vết tích một nền móng kiến
trúc rất lớn. Vết tích này xây hoàn toàn bằng gạch vồ. Loại gạch này xuất hiện
từ thế kỷ XV trở đi. Việc xác định chính xác loại gạch này và kỹ thuật xây xếp
như hai kiến trúc này xuất hiện và thời kỳ nào là rất khó. Giữa hai kiến trúc có
khác nhau một số điểm như sau: Kiến trúc ở hố H1 gần như là một kiến trúc
nhà cửa hay đền tháp, xây giật cấp, móng gạch vụn xây mỏng. Kiến trúc ở hố
H2 là đoạn tường thành xây xếp giật cấp và móng gạch xây khá dày và kiên cố.
17
Dương Mạnh Thắng VHH2B
Tuy nhiên, cả hai kiến trúc này lại có điểm chung là cũng một loại gạch,
kỹ thuật xây cất như nhau. Bởi vậy tạm thời cho rằng hia kiến trúc này xây

vua Nguyễn giao chức tổng đốc Hà Nội. Quân Pháp dưới sự chỉ huy của thiếu
tá Henri Rivière đã chiếm thành Hà Nội. Ngày 25/4/1882, tại cổng thành Cửa
Bắc đã diễn ra trận chiến bao vệ thành Hà Nội của tổng đốc Hà Nội với Henri
Rivière. Dãy phố Hàng Bún và Hàng Than bốc cháy dữ dội. Và cũng ở trận
chiến này hai vết đại bác của thực dân Pháp hằn in trên tường thành Chính
Bắc Môn.
Trong cuốn tiểu thuyết Vết đạn thành Cửa Bắc, tác giả Ngô An Phú đã
miêu tả chi tiết hơn về lịch sử, nguồn gốc của hai vết đạn này. Sách có viết:
“Đề đốc Lê Văn Trinh trấn thành Cửa Bắc một viên đạn đại bác trúng ngay
trán cổng thành tiếng nổ long tròi lở đất. Rồi đạn liên tiếp nổ phía trước. Hào
nước vung bùn lên gần ngang mặt thành. Phía sau, đạn pháo bắn liền mấy quả
tiếp Quân ta lâm trận đang ở vào phút bất lợi! Một viên đại bác nữa lại
trúng mặt thành, sát thương thêm hàng chục người. Thành vỡ ra một mảng
lớn. Thây người văng trong khói lửa…Tuy nhiên, sau làn khói đạn, những
người lính mặc áo nâu dũng cảm lại xông lên, chém mạnh vào đám quân Pháp
đang bắc thang leo vào thành ( ) Sĩ phu Bắc Hà, có bao giờ chịu ngồi yên
đâu!”
Tổng đốc Hoàng Diệu đã chỉ huy quân sĩ chiến đấu rất ngoan cường ở
Cửa Bắc nhưng do trong thành có kẻ nội gián đốt kho súng gây hỗn loạn vì
19
Dương Mạnh Thắng VHH2B
thế thành đã bị thất thủ. Lực lượng ngày càng yếu đi, không thể giữ được
thành nữa, ông đã ra lệnh cho tướng sĩ giải tán để tránh thương vong, một
mình vào hành cung, thảo tờ di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu
thắt cổ tự tử, đó là ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức ngày 8 tháng 3 Âm lịch).
“Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền.
Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân
vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng " . Ông đã viết bằng máu những dòng
này trong tờ di biểu.
Người Hà Nội vô cùng đau lòng. Ngay hôm sau, nhiều người họp lại,

công bố ngày 29/10/1957 đã tạo điều kiện cho ngành văn hóa thong tin tiến
hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở
các tỉnh và thành phố toàn miền Bắc; giúp bảo vệ những di tích quan trọng
nhất của đất nước đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu, đình Tây Đằng …; xây dựng
được hệ thống bảo tàng đầu tiên của nhà nước độc lập, tự chủ: Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng
Hải Phòng, Bảo tàng Việt Bắc và nhiều bảo tàng khác ở các địa phương.
Với Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng
cảnh do Hội đồng Nhà nước công bố ngày 31/3/ 1984, Đảng và Chính phủ đã
thể hiện, sự quan tâm, sự chăm lo đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của
dân tộc. Những nghị định, pháp lện này thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà
21
Dương Mạnh Thắng VHH2B
nước ta đối với việc bảo tồn các di sản văn hóa ở những thời điểm, hoàn cảnh
cụ thể, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội vào thời điểm đó.
Sự hoàn thiện dần về luật pháp đối với lĩnh vực bảo tồn và phât huy giá trị của
di sản văn hóa của các dân tộc ở nước ta, được bắt đầu với Hiến pháp năm
1992, trong đó, quy định trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức nhân dân về
bảo vệ, giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc được nhấn mạnh: Nhà nước
chủ trương bảo tồn phát triển nền văn hóa Việt Nam, các di sản văn hóa dân
tộc, những giá trị của nền văn hiến dân tộc Việt Nam.
Ngày 19/1/1993 Thủ tướng Chính phủ công bố Quyết định số 25/TTg
Về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ
thuật, trong đó xác định việc phát triển văn hóa nghệ thuật mang bản sắc dân
tộc Việt Nam là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân, Nhà nước tạo điều kiện ,
xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị phương tiện cho việc phát triển văn hóa
nghệ thuật mang bản sắc dân tộc. Quyết định cũng chỉ ra chính sách cụ thể
như đầu tư cho việc sưu tầm, chình lý, biên soạn, bảo quản lâu dài, phooe biến
văn học dân gian, các điệu múa, các làn điệu âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn
các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc dân tộc, bảo tồn và phát huy các

Luật Di sản Văn hóa được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 9 thông qua
ngày 14/6/2011, có hiệu lực từ ngày 1/1/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm
bảo vệ và phát huy giá trị di sẳn văn hóa ở Việt Nam. Các khái niệm, nội dung
của di sản văn hóa; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính sách, biện
pháp chủ yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ di sản; trách nhiệm của cơ quan nhà
nước, tổ chức,các nhân và của toàn xã hội trong việc bảo vệ di sản văn hóa
dân tộc; giải thích các từ ngữ về di sản văn hóa và bảo vệ, phát huy di sản văn
hóa; xá định quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và các
hình thức sở hữu khác đối với si sản văn hóa; những mục đích sử dụng và phát
huy giá trị di sản văn hóa; các điều cấm nhằm bảo vệ di sản văn hóa… đã
23
Dương Mạnh Thắng VHH2B
được đề cập đến. Bên cạnh đó, trong văn bản luật này có các chương đề cập
đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa; việc bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; việc bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hóa vật thể; việc quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; việc khen
thưởng và xử lý vi phạm; và các điều khoản thi hành.
Một văn bản quan trọng nữa ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy
giá trị các di sản văn hóa là Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di
tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ
trưởng Bộ Văn hóa thong tin ký phê duyệt trong quyết định số 1706/QĐ-
BVHTT ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32 di tích ưu tiên đầu tư chống
xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020.
3.1.2 Bảo tồn di tích Chính Bắc Môn gắn liền với hoạt động bảo tồn khu di
tích Hoàng thành Thăng Long
Điểm di tích Chính Bắc Môn nằm trong khu di tích Hoàng thành
Thăng Long nên việc bảo tồn điểm di tích này cần gắn liền với các hoạt động
của khu di tích Hoàng thành Thăng Long.
Cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa được quy
định cụ thể trong các luật, thông báo sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status