LUẬN VĂN:Một số ý kiến về mở rộng vốn của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội qua các loại hình tài khoản tiền gửi.Lời nói đầuTrong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các ngành Ngân hàng nước ta gánh một trọng trách rất nặn potx - Pdf 12


LUẬN VĂN:
Một số ý kiến về mở rộng vốn của Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Nội qua các loại hình tài
khoản tiền gửi Lời nói đầu

Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các ngành Ngân hàng
nước ta gánh một trọng trách rất nặng nền. Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đều chú trọng
đến vấn đề đổi mới và phát triển nền kinh tế để theo kịp các nước đang phát triển của
khu vực, hội nhập với các nước trên thế giới.
Việc xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước, cộng với chính sác mở cửa, đa phương hoá, đa

viết khoá luận. Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban lãnh đạo,
các cô chú, anh chị cán bộ Phòng Nguồn vốn kinh doanh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Nội.

Chương I:
Lý luận chung về công tác huy động vốn
của Ngân hàng thương mại

I. Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại:
1. Vị trí của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế:
Ngân hàng được xem là một ngành dịch vụ có từ lâu đời trên thế giới, Ngân
hàng ra đời khi sản xuất hàng hoá đã phát triển tới mức nhất định. Trong xã hội chiếm
hữu nô lệ chưa có sản xuất hàng hoá, nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, do đó Ngân
hàng chưa xuất hiện. Tuy nhiên đã có những mầm mống sơ khai của hoạt động Ngân
hàng, đó là cho vay nặng lãi.
Khi nền sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất
hàng hoá đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế, theo đó hệ thống Ngân hàng
được hình thành. Hoạt động của hệ thống Ngân hàng trong nền kinh tế hàng hoá một
mặt phục vụ cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế, song mặt khác cũng chính là do
mục đích sinh lời của Ngân hàng không ngừng hoàn thiện và phát triển.
Lúc đầu, hoạt động Ngân hàng chỉ đơn giả là các dịch vụ đổi tiền, các dịch vụ
này rất đơn giản, nó chỉ phù hợp với buổi bình minh của nền sản xuất hàng hoá.
Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến trình độ cao nó đòi hỏi các hình thức
dịch vụ Ngân hàng càng phải phong phú, đa dạng, do vậy các hình thức tín dụng và
dịch vụ Ngân hàng được phát triển để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sxhd.
Ngày nay kinh tế thị trường là sự phát triển đến trình độ cao của kinh tế hàng
hoá. Do đó Ngân hàng càng có vị trí quan trọng. Ngoài chức năng kinh doanh thông

Để tăng thu nhập quốc dân, tức là mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản
xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế
cần thiết phải có vốn. Ngân hàng thương mại là chủ thế đáp ứng nhu cầu vốn cho sản
xuất kinh doanh. Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi tạm
thời được giải pháp ra từ quá trình sản xuất và lưu thông, vốn từ nguồn tiết kiệm của
các cá nhân trong xã hội. Bằng nguồn vốn huy động được, các Ngân hàng thương mại
cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho
quá trình tái sản xuất. Như vậy nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại,
các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng phạm vi sản xuất, công nghệ, tăng năng suất
lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động
mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh Để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp không
ngừng nâng cao chất lượng lao động, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp.
Thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng đáp ứng vốn cho doanh nghiệp trong việc
nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo cho doanh nghiệp
có chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian thanh toán cho các tổ chức kinh
tế, cá nhân trong xã hội. Tổ chức công tác thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, sử
dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tăng nhanh tốc độ chu
chuyển vốn trong nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của
mình sưc thực sự là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng hoạt động
tín dụng và thanh toán, các Ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng
tiền cung ứng trong lưu thông, thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành

tính dài hạn, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư các khoản vốn dài hạn của Ngân hàng vào
nền kinh tế. Ngoài ra, các nghiệp vụ này còn giúp các Ngân hàng thương mại tăng
cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
3.1.3. Nghiệp vụ đi vay:
Đối với nghiệp vụ này các Ngân hàng thương mại tiến hành tạo vốn cho mình
bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng trung ương
dưới hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo nhằm tạo sự cân đối trong điều
hành vốn của bản thân Ngân hàng thương mại khi mà họ không tự cân đối được trên cơ
sở khai thác tại chỗ.
3.1.4. Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngân hàng thương mại có thể tiến hành tạo vốn thông qua việc nhận làm đại lý
hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
3.1.5. Vốn tự có của Ngân hàng:
Đây là vốn thuộc sở hữu riêng có của các Ngân hàng. Trong thực tế khoản vốn
này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân
hàng mang lại. Nó góp một phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của các
Ngân hàng thương mại.
3.2. Nghiệp vụ tài sản có:
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích đảm bảo an
toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại. Nội dung của
nghiệp vụ bao gồm:
3.2.1. Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của Ngân hàng được dùng vào với mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt
buộc do Ngân hàng trung ương đề ra.
3.2.2. Nghiệp vụ cho vay:
Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh của

Ngân hàng mở rộng được vốn góp phần mở rộng quy mô hoạt động của bản thân Ngân
hàng.
1.2. Vốn đi vay:
Là quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước
trung ương hoặc vay các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng quốc tế. Các
Ngân hàng thương mại sẽ đi vay vốn để bổ sung vào hốn hoạt động của mình khi Ngân
hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng hiện có mà vẫn không đủ vốn hoạt động.
1.3. Vốn khác:
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, Ngân hàng thương mại cũng tạo
được một khoản vốn gọi là vốn trong thanh toán như vốn trên tài khoản tiền gửi mở
thư tín dụng, tài khoản tiền gửi bảo chi séc và các khoản tiền phong toả do Ngân hàng
chấp nhận các hối phiếu thương mại.
2. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại:
Theo giác độ không gian, một Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn
trong nước và ngoài nước.
Nguồn vốn từ nước ngoài là rất quan trọng. Bằng cách liên doanh, liên kết, mở
văn phòng đại diện ở nước ngoài, phát hành trái phiếu ra nước ngoài các Ngân hàng
thương mại có tiềm lực có thể hút vốn từ các Ngân hàng khác, các tổ chức kinh tế nước
ngoài, góp phần đẩy mạnh đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần
thấy rõ nguồn vốn trong nước là chủ yếu, nguồn vốn trong nước vừa phong phú, vừa
chủ động, lại đang nằm trong tầm tay của các Ngân hàng thương mại. Nguồn trong
nước đồng thời cũng là tiền đề, là điều kiện để “đón” các nguồn nước ngoài.
Theo đối tượng huy động, một Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn từ
các đối tượng sau:
- Các tổ chức kinh tế.
- Các tầng lớp dân cư.
- Vay các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

Ngân hàng thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi không kỳ hạn có mức lãi
suất thấp.
Tiền gửi thanh toán được ký thác vào Ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả
về mua hàng hoá, dịch vụ Đây không phải là tiền để dành mà là một bộ phận tiền
đang chờ thanh toán.
2.1.2. Trên tài khoản tiền gửi có kỳ hạn:
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được uỷ thác vào Ngân hàng, khách hàng ký
thác chỉ được rút khi đến hạn đã thoả thuận. Tuy nhiên, trên thực tế, do phải cạnh tranh
để thu hút tiền gửi, các Ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút ra trước hạn.
Trong trườg hợp này, có thể có hai cách giải quyết: hoặc khách hàng được vay tiền của
Ngân hàng, sau đó khi đến hạn rút tiền thì dùng số tiền và lãi nhận được để trả nợ và
lãi vay Ngân hàng, hoặc là thoả thuận với Ngân hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi
suất thấp hơn (thường là lãi suất tiền gửi không kỳ hạn).
Để tăng cường khả năng huy động nguồn này, các Ngân hàng thương mại
thường đưa ra nhiều loại thời hạn khac snhau với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp
ứng được mọi nhu cầu các các loại khách hàng khác nhau. Thông thường có các loại
kỳ hạn sau : 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 2 năm, 3 năm, 5 năm. Với mỗi thời
hạn, Ngân hàng áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài
thì lãi suất càng cao.
2.1.3. Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các
Ngân hàng thương mại. ở các nước công nghiệp phát triển, trong các loại tiền gửi vào
Ngân hàng thì tiền gửi tiết kiệm đứng vị trí thứ hai về mặt số lượng. Tiền gửi tiết kiệm
là khoản để dành của cá nhân được gửi vào Ngân hàng nhằm hưởng lãi theo định kỳ.
Nhằm thu hút được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, Ngân hàng
thương mại đã đa dạng hoá các hình thức huy động tiết kiệm, bao gồm:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (bao gồm nội và ngoại tệ). Người gửi có thể

Khả năng mở rộng nguồn vốn từ tài khoản tiền gửi là vấn đề đang được mọi
người làm công tác Ngân hàng đặc biệt quan tâm. Nhằm đa dạng hoá các loại nguồn
vốn, khai thác nguồn vốn rẻ, chi phí thấp, mở rộng đầu tư vốn, đảm bảo an toàn và
hiệu quả, nâng cao vị thế Ngân hàng trên thương trường.
2.2.1. Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (Tài khoản tiền gửi thanh toán).
Đây là loại tài khoản dùng để hạch toán các nguồn tiền gửi vào Ngân hàng để
thực hiện các khoản chi trả về hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá nhân trong xã hội.
Tài khoản tiền gửi thuộc loại này được thể hiện dưới hai hình thức: Tài khoản
tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi tư nhân.
Tính chất tài khoản này chủ yếu dùng để tổ chức thực hiện thanh toán qua Ngân
hàng thông qua lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng trong phạm vi
số dư có, thể hiện trên tài khoản.
Khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng, giao cho Ngân
hàng bảo quản và tiến hành về mặt kỹ thuật nghiệp vụ chi trả theo lệnh của khách
hàng.
Số dư trên tài khoản này cũng được Ngân hàng trả lãi. Ngân hàng được phép sử
dụng số dư để làm nguồn vốn đầu tư ngắn hạn. Đây là một trong những nguồn vốn giá
rẻ góp phần làm giảm chi phí đầu vào trong hạch toán kinh doanh Ngân hàng.
Trong công tác kinh doanh, các Ngân hàng thương mại luôn tim mọi biện pháp
khơi tăng nguồn vốn này, bằng cách cải tiến thủ tục mở tài khoản tiền gửi tư nhân, sử
dụng công nghệ tổ chức thanh toán nhanh gọn chính xác an toàn.
2.2.2. Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn:
Đây là những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng được gửi vào Ngân
hàng trong một thời gian được xác định trước khách hàng mở tài khoản tiền gửi này
chủ yếu là các tổ chức kinh tế có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến gửi
vào một thời hạn nhất định để hưởng lãi cao hơn.

hàng sử dụng nguồn vốn này đầu tư ngắn hạn làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng.
b. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
ở Việt Nam chúng ta, hiện nay tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đang được
sử dụng rộng rãi trong công tác huy động vốn của Ngân hàng và chủ yếu huy động
trong tầng lớp dân cư.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền của các cá nhân tích luỹ được đem
gửi vào tài khoản với thời hạn đã định trước nhằm mục đích tích luỹ và hưởng lãi suất
cao hơn.
Thời hạn áp dụng với tài khoản tiền gửi tiết kiệm thường từ 3 tháng đến 1 năm
với lãi suất quy định theo từng thời hạn cụ thể. Về nguyên tắc, khách hàng đã gửi tiền
vào tài khoản này sẽ không được rút ra trước hạn cả gốc và lãi. Tuy nhiên trong thực tế
để tăng sức cạnh tranh trong thu hút tiền gửi của một số Ngân hàng vẫn cho phpe
khách hàng được rút trước hạn, không được hưởng lãi hoặc lãi suất thấp hơn nhiều so
với lãi suất gửi ban đầu.
Đây là nguồn vốn tiềm tàng của Ngân hàng, cho nên các Ngân hàng thương mại
luôn quan tâm cải tiến các tài khoản với phương thức huy động phong phú, đa dạng với
mức lãi suất hợp lý vừa đảm bảo phục vụ mục đích kinh doanh của Ngân hàng và thoả
mãn nhu cầu tốt nhất cho khách hàng gửi tiền.
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, huy động vốn thông qua tài khoản tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn, giúp cho các nhà kinh doanh Ngân hàng hoạch định được các
chiến lược huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu mục đích sử dụng vốn trong từng giai
đoạn, từng chương trình với mức lãi suất và thời hạn cụ thể, góp phần tích cực trong
lĩnh vực tạo lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
2.2.4. Tài khoản vãng lai:
Là tài khoản nhận tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, thông qua tài khoản
này Ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thu hộ, chi hội, dịch vụ rút tiền,
chuyển tiền hộ khách hàng Các tài khoản vãng lai luôn duy trì một số dư, trừ khi việc

được vốn huy động, các Ngân hàng phải đưa ra các mức lãi suất kích thích trả
chongười gửi tiền thoả đáng, nếu không nói là tốt hơn các Ngân hàng khác. Đặc biệt
trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ dù cho những khác biệt tương đối nhro về lãi suất
cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ
đang có sang tiết kiệm hoặc đầu tư hay từ một tổ chức tín dụng này sang một Công ty
hoặc một tổ chức tín dụng khác.
Tuy vậy cạnh tranh bằng lãi suất là cạnh tranh có giới hạn. Một Ngân hàng nếu
không bị khống chế bởi lãi suất huy động “trần” và lãi suất cho vay “sàn” của NHTW,
thì cũng bị khống chế bởi chính lợi nhuận và sự tồn tại của Ngân hàng.
2. Các dịch vụ do Ngân hàng cung ứng:
Để phát huy được hết khả năng của các khoản tiền gửi, Ngân hàng đưa ra một
phạm vi dịch vụ cho vay rộng lớn cùng với sự phát triển không ngừng mạng lưới cung
cấp các dịch vụ và nới rộng các chức năng khác của mình để đáp ứng các nhu càu dịch
vụ phụ trợ của khách hàng chẳng hạn dịch vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu của khách
hàng, ký phát thư bảo lãnh, chuyển đổi tiền tệ từ loại này sang loại khác, bố trí thời
gian tiếp khác phù hợp Hoạt động Ngân hàng là kinh doanh kiếm lời và cạnh tranh
ngày càng tăng giữa các Ngân hàng với nhau. Bởi cạnh tranh tăng lên, nên hoạt động
Ngân hàng vấp phải khó khăn ngày càng nhiều trong việc tìm kiếm lợi nhuận. Nguyên
nhân đó khiến các Ngân hàng không ngừng tìm tòi những hình thức dịch vụ mới nhằm
mở rộng kinh doanh. Một Ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có nhiều lợi
thế hơn các Ngân hàng có các dịch vụ hạn chế. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh
tranh về dịch vụ Ngân hàng là cạnh tranh không có giới hạn. Trong nền kinh tế hiện
đại, các Ngân hàng cạnh tranh với nhau chủ yếu bằng con đường này.
3. Chính cách khách hàng:
Trong công tác khách hàng, Ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều
loại để có cách thức đối xử phù hợp. Với những khách hàng lâu năm giao dịch thường
xuyên, có số dư tiền gửi lớn, được Ngân hàng tín nhiệm, thì Ngân hàng sẽ có một

Đây cũng là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến khả năng huy động
vốn của một Ngân hàng thương mại. Một Ngân hàng nằm ở trung tâm thương mại của
thành phố,có vị trí địa lý tốt và an ntoàn cho khách hàng của mình sẽ có khả năng thu
hút được nhiều khách hàng hơn.
8. Uy tín hoặc mức độ thâm niên của một Ngân hàng.
IV. Vai trò của công tác huy động vốn của Ngân hàng thương mại đối với sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước:
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp cho nền kinh tế, trong khi nguồn vốn
của Ngân hàng thương mại chủ yếu là nguồn huy động vốn. Vì vậy có thể nói công tác
huy động vốn có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, là cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Không
những thế, công tác huy động vốn tác động việc thu hẹp hay mở rộng khối lượng cấp
tín dụng của Ngân hàng cho nền kinh tế.
Theo giác độ không gian, một Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn từ
trong nước và nước ngoài. ý kiến hiện nay của các nhà kinh tế là : “Đối với Việt Nam,
nguồn vốn nước ngoài là rất quan trọng, nguồn vốn trong nước đóng vai trò chủ yếu.
Thật vậy, trong giai đoạn bước đầu xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay,
khôn gthể không cần những cú “hích” từ bên ngoài. Bằng cách liên doanh liên kết mở
văn phòng đại diện ở nước ngoài, phát hành trái phiếu ra nước ngoài Các Ngân hàng
có thể thu hút vốn từ các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng quốc tế góp phần đẩy
mạnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên cũng cần phải quán triệt rằng nguồn
vốn trong nước là chủ yếu cần được khai thác kịp thời. Nguồn trong nước vừa là tiền
đề vừa là điều kiện để có thể chấp nhận nguồn vốn từ nước ngoài.
Mục tiêu của giai đoạn 1991 - 2000 đối với nước ta là phải tăng trưởng kinh tế
nó đòi hỏi nhiều yếu tố nhân lực, tài lực, tài nguyên trong đó nhân lực và tài lực có ý
nghĩa quyết định. Theo kinh nghiệm của các nước, 2 yếu tố quyết định tăng trưởng
kinh tế là vốn và con người trong đó riêng yếu tố vốn góp vào sự phát triển là từ 30 -

Hà Nội, nằm trong hệ thống Ngân hàng kiến thiết Việt Nam, trực thuộc Bộ Tài chính.
Nhiệm vụ của Ngân hàng trong thời kỳ này là nhận vốn từ ngân sách Nhà nước
để tiến hành cấp phát và cho vay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Năm 1982, Ngân hàng được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Hà
Nội nằm trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành 2 Pháp lệnh về Ngân hàng đó
là: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín
dụng và Công ty Tài chính nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống Ngân hàng cho thích
ứng với cơ chế thị trường.
Hai pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/10/1990. Theo đó hệ thống Ngân hàng
bao gồm 2 cấp:
- Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Công ty Tài
chính và Hợp tác xã tín dụng.
Theo quy định của Pháp lệnh, ở Việt Nam chỉ được thành lập Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển quốc doanh. Ngày 14/11/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành
Quyết định số 401 về việc thành lập “Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”. Có
trụ sở đóng tại 194 - Trần Quang Khải - Hà Nội. Vốn điều lệ 200 tỷ đồng.
Có các Chi nhánh trực thuộc tại tỉnh, thành phần, đặc khu trực thuộc Trung
ương.
Từ đầu năm 1995, toàn bộ vốn cấp phát và một bộ phận cán bộ được bàn giao
sang Cục Đầutư phát triển, trực thuộc Bộ Tài chính.
Như vậy, từ ngày thành lập cho tới 01/01/1995 Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Hà Nội không hoàn toàn là một Ngân hàng Thương mại mà chỉ là một kiểu Ngân hàng
quốc doanh có nhiệm vụ nhận vốn từ ngân sách Nhà nước và tiến hành cấp phát cho
vay trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
Từ sau ngày 01/01/1995 Chi nhánh Ngân hàng ĐT & PT Hà Nội được phép huy

Ngân hàng Nhà nước Hà nội; sự đoàn kết nhất trí từ ban lãnh đạo đến cán bộ công
nhân viên, có đội ngũ cán bộ lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong công tác tín dụng
ĐTPT.
- Qua 4 năm chuyển sang hoạt động kinh doanh nghiệp vụ kinh tế đối ngoại
bước đầu đem lại hiệu quả tốt, góp phần mở rộng khách hàng. Khả năng quản trị điều
hành kinh doanh của ban lãnh đạo đã được nâng lên một bậc. Sự đổi mới cơ sở vật chất
kỹ thuật và công nghệ hiện đại giúp Ngân hàng ĐT & PT Hà Nội đứng vững và tiếp
tục lớn mạnh trong hoạt động kinh doanh của mình. Sự ra đời của Luật Ngân hàng tạo
thuận lợi về môi trường pháp lý cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.
2.2. Những khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi Ngân hàng cũng gặp một số khó khăn như sau:
Tuy là một trong những Ngân hàng ra đời sớm (cách đây đã 41 năm) nhưng tời
đầu năm 1995 Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội mới thực sự chuyển
hẳn sang kinh doanh theo cơ chế thị trường. Trong quá trình chuyển đổi này, Ngân
hàng đã vấp phải những khó khăn nhất định. Cụ thể:
- Từ 01/01/1995 Ngân hàng phải tiến hành chuyển toàn bộ nguồn vốn do ngân
sách cấp trả về Tổng cục đầu tư phát triển trực thuộc Bộ tài chính. Nguồn vốn anỳ,
theo số liệu của Bảng cân đối nguồn và sử dụng nguồn cuối năm 1994 tại Chi nhánh là
khoản 900 tỷ. Điều này đã gây một sự hẫng hụt ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng.
- Mô hình tổ chức phục vụ cho cơ chế kinh doanh chưa phù hợp. Việc sắp xếp
các phòng ban và cán bộ chưa hợp lý.
- Đội ngũ cán bộ của Ngân hàng mặc dù có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực
XDCB nhưng khi chuyển sang cơ chế kinh doanh như một NHTM đã tỏ ra lúng túng,
chưa nhanh nhạy và chưa thực sự hoà mình vào phong cách quản lý kinh doanh mới.
Điều này gây ra bởi cơ chế gò bó trước kia.
Ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trong một môi trường có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status