Một số biện pháp mở rộng tín dụng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh đã có bớc phát triển nhanh chóng và ngày càng đợc khẳng định rõ vai trò
quan trọng của mình trong nền kinh tế.
Đối với ngân hàng sự phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã
mở ra một thị trờng mới cho việc mở rộng và tăng trởng hoạt động tín dụng. Với
vai trò đầu tầu của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng có tác động tích cực trong
việc hỗ trợ khu vực KTNQD đầu t chiều sâu, đổi mới trang thiết bị giúp cho hoạt
động sản xuất kinh doanh đợc thực hiện liên tục, nâng cao chất lợng sản phẩm và
tăng sức cạnh tranh trên thị trờng.
Nhng thực tế trong thời gian gần đây hoạt động đầu t tín dụng đối với khu
vực KTNQD cha đợc hệ thống NHTM quan tâm thích đáng cả về số lợng lẫn chất
lợng. Hơn nữa, vốn tín dụng của các ngân hàng cho vay đối với khu vực KTNQD
cha hợp lý, hiệu quả cha cao. Vì vậy, sau một thời gian thực tập tại NHĐT & PT
Hà Nội em đã chọn đề tài Một số giải pháp mở rộng tín dụng khu vực
KTNQD tại chi nhánh NHĐT & PT Hà Nội . Với mục đích trình bày
vai trò của KTNQD và vai trò của việc mở rộng cho vay đối với KTNQD, phân
tích thực trạng tình hình cho vay của NHĐT & PT Hà Nội, từ đó có những giải
pháp chủ yếu và kiến nghị lên cấp trên nhằm mở rộng cho vay đối với khu vực
KTNQD tại ngân hàng trong thời gian tới.
Để đạt đợc mục đích đề ra khoá luận kết hợp sử dụng một số phơng pháp
nh: Phơng pháp duy vật biện chứng, tổng hợp, phân tích... đồng thời quán triệt
vận dụng đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng và nhà nớc.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khoá luận đợc chia thành 3 chơng:
Chơng I: Tín dụng ngân hàng đối với khu vực KTNQD.
Chơng II: Thực trạng hoạt động mở rộng tín dụng ngân hàng đối với khu vực
KTNQD.
Chơng III: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với khu vực
KTNQD tại chi nhánh NHĐT & PT Hà Nội.
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng

khi hết thời hạn sử dụng, ngời đi vay phải trả cho ngời cho vay.
- Giai đoạn kết thúc vòng tuần hoàn tín dụng. Sau khi hoàn thành chu kỳ sản
xuất ngời đi vay hoàn trả lại cho ngời cho vay, giá trị hoàn trả thông thờng lớn hơn
giá trị lúc đi vay.
Trong quá trình phát triển lâu dài của nền sản xuất và lu thông hàng hoá,
quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển thông qua các hình thức: tín dụng nặng
lãi, tín dụng thơng mại và tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa bên cho vay và đi vay trong đó
bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian
nhất định và bên đi vay có nghĩa vụ thanh toán nợ các gốc và lãi một cách vô điệu
kiện khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng ngân hàng đợc biểu hiện qua các quan hệ sau: quan hệ tín dụng
ngân hàng với kinh tế nhà nớc, giữa ngân hàng với khu vực kinh tế t nhân, ngân
hàng và cá nhân, quan hệ tín dụng giữa các nớc trên thế giới. Trong nền kinh tế,
ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức tài chính trung gian.
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vì vậy, trong quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng
vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho vay. Ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh
nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, hoặc trái phiếu để huy động
trong xã hội. Ngợc lại, với t cách ngời cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp và các cá nhân. Khác với tín dụng thơng mại đợc cung cấp dới hình
thức hàng hoá, còn tín dụng ngân hàng đợc cung cấp dới hình thức tiền tệ bao gồm
tiền mặt và bút tệ, chủ yếu là bút tệ.
1.1.2. Phân loại tín dụng:
Để phân loại tín dụngcó rất nhiều cách thức khác nhau theo những tiêu thức
khác nhau, sau đây là một số cách phân loại chủ yếu phổ biến hiện nay:
- Căn cứ vào thời gian cho vay, tín dụng gồm có:
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dới 1 năm, tín dụng ngắn

ngân hàng áp dụng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng, đặc biệt là khoản vay
lớn, các khoản đầu t trung, dài hạn.
+ Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản hoặc
ngời bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay. Việc đi vay chỉ dựa vào uy tín của ngời
vay hoặc bảo lãnh bằng uy tín của một bên thứ ba là các doanh nghiệp hay các tổ
chức đoàn thể chính trị - xã hội.
- Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng, tín dụng bao gồm:
+ Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian tài
chính nh ngân hàng thơng mại hoặc tổ chức tín dụng khác.
+ Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng giữa ngời có tiền và ngời cần
sử dụng tiền đó, không cần phải thông qua một trung gian tài chính nào cả.
1.1.3. Quy trình tín dụng:
Quy trình cho vay là trình tự các bớc mà ngân hàng thực hiện cho vay đối với
khách hàng.
Quy trình cho vay phản ánh nguyên tắc cho vay, phơng pháp cho vay, trình
tự cho vay, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải
quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng. Để đảm bảo hiệu quả tín dụng
thì quy trình tín dụng bao gồm các bớc sau:
Bớc 1: Tiếp xúc khách hàng.
Bớc 2: Thẩm định (hay phân tích khách hàng).
Bớc 3: Quyết định cho vay.
Bớc 4: Giải ngân.
Bớc 5: Giám sát thu nợ.
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quy trình tín dụng là bớc quan trọng để thực thi chính sách tín dụng. Thực
vậy, tuân theo các bớc quy trình tín dụng ngân hàng sẽ tìm kiếm, lựa chọn đợc
khách hàng phù hợp, có uy tín, đạo đức. Khi áp dụng quy trình tín dụng cần phải
sáng tạo mở rộng, nâng cao nghiệp vụ, nghệ thuật cho vay của ngân hàng và năng

Nhà nớc đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị tr-
ờng thông qua các công cụ tài chính tín dụng để sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài
nguyên và sức lao động. Muốn phát huy thế mạnh về tài nguyên để chuyển hớng
cơ cấu phù hợp với chiến lợc kinh tế xã hội thì không thể thiếu vai trò của tài chính
tiền tệ. Trong đó, tín dụng ngân hàng tạo nguồn vốn bằng cách huy động tiền nhàn
rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh hoạt và phù hợp với chỉ số trợt giá của
đồng tiền để đầu t vào các ngành, các công trình trọng điểm Bên cạnh đó, ngân
hàng còn tập trung tín dụng tài trợ cho những ngành kinh tế mũi nhọn mà sự phát
triển của các ngành này sẽ tạo cơ hội, cơ sở thúc đẩy ngành kinh tế khác phát triển
nh sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí, xây dựng cơ sở hạ tầng.
c. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá qua ngân
hàng với quy mô ngày càng lớn và có tính chất thờng xuyên, liên tục. Hoạt động
thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra qua hệ thống NHTM đã làm
tăng tốc độ luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ.
Ngoài ra, sự phát triển của các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng đi đôi với việc
thanh toán không dùng tiền mặt trong lu thông góp phần ổn định lu thông tiền tệ.
Đây cũng là một trong những phơng thức để kiềm chế lạm phát.
d. Tín dụng ngân hàng thực hiện chức năng phản ánh, tổng hợp và kiểm soát
các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế.
Sự vận động của tín dụng ngân hàng cúng nh việc quản lý tập trung thống
nhất công tác tín dụng đã tạo tiền đề khách quan cho tín dụng ngân hàng thực hiện
chức năng trên. Thông qua việc thực hiện phân phối lại tiền tệ trên nguyên tắc hoàn
trả, phục vụ tái sản xuất mở rộng. Tín dụng ngân hàng phản ánh một cách tổng hợp
và nhạy bén mối quan hệ giữa quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
với tình hình hoạt động của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, nhà nớc có biện pháp kịp
thời phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra để
thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Quá trình phản ánh và kiểm soát của tín dụng ngân
hàng là không thể tách rời nhau trong chức năng này. Do đó, có đợc sử dụng nh
một đòn bẩy kinh tế không thể thiếu đợc trong công tác quản lý tài chính, kiểm soát
các quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội, thực hiện và củng cố chế độ

độ. Từ đó, sở hữu t nhân đợc thừa nhận KTNQD đợc tồn tại và phát triển bình
đẳng cùng kinh tế Nhà nớc.
Kinh tế quốc doanh là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà nớc về
t liệu sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị mà toàn bộ vốn thuộc về nhà nớc hoặc
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phần của nhà nớc chiếm tỷ trọng khống chế. Đại diện của các thành phần kinh tế
này là doanh nghiệp nhà nớc đó là các tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn thành
lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nớc giao (luật doanh nghiệp nhà nớc - Điều
1).
ở nớc ta hiện nay, khu vực KTNQD bao gồm: công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, doanh nghiệp t nhân, hộ cá thể và cá nhân kinh doanh.
Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Hộ kinh doanh cá thể là một thực thể kinh doanh do một cá nhân hoặc hộ gia
đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định không thờng xuyên thuê lao
động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với
hoạt động kinh doanh.
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp trong đó:
+ Vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần của mình cho ngời khác,
trừ trờng hợp quy định tại khoản 3 điều 55 và khoản 1 điều 58 của luật này.
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lợng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lợng tối đa.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty trong đó phần vốn góp của tất cả các
thành viên phải đợc đóng đầy đủ ngay khi thành lập công ty. Các phần vốn góp đợc

tỷ đồng thì đến năm 1996 đã có 26.091 doanh nghiệp với số vốn điều lệ lên tới
8.257 tỷ đồng, tăng 25.968 doanh nghiệp so với năm 1991. Đến năm 1998, khu vực
KTNQD đã có 1.244.957 doanh nghiệp tăng 1.218.866 doanh nghiệp so với năm
1996 trong đó 2.990 hợp tác xã, 2.4667 doanh nghiệp t nhân và 1.217.300 hộ kinh
tế cá thể.
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hầu hết là những đơn vị còn non
trẻ vì nó mới thực sự đợc công nhận là một khu vực kinh tế chính thức từ hơn 10
năm. Vì vậy, quy mô doanh nghiệp còn rất nhỏ bé 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ
thuộc khu vực KTNQD, quy mô vốn đầu t của các doanh nghiệp t nhân là rất nhỏ,
đợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Quy mô vốn đầu t của DNNQD
Vốn trung bình/1DN < 500 Triệu > 500 triệu
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chỉ tiêu
Tỷ trọng
68.3%
(100 triệu <Vốn trung bình
<500 triệu chiếm 25,4%)
31,7%
(Vốn trung bình>1 tỷ
chiếm 18,9%)
Doanh nghiệp có số vốn dới 500 triệu đồng chiếm 68,3% tổng số doanh
nghiệp (trong đó doanh nghiệp có số vốn trên 100 triệu đồng chiếm 25,4%). Doanh
nghiệp có số vốn trên 500 triệu đồng chiếm 31,7 % (trong đó doanh nghiệp có số
vốn trên một tỷ chiếm 18,9%). Mặt khác, trong khu vực KTNQD chủ yếu là các
doanh nghiệp t nhân. Mặc dù, KTNQD đa dạng về loại hình nhng do vốn ít và hạn
chế về khả năng tích luỹ vốn, KTNQD không có đủ điều kiện đầu t khoa học công
nghệ hiện đại sản xuất công nghiệp nặng cũng nh đầu t vào cơ sở hạ tầng là lĩnh

ngoài quốc doanh phát triển thất thờng lúc lên lúc xuống tuỳ thuộc vào chính sách
quản lý cụ thể của Nhà nớc (chính sách thuế, lãi suất cho vay, chính sách xuất nhập
khẩu). Môi trờng kinh doanh không thuận lợi ngay từ khâu làm thủ tục đăng ký
kinh doanh và thành lập doanh nghiệp. Thủ tục này kể từ khi có luật doanh nghiệp
(đợc bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2000) đã giảm đi nhiều khâu xong đây là khó
khăn cho nhiều nhà kinh doanh muốn thành lập doanh nghiệp, nh đăng ký kinh
doanh đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề phải tập trung, sở
kế hoạch - đầu t tỉnh gây khó khăn cho các tổ chức cá nhân muốn thành lập doanh
nghiệp ở địa bàn xa tỉnh. Và sự sách nhiễu phiền hà của cán bộ đăng ký kinh
doanh làm cá nhân, doanh nghiệp tốn kém cả thời gian lẫn tiền bạc.
Nh vậy, qua các đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh ta thấy nó rất phù
hợp với sự phát triển của nớc ta hiện nay. Nếu nhà nớc có một chính sách và môi tr-
ờng thuận lợi cho môi trờng này phát triển thì họ sẽ đóng góp một tỉ trọng đáng kể
cho tăng trơng GDP trong cả nớc, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, góp phần
giảm tệ nạn xã hội trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, ngân hàng thơng mại cũng cần
có chính sách phù hợp với KTNQD trong hoạt động kinh tế của mình.
b) Xu hớng phát triển KTNQD:
Với chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nớc đã kích thích phát huy nội lực
trong nền kinh tế. Các chủ thể kinh tế đợc tự do kinh doanh theo quy định của pháp
luật. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động dới nhiều hình thức: doanh nghiệp
t nhân do một t nhân làm chủ, hoặc tham gia dới hình thức hợp tác xã. ở nớc ta
hiện nay, phổ biến là hai loại hình này có lợng vốn cần thiết thành lập và hoạt động
nhỏ, còn sự phát triển công ty cổ phần vẫn còn tơng đối mới mẻ ở Việt Nam.
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong những năm qua, số lợng doanh nghiệp ngoại quốc doanh tăng lên khá
mạnh theo ớc tính hiện nay có khoảng hơn 25.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đang hoạt động. Trong khi đó, số doanh nghiệp quốc doanh lại có xu hớng giảm do
tiến trình cổ phần hoá hoặc do kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến phá sản hàng loạt.

hợp tác quốc tế.
Mặt khác, khi nhà nớc thực hiện chính sách mở cửa, tham gia vào các quan
hệ kinh tế quốc tế, đã xuất hiện nhiều tổ chức nớc ngoài đầu t vào Việt Nam, hàng
năm khu vực này đóng góp một tỷ lệ lớn GDP, góp phần chuyển giao công nghệ
khoa học quản lý hiện đại, đào tạo công nhân kỹ thuật, rèn luyện phong cách lao
động công nghiệp hoá.
Hơn nữa, nớc ta với lợi thế nguồn lao động dồi dào, chịu khó, nguồn nguyên
liệu rẻ cùng với việc thực hiện chính sách, biện pháp đầu t nớc ngoài của chính phủ
trong cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế, giảm giá thuê đất chắc chắn
trong tơng lai khu vực kinh tế có đầu t vốn nớc ngoài sẽ phát triển nhanh chóng,
ngày càng nhiều dự án kinh doanh hiệu quả, tạo công ăn việc làm cho ngời lao
động, thúc đẩy phát triển kinh tế.
1.2.3. Vai trò của KTNQD trong nền kinh tế thị trờng:
Trong những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song đợc sự khuyến
khích của Đảng và nhà nớc, khu vực KTNQD đã dần khẳng định đợc vai trò, vị trí
của mình trong nền kinh tế. Với tinh thần tự chủ năng động, sáng tạo, KTNQD đã
sớm thích nghi với những biến đổi thờng xuyên của thị trờng, góp một phần không
nhỏ cho nền kinh tế quốc dân
Thứ nhất, sự phát triển của KTNQD đã tạo điều kiện khai thác tối đa nguồn
lực của đất nớc. Sau hơn 15 năm đổi mới, mặc dù đã đạt đợc nhiều thành tựu nhng
trình độ nền kinh tế nớc ta còn thấp trong khi tiềm năng phát triển của nền kinh tế
còn rất lớn. Khu vực kinh tế nhà nớc không thể khai thác và tận dụng hết đợc những
tiềm năng này. Vì vậy, cần phải phát triển KTNQD mới có thể khai thác tốt các
nguồn lực của đất nớc. Việc khuyến khích các thành phần KTNQD phát triển sẽ
huy động đợc một nguồn vốn lớn đang nằm trong dân, tạo điều kiện cho năng lực
con ngời đợc giải phóng và phát huy mạnh mẽ. Mọi cá nhân, tổ chức đều cố gắng
phát huy tối đa khả năng của mình, tìm kiếm, khai thác các nguồn lực vì lợi ích của
chính bản thân. Đó là động lực kích thích sự phát triển của lực lợng sản xuất, thúc
đẩy xã hội phát triển.
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng

môt giai đoạn nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp đã bộc lộ rõ
những mặt non kém của công tác quản lý và sử dụng lao động cho nên với chủ tr-
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ơng giảm biên chế, KTNQD là khu vực đối trọng để thu hút lao động dôi ra từ các
đơn vị, cơ quan nhà nớc và hành chính sự nghiệp.
Thứ t, sự phát triển khu vực KTNQD góp phần vào quá trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá.
Trong giai đoạn hiện nay, khi nớc ta thực hiện chính sách mở cửa, từng bớc
hội nhập với kinh tế thế giới thì các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ trở thành
cầu nối cho sự hoà nhập đó. Việt Nam sẽ xoá bỏ hàng rào thơng mại phi thuế quan
và giảm thuế nhập khẩu cho phù hợp với quy định của AFTA vào ngày 1/6/2006,
hạn chế đinh lợng và kiểm soát ngoại hối, mở rộng hơn con đờng tiếp cận của bên
ngoài vào thị trờng nội địa. Hơn nữa, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO,
chúng ta phải tuân thủ những hớng dẫn của WTO vào năm 2010 hoặc sau đó. Do
đó, nhà nớc phải tạo ra những cơ hội kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế. Việc thực hiện chính sách mở cửa tức là chấp nhận
cho các nhà đầu t nớc ngoài tiến hành đầu t, kinh doanh trong nớc và chắc chắn sẽ
thu hút đợc một nguồn vốn nớc ngoài tơng đối lớn. Để tận dụng cơ hội này nhà nớc
nên chú trọng phát triển KTNQD vì các nhà đầu t nớc ngoài chỉ tham gia vào quốc
gia có các thành phần kinh tế t nhân phát triển bởi nh vậy họ mới có cơ hội tồn tại
và phát triển.
Chính vì vậy, nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đa ra mục tiêu
đến năm 2010 nớc ta cơ bản trở thành nớc công nghiệp. Nh vậy, với vai trò của
mình trong những năm tới khu vực KTNQD sẽ đợc mở rộng và là nơi tập trung vốn,
nhân lực dồi dào đòi hỏi công nghệ thông tin đáp ứng trong các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh không cần nhiều vốn, có mức lợi nhuận cao mà nhà đầu t lớn ít quan
tâm. Đây là quan điểm của Đảng trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Thứ năm, KTNQD phát triển góp phần tăng thu ngân sách cho nhà nớc.Sản

công nghệ của khu vực KTNQD còn lạc hậu, chủ yếu vẫn là kỹ thuật công nghệ sử
dụng nhiều lao động. Theo số liệu điều tra của viện nghiên cứu kinh tế trung ơng
năm 2000 thì chỉ có 26% doanh nghiệp và 21% số công ty sử dụng công nghệ cổ
truyền, 36,5 doanh nghiệp và 61,3% công ty kết hợp cả công nghệ hiện đại và cổ
truyền. Công nghệ lạc hậu là một trong những nguyên nhân chính làm cho sản
phẩm kém sức cạnh tranh và thì phần hàng hoá bị giới hạn đó là điểm chung của
các doanh nghiệp.
- Khó khăn tiếp theo đó là tiếp cận nguồn vốn ngân hàng bởi vì các doanh
nghiệp thuộc khu vực KTNQD xuất thân từ nhiều nguồn khác nhau: nông dân, thợ
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thủ công, tầng lớp trí thức. Hơn nữa, khi kinh tế nớc ta chuyển sang kinh tế thị tr-
ờng nên những kiến thức về kinh tế, những hiểu biết về quy luật kinh doanh không
phải ai cũng nắm đợc. Điều đó, gây khó khăn cho chính ngời chủ điều hành. Họ
gặp hạn chế vớng mắc trong công tác tổ chức nhân sự, phân tích dự án, các cơ hội
đầu t. Mặt khác, các doanh nghiệp hạch toán kế toán chủ yếu bằng kinh nghiệm
bản thân cho nên chứng thực đợc năng lực kinh doanh cũng nh tình hình tài chính
của bản thân doanh nghiệp không rõ ràng.
- Bên cạnh khó khăn còn một vài hạn chế. Do các chính sách nhà nớc còn
thiếu đồng bộ, cha đầy đủ, cha có quy định rõ ràng để các doanh nghiệp có thể yên
tâm hơn khi đầu t vốn vào sản xuất kinh doanh giảm bớt rủi ro trong hoạt động. Các
văn kiện của Đảng các chủ trơng của nhà nớc và chính phủ đã nêu rõ và công nhận
vai trò quan trọng của KTNQD trong cơ chế thị trờng nhng việc cụ thể hoá thành
quy định và hớng dẫn chi tiết thi hành để tạo môi trờng thuận lợi đối với KTNQD
đến nay còn nhiều hạn chế, kìm hãm.
- Chính sách thuế còn u đãi, chiếu cố cho khu vực kinh tế nhà nớc, cha đảm
vảo công bằng, bình đẳng và sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế.
Tình trạng còn nhiều đơn vị KTNQD phải nguỵ trang núp bóng dới danh nghĩa
kinh tế nhà nớc nên thu đợc lợi nhuận cao.

- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh theo mục tiêu phát triển đất nớc.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào để tiến hành sản xuất kinh doanh thì cũng cần
phải có vốn và cũng nh vậy đối với các thành phần KTNQD ra đời và phát triển
thực hiện quá trình tái sản xuất kinh doanh và tái sản xuất mở rộng cũng cần có
một nguồn vốn đủ lớn để mua sắm tài sản cố định, tài sản lu động và các chi phí
khác. Nếu chỉ dựa vào vốn tự có thì quá ít ỏi, không đủ sức cạnh tranh và phát triển
nền kinh tế thị trờng và để phân tán rủ ro trong kinh doanh. Các thành phần
KTNQD phải huy động vốn từ bên ngoài, nguồn vốn quan trọng nhất để bổ sung
vốn cố định và vốn lu động cho các thành phần kinh tế quốc doanh đó là nguồn vốn
tín dụng từ các NHTM.
- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh với nguyên tắc cơ bản khi đi vay là ngời vay phải trả lãi
và gốc trong một thì gian nhất định, nếu quá hạn không trả đợc vốn vay thì doanh
nghiệp phải chịu tổn thất về kinh tế do phạt lãi quá hạn rất cao và sự mất lòng tin
của ngân hàng cho vay. Do đó, bắt buộc doanh nghiệp phải tính toán chi phí sản
xuất, tốc độ quay vòng vốn, làm ăn có lãi để khi hết thời hạn của vốn vay có thể đủ
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiền chi trả cả lãi và gốc và những khoản chi phí khác. Khi vay vốn ngân hàng cho
vay yêu cầu khách hàng phải thực hiện vốn vay đúng mục đích và ngân hàng sẽ
thực hiện giám sát quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thêm vào đó, để thu hồi
vốn và lãi vay, đôi khi ngân hàng còn tạo nhiều điều kiện cho doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả. Hoạt động cho vay của ngân hàng không phải là việc rải đều
vốn cho tất cả khách hàng có nhu cầu mà chủ yếu tập trung cho những khách hàng
làm ăn có hiệu quả tránh rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy, muốn tăng vốn các doanh
nghiệp không thể đi vay bừa bãi mà không chịu trách nhiệm về việc sử dụng vốn
vay. Đây là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn có hiệu
quả.

có tính chiến lợc của chính phủ. Bất cứ chính phủ nào cũng thông qua các biện
pháp khác nhau để hỗ trợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển. ở nớc ta
điều này lại càng quan trọng, vì số lợng doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất lớn.
- Phát triển KTNQD với công nghệ hiện đại thích hợp nhằm thu hút nhiều
lao động là phơng hớng chiến lợc quan trọng của quá trình CNH-HĐH. Hầu hết các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực du lịch, thơng mại, số l-
ợng các doanh tham gia các lĩnh vực sản xuất vật chất còn thấp. Các doanh nghiệp
này phần lớn chỉ lo có việc làm, tăng doanh số, bảo đảm thu nhập cho ngời lao
động, tỷ lệ tích luỹ rất thấp, khá nhiều doanh nghiệp t nhân kinh doanh theo kiểu
buôn chuyến, lỗ lãi từng phi vụ.
Nh vậy, phát triển khu vực KTNQD là phù hợp tất yếu khách quan. Do đặc
thù của KTNQD ở nớc ta xét trong hoàn cảnh chung của nền kinh tế hiện tại khu
vực kinh tế đang đứng trớc những khó khăn cần tháo gỡ và quá trình phát triển
KTNQD đã và đang bộc lộ hạn chế chủ yếu. Đó là do quá trình phát triển KTNQD
còn ngắn, đang trong giai đoạn khởi đầu nên khả năng tích luỹ vốn còn hạn chế. Tr-
ớc hết, do bản thân doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp ngân hàng trong khi mức
cho vay bị giới hạn. Hơn nữa, hầu hết các khoản vay đều là ngắn hạn với lãi suất
cao nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cho dù đợc phép vay và khó tìm nguồn
vốn trung, dài hạn. Bên cạnh đó, hiện nay cha có đủ các quy định pháp lý đảm bảo
cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận thờng xuyên, nhằm tiến tới khả năng vay vốn
từ các tổ chức tài chính từ bên ngoài một cách rộng rãi ổn định hơn.
Mặt khác, cũng do nguồn vốn hạn hẹp của các doanh nghiệp nên các doanh
nghiệp không có điều kiện đầu t đổi mới trang thiếp bị, nâng cao công nghệ sản
xuất để mở rộng năng lực sản xuất. Do đó, năng suất lao động còn thấp, chất lợng
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản phẩm cha đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng. Tuy nhiên, hiện nay vốn để đầu t
thành lập doanh nghiệp cũng nh để mở rộng phát triển sản xuất đang là một trong
những khó khăn căn bản của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam. Thực

DSCV NQD
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tỷ lệ DSCV tơng đối của DNNQD trong tổng DSCV =


DSCV
Tỷ lệ DSCV tơng đối của DNNQD càng cao càng tốt, điều đó chứng tỏ
doanh số cho vay ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số
cho vay.
DSCV
t
DSCV
t
1
Tăng trởng DSCV NQD năm sau so với năm trớc =
DSCV
t - 1
Công thức cho thấy DSCV của năm so với năm trớc tăng hay giảm bao nhiêu
phần trăm. Sự tăng giảm thể hiện khả năng mở rộng tín dụng đối với
DNNQD của năm sau đã tốt hơn so với năm trớc hay cha.
b. D nợ cho vay:
D nợ cho vay là tổng d nợ cho vay kỳ trớc với tổng doanh số cho vay kỳ này.
Mở rộng d nợ cho vay thể hiện qua công thức sau:
Tăng trởng d nợ cho vay tuyệt đối =

DNCV
t


Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Số lợng khách hàng càng cao thể hiện việc mở rộng tín dụng Ngân hàng lớn
đối với doanh nghiệp ngaòi quốc doanh càng lớn.
Số lợt khách hàng là số lần khách hàng quay lại quan hệ tín dụng với Ngân
hàng.
Đây cũng là một chỉ tiêu đánh khả năng mở rộng tín dung đối với một khách
hàng quan hệ với ngân hàng, có những chhính sách tín dụng trớc và sau khi cho vay
tốt. Khách hàng quay lại quan hệ tín dụng với Ngân hàng nhiều là do Ngân hàng
đảm bảo an toàn thuận lợi nh thời hạn cấp vốn kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, khối lợng vay đầy đủ, chính sách khuyến khích hoặc u đãi vay vốn. Từ đó
khách hàng tin tởng và muốn quay lại quan hệ tín dụng với Ngân hàng.
d. Mở rộng và đa dạng hoá loại hình DNNQD và ngành nghề kinh doanh:
Doanh ngiệp ngoài quốc doanh hoạt động đa dạng trên nhiều ngành nghề và
lĩnh vực kinh doanh. Do vậy, ngân hàng muốn mở rộng tín dụng với thành phần này
cũng cần mở rộng cho vay đối với các lĩnh vực kinh doanh, lĩnh vực thơng mại,
xuất nhập khẩu, xây dựng khu đô thị mới, công nghiệp bao bì, rợu bia... là lĩnh vực
kinh doanh đang có lợi thế nhất định trong thời gian hiện nay.
Mở rộng các ngành nghề này ngân hàng phải đa dạng hoá cho vay các loại
dự án, loại ngành nghề khác nhau. Để mở rộng đợc ngân hàng phải có khả năng
thẩm định các dự án đầu t đó.
Việc mở rộng cho vay các loại hình doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh
giúp Ngân hàng mở rộng địa bàn hoạt động nh uy tín của mình, từ đó Ngân hàng
thu hút đợc số đông khách hàng và huy động đợc nguồn vốn lớn trong hoạt động tín
dụng. Các loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng đa dạng (TNHH, CP, HTX...),
đòi hỏi ngân hàng phải có chính sách mở rộng đối với từng loại hình này.
1.2.8. Các nhân tố ảnh hởng đến việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với khu
vực KTNQD:
Trong thời điểm hiện nay, mở rộng cho vay đối với KTNQD là mục tiêu lâu

kiện cho vay ngày càng thắt chặt nên khu vực KTNQD không đủ điều kiện vay vốn.
Nh vậy nhiều chính sách của nhà nớc có thể là động lực mạnh nhng cũng có thể là
cản trở khi đa KTNQD tiếp cận với nguồn vốn tín dụng từ phía ngân hàng.
b. Nhân tố chủ quan:
Bên cạnh nhân tố khách quan thì việc mở rộng cho vay KTNQD còn chịu
ảnh hởng không nhỏ của nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng và doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, hai chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình cho vay.
- Từ phía ngân hàng.
Thứ nhất, chính sách tín dụng là nhân tố chủ quan đầu tiên ảnh hởng đến mở
rộng cho vay đối với KTNQD, hay nói cách khác ngân hàng có mở rộng cho vay
KTNQD hay không là tuỳ thuộc vào chính sách tín dụng mà ngân hàng đa ra trong
Nguyễn Thị Lan Khoa Tài chính - Ngân hàng
25

Trích đoạn Thực hiện tốt chính sách khách hàng: Hùn vốn đầu t, liên doanh liên kết với khách hàng: Kiểm tra, giám sát chặt chẽ vốn vay và quá trình trả nợ vay của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status