!"#$%&!'()(*+&","-'+./,
$"&"0"01.
234"0"015
Theo báo cáo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tư tưởng HCM được Đảng ta xác
định khái quát như sau:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là 1 hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản cách mạng VN, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và
quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
giành thắng lợi.
'0"01
6'()(*5
1.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
- Chủ nghĩa yêu nước với ý chí bất khuất, tự lực tự cường
- Tinh thần đoàn kết và ý thức dân chủ
- Dũng cảm, cần cù, thông minh, sáng tạo
- Duy trì và tồn tại trong cơ sở kinh tế, nó hiện thân vào tổ chức, văn hóa của làng xã
Chính chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam là cội nguồn, là điểm xuất phát, là động
lực lên đường cứu nước và là bộ lọc các học thuyết để HCM lựa chọn và tiếp nhận tinh hoa văn
hóa nhân loại mà đỉnh cao của nó là chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Tinh hoa văn hóa phương đông: kế thừa, phát triển tinh hoa 3 học thuyết lớn ở
phương đông
+ Nho giáo (kế thừa tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội; Xây dựng xã hội
theo thuyết chính danh, theo lễ, theo Tam cương ngũ thường; Tư tưởng tu thân.v.v )
+ Đạo phật (Kế thừa tư tưởng vị tha, yêu thương con người, chống điều ác; đề cao
quyền bình đẳng của con người và chân lý; sống gắn bó với đất nước )
+ Đạo lão (Kế thừa, phát triển tư tưởng gắn bó với thiên nhiên, hoà đồng với thiên
nhiên, thoát mọi ràng buộc danh lợi của Lão Tử)
quốc tế cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
76?@A"5
Chủ tịch Hồ Chí Minh có những phẩm chất của một thiên tài cách mạng:
- Có vốn trí tuệ siêu việt, thông minh từ nhỏ trong học tập, ứng đối thơ văn.
- Có hoài bão lớn, dám đi khắp thế giới tìm đường cứu dân, cứu nước bằng 2 bàn tay
trắng tự kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng.
- Có vốn học thức văn hoá sâu rộng Đông Tây kim cổ bởi khổ công nghiên cứu, học
tập, có thể đọc, giao tiếp thông thạo bằng nhiều thứ tiếng.
- Có tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo, giàu tính phê phán, đổi mới và cách mạng.
- Là người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại.
- Có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú, phi thường.
- Có năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực tiên tri, dự báo tương lai chính xác và kỳ
diệu.
- Có tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một
trái tim yêu nước thương dân, thương yêu những người cùng khổ nhất, sẵn sàng chịu đựng
hy sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.
2
Tóm lại, tư tưởng HCM có cội nguồn thực tiễn, lý luận phong phú và được hình thành
từ sự kết hợp giữa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân
loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác – Lênin (nhân tố khách quan) thông qua phẩm chất các
nhân với năng lực hoạt động trí tuệ và thực tiễn cao của Người (chủ quan). Vì vậy, tư tưởng
HCM vừa là sản phẩm của thời đại lịch sửa là độc lập dân tộc và CNXH và vừa phản ánh lý
tưởng, mục tiêu của thời đại là độc lập, tự do, hạnh phúc cho mọi dân tộc và con người trên
hành tinh chúng ta.
B !C"D34EF"0"01
G=#H+:"#I8:"0"01"#J/,4CK.+&+4L
"*C(&"MJ"0"01E"A0NOJP'+.Q3%RES
+=6
62345
Theo báo cáo Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, tư tưởng HCM được Đảng
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC.
6TAWV"R"RZ:6
a. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa.
Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.
Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc.
b. Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa.
Cách tiếp cận từ quyền con người.
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
>6 89:V"R[R"R(,(.8:A"0.6
Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu
nước chân chính của các dân tộc thuộc địa. Đó là sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trước
bất cứ thế lực ngoại xâm nào.
76'\:4U:+AWV"R+&+AW:AC6
a. Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau.
b. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội.
c. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp.
d. Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc
khác.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC.
6 ]"=8:3OSCXV"R6
a. Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa.
Cách mạng ở thuộc địa trước hết là lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chứ
chưa phải xóa bỏ sự tư hữu, sự bóc lột nói chung.
Yêu cầu bức thiết của nhân dân thuộc địa là độc lập dân tộc.
Mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa là mâu thuẫn dân tộc, cho nên tính chất và nhiệm vụ
hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa là giải phóng dân tộc.
b. Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc.
Mục tiêu cấp thiết của cách mạng thuộc địa là đòi quyền lợi chung cho toàn dân tộc.
Về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc.
Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc.
>6hJ0`"^(_J3OSCXV"R1T4":6
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Thắng lợi của 30 năm chiến tranh cách mạng 1945 – 1975.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ
để xây dựng và bảo vệ đất nước; nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai
cấp; chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân
tộc anh em và trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
5
>5(6 điểm): (N.V.Hùng chuẩn bị): !=+&C"U(*
N%S"#J"0"01+W3OSCXV"R6<*
&J"4#HA"/3"OJ()(*8:Yi9:8:/,/3"OJY
6U(*N%S"#J"0"01+W3OSCX
V"R6
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh: ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “tư
tưởng HCM là một hệ thống qua điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CM
VN, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể
của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa VH nhân loại”.
Trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người thì cách mạng giải phóng dân tộc là một
trong những vấn đề cơ bản và hết sức đặc sắc:
- SCXV"R(&cuộc CM do nhân dân các nước thuộc địa hoặc các nước
bị nô dịch tiến hành, nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, khôi phục độc lập dân
tộc và chủ quyền quốc gia, xây dựng chính quyền, xây dựng nhà nước thuộc về lực lượng
dân tộc.
- Mục tiêu cơ bản và chủ yếu của CM giải phóng dân tộc là lật đổ ách áp bức, nô dịch
của chủ nghĩa thực dân, đề quốc, giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia.
- Tính chất của CM GPDT: là cuộc đấu tranh giữa những người bị áp bức chống kẻ
+ Đây là 1 luận điểm sáng tạo của HCM, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn với
phong trào CM TG và là sự bổ sung kịp thời vào kho tàng lý luận của CN Mác – Lênin.
Thực tiễn cách mạng CM VN và CM thế giới ở thế kỷ 20 đã kiểm nghiệm và chứng minh
luận điểm của HCM hoàn toàn đúng đắn.
1.5. Về phương pháp CM GPDT
- HCM khẳng định CM giải phóng dân tộc phải tiến hành bằng phương pháp bạo lực
cách mạng kết hợp đấu tranh chính trị, từ khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa
giành thắng lợi hoàn toàn.
- HCM đặc biệt chú ý đến các yếu tố Thế - Lực – Thời trong CM GPDT. Kết hợp giữa
đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao.
>6h3"OJ()(*8:+W?j
Trên cơ sở nhận thức lý luận CN Mác – Lênin và điều kiện lịch sử VN, từ những tri
thức , kinh nghiệm rút ra từ quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, HCM có sự
sáng tạo:
Một là, CM VN là 1 bộ phận của CM TG, trong thời đại mới phải đi theo quỹ đạo của
CM vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”; Đó là con đường: “Làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chỉ có như thế, cách mạng mới
đem lại quyền lợi, hạnh phúc cho đại đa số nhân dân (tính triệt để CM).
Hai là, CM giải phóng dân tộc có thể nổ ra và giành thắng lợi trước CM vô sản ở
chính quốc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho CM vô sản ở chính quốc giành thắng lợi.
Ba là, vấn đề xây dựng 1 chính đảng mác xít (Đảng cộng sản) ở 1 nước thuộc địa nửa
phong kiến. Trong điều kiện giai cấp công nhân ra đời muộn, vừa yếu lạ vừa thiếu, yếu về
trình độ nhận thức chính trị, ý thức giai cấp; thiếu về lực lượng, việc chuẩn bị tư tưởng,
chính trị, tổ chức cho sự ra đời của ĐCSVN; việc truyền bá lý luận của CN Mác, sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa CN Mác – Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thành
lập ĐCSVN là 1 sáng tạo to lớn và quan trọng của HCM.
Bốn là, về vấn đề xây dựng lực lượng CM. Trong CM vô sản nói chung, CM giải
phóng dân tộc nói riêng, các nhà CM kinh điển chỉ coi trọng lực lượng công – nông. Đối với
HCM, quan điểm của Người khẳng định CM là sự nghiệp của toàn dân. Do đó, phải vận
không áp dụng giáo điều.
+Về phương pháp: Học tập phương pháp: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, linh hoạt, sáng
tạo.
- Cụ thể, trong tình hình mới, để giữ gìn độc lập, tự chủ của đất nước:
+Về đường lối CM: Kiên trì ĐLDT gắn liền với CNXH.
+ Tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
+ Về lực lượng: Chú trọng XD khối đoàn kết DT, đoàn kết QT trong bối cảnh hội
nhập, toàn cầu hóa; phát huy mọi nguồn lực (trong nước, quốc tế) phục vụ cho sự nghiệp
CM.
70"01+W89:k R+&k!V,8
9:k R1T4":
3.1. Đồng chí hãy trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
0"01+Wl
1. Phương thức tiếp cận của HCM về tính tất yếu của CNXH ở VN
8
CNXH là con đường phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người. Vận dụng và quán
triệt quan điểm duy vật về lịch sử của học thuyết mác-xít, HCM quan niệm lịch sử xã hội
loài người là 1 quá trình tự nhiên của sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất.
Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người không
phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất,
việc làm cho mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc.
Theo HCM, logic phát triển XH cho thấy đã đến lúc CNTB mở đường cho sự ra đời 1
chế độ XH mới, chế độ XHCN. Tiến lên CNXH là quy luật vận động khách quan của lịch
sử trên phạm vi toàn thế giới. Kết luận này của HCM hoàn toàn tuân thủ các nguyên lý phổ
biến của học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh tế - xã hội.
HCM am hiểu 1 cách tường tận và chi tiết truyền thống tư tưởng, văn hóa phương
Đông, phương thức sản xuất châu Á, đặc biệt là sự tàn bạo, lỗi thời của CNTB mà hình thức
xấu xa, tồi tệ nhất của nó là chủ nghĩa thực dân.
CNXH ra đời chính từ sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản. Xã hội thuộc địa phong kiến
Lênin, nghĩa là trên những mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội. Còn về cụ thể, chúng
ta thấy HCM nhấn mạnh chủ yếu trên những điểm sau đây:
- Đó là 1 chế độ chính trị do nhân dân làm chủ. CNXH có chế độ chính trị dân chủ,
nhân dân lao động là chủ và nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân và vì
dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công – nông – lao động
trí óc, do Đảng cộng sản lãnh đạo.
- CNXH là 1 chế độ XH có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của
khoa học - kỹ thuật. Đó là XH có 1 nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở năng suất lao động
XH co, sức sản xuất luôn luôn phát triển với nên tảng phát triển khoa học – kỹ thuật, ứng
dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học – kỹ thuật của nhân loại.
- CNXH là chế độ không còn người bóc lột người. Đây là 1 vấn đề được hiểu như là 1
chế độ hoàn chỉnh, đạt đến độ chín muồi. Trong CNXH không còn bóc lột, áp bức bất công,
thực hiện chế độ sở hữu XH về TLSX và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Đó
là 1 XH được xây dựng trên nguyên tắc công bằng, hợp lý.
- CNXH là 1 XH phát triển cao về văn hóa, đạo đức. Đó là 1 XH có hệ thống quan hệ
XH lành mạnh, công bằng, bình đẳng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự
đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con người
được giải phóng, có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong phát triển của xã hội
và tự nhiên.
3. Quan niệm HCM về mục tiêu và động lực của CNXH
- Mục tiêu của CNXH: Ở HCM mục tiêu chung của CNXH và mục tiêu phấn đấu của
Người là 1, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bao ta ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Mục đích của CNXH là gì? Nói 1 cách đơn giản và dễ hiểu là không ngừng nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
HCM đã xác định các mục tiêu cụ thể của CNXH trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội:
Mục tiêu chính trị: theo tư tưởng HCM, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chế độ
chính trị phải là do nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân.
dân tộc với sức mạnh quốc tế tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng thành công CNXH
trên cơ sở bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của VN, không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau, chung sống hòa bình và phát triển.
0"01+Wk!V,A"0."#J"`Dm\3R(=l1T
1. Quan niệm của HCM về thời kỳ quá độ và đặc điểm xây dựng CNXH ở nước ta
- Quan niệm về thời kỳ quá độ: Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không
ngừng, về thời kỳ quá độ lên CNXH của chủ nghĩa Mác – Leenin và xuất phát từ đặc điểm
tình hình thực tế VN, HCM đã khẳng định con đường CM VN là tiến hành giải phóng dân
tộc, hoàn thành CM dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH.
- Đặc điểm của thời kỳ quá độ: Đặc điểm lớn nhất là từ 1 nước nông nghiệp lạc hậu
tiến lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN, đặc điểm này chi phối các
đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống XH và làm cơ sở nẩy sinh
nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát
triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - XH quá thấp kém của
nước ta.
- Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên CNXH:
Xây dựng nền tảng vật chất – kỹ thuật cho CNXH, xây dựng các tiền đề về kinh tế,
chính trị, văn hóa, tư tưởng cho CNXH.
Cải tạo XH cũ, xây dựng XH mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy xây dựng
làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, lâu dài.
HCM nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên CNXH. Tính
chất phức tạp và khó khăn của nó được HCM lý giải trên 3 điểm.
2. Quan điểm HCM về nội dung xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ
- Trong lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai
trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực
11
lãnh đạo và sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ
mới.
- Nội dung kinh tế được HCM đề cập trên các mặt lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất lao động trên cơ sở
>6h,"40"01+WR(*CV"R^(W+.89:
k R5
a. Thời kỳ 1930-1945:
12
- Tính chất của cách mạng: giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
Gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và nhân dân lao động.
- Phương hướng và 2 giai đoạn phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
- Đối tượng: đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai, tầng lớp tư sản mại bản và địa
chủ phản động chống lại độc lập dân tộc.
- Lực lượng cách mạng: toàn dân, nòng cốt là liên minh công-nông do giai cấp công
nhân lãnh đạo.
- Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
b. Thời kỳ 1945-1954: Hồ Chí Minh và Đảng ta hoàn thiện lý luận cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân: bảo vệ độc lập, chuẩn bị kháng chiến kiến quốc.
c. Thời kỳ 1954-1975: Thể hiện tập trung cao độ nhất tư tưởng sáng tạo tuyệt vời của
Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thông qua việc xây dựng và
chỉ đạo đường lối cách mạng hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam, thống nhất đất nước, đưa tổ quốc lên chủ
nghĩa xã hội.
d. Những điều kiện để đảm bảo cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:
- Phải xác định rõ và tăng cường vai trò lãnh đạo của đảng, sức chiến đấu của đảng
trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng.
- Xây dựng và phát huy vau trò nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Củng cố và tăng cường khối liên minh giai cấp công - nông - trí thức trên nền tảng
của Khối đại đoàn kết dân tộc.
- Tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với các nước trong khu vực và trên
thế giới vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
76T*V]"#J:JO4:!5
các chủ trương, đường lối của Đảng, ở đó Đảng giới thiệu, cử đảng viên của mình tham gia
giữ các chức vụ lãnh đạo của Nhà nước và các tổ chức. Sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
luôn thống nhất vì sự phát triển thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
>6S( OJ"a\:a"33%R6
Hồ Chí Minh từng nói, cán bộ là dây chuyền của bộ máy nối Đảng, Chính phủ với
nhân dân, nối nhân dân với Đảng, Chính phủ. Nhiệm vụ của cán bộ là đem đường lối của
Đảng và Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu để thi hành, đồng thời lãnh đạo, tổ chức
việc thực hiện cho tốt. Người cho rằng: “cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành
công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì vậy, “cán bộ là cái gốc của mọi công
việc và huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.
- Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng cử cán bộ, đảng viên vào các cơ quan Nhà
nước, các đoàn thể. Vì vậy, công tác cán bộ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong tư tưởng
HCM, huấn luyện cán bộ, lựa chọn cán bộ và chính sách cán bộ được Người nhận định là
các nội dung quan trọng cần đặc biệt lưu tâm. Người yêu cầu phải hiểu biết cán bộ để phân
công công việc cho phù hợp; phải khéo dùng cán bộ; phải “có gan” cân nhắc cán bộ; phải
thương yêu cán bộ; phải khéo phê bình cán bộ.
76( OJ"a\:/,"=CJE0No8:3%RES+=5
- Thực tiễn cách mạng VN từ ngày có Đảng cho thấy đa số những người cộng sản,
những cán bộ của Đảng luôn là những người tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Tính tiên phong, gương mẫu không chỉ tác dụng nêu gương cho nhân dân mà còn
có tác dụng rất to lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhất là trong điều kiện Đảng
cầm quyền.
- Người thường xuyên nhắc nhở: cán bộ, đảng viên phải lo trước thiên hạ, vui sau
thiên hạ. HCM cho rằng vai trò lãnh đạo, hướng dẫn quần chúng nhân dân phụ thuộc rất
14
nhiều vào tính mực thước, gương mẫu của CBĐV. Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi
trước để cho làng nước theo sau.
6S( OJ%fa"3D"#:5
- Kiểm tra là một nội dung trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Công tác kiểm tra
luôn là một nhân tố quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối. Người viết: “Khi đã
- Thứ hai, đảng cộng sản cầm quyền có ý nghĩa quan trọng, sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng là nhân tố quyết định đưa cách mạng tới thắng lợi. Trở thành đảng cầm quyền nghĩa là
dưới sự lãnh đạo của đảng, cách mạng bước sang thời kỳ mới với nhiều nhiệm vụ nặng nề
và rất khó khăn, đặt ra yêu cầu vai trò lãnh đạo của đảng phải toàn diện, tỉ mỉ.
- Thứ ba, phương thức lãnh đạo của đảng cộng sản cầm quyền đã được Hồ Chí Minh
nhận định là căn nguyên thắng lợi hay thất bại của việc thực hiện chủ trương, đường lối.
Đảng lãnh đạo cách mạng thông qua 4 phương thức sau đây:
15
+ Đảng lãnh đạo bằng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn: Quyền lực của
đảng cầm quyền là quyền lực chính trị, đảng lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương và những
định hướng lớn, tổ chức thực hiện thông qua Nhà nước và các tổ chức quần chúng, không
bao biện, làm thay. Để làm được điều này, ngoài việc thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin,
đảng còn phải có tinh thần khoa học và cách mạng rất cao, phải hiểu rõ lịch sử xã hội.
+ Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra: như Lênin đã nói, nếu không làm tốt công tác
kiểm tra thì nghị quyết và mệnh lệnh của đảng “sẽ chỉ là mớ giấy lộn”. Theo Hồ Chí Minh,
kiểm tra là nhằm thúc đẩy các tổ chức đảng, các cơ sở đảng và cán bộ đảng viên phát huy
ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Theo Bác, chín phần mười khuyết điểm trong công việc của
chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra, đồng thời nếu tổ chức kiểm tra được chu đáo thì công việc
của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm.
+ Đảng lãnh đạo thông qua công tác cán bộ: Trong điều kiện đảng cầm quyền, đảng cử
cán bộ, đảng viên vào các cơ quan nhà nước, các đoàn thể, vì vậy công tác cán bộ có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Theo Bác, cán bộ là dây truyền của bộ máy, nối Đảng, Chính phủ
với nhân dân và ngược lại.
+ Đảng lãnh đạo thông qua vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên: Theo
Bác, tiên phong, gương mẫu là một trong những yêu cầu, tiêu chuẩn của người đảng viên và
thể hiện tinh thần tự nguyện hy sinh phấn đấu vì lý tưởng đảng. Là người đảng viên phải
thực hiện phương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” và phải biết “lo trước thiên
hạ và vui sau thiên hạ”.
>6RV"0"01+Wk!V,hc\!W5
* Ý nghĩa và tầm quan trọng xây dựng đảng cầm quyền vững mạnh: Thấm nhuần tư
vững mạnh thì đoàn kết nhất trí phải đúng Điều lệ, kỷ luật Đảng; phải gắn với phê bình và
tự phê bình, không xuôi chiều, thủ tiêu đấu tranh.
(3) Về tư cách đảng viên và vấn đề cán bộ: Rèn luyện đội ngũ đảng viên là vấn đề cực
kỳ quan trọng mà Hồ Chí Minh rất quan tâm. Trước hết cần phải thường xuyên lựa chọn
những người ưu tú kết nạp vào Đảng để phát triển đội ngũ. Đồng thời, phải chú trọng công
tác rèn luyện đảng viên theo đúng các yêu cầu được quy định trong Điều lệ Đảng, tức là bảo
đảm “tính Đảng”. Hồ Chí Minh đưa ra những yêu cầu một cách cụ thể đối với cán bộ - phải
vừa “hồng” vừa “chuyên”. Tức là phải có cả phẩm chất chính trị, có đạo đức cách mạng và
năng lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.
(4) Giữ vững và tăng cường mối quan hệ gắn bó Đảng với nhân dân: Thấm nhuần tư
tưởng “lấy dân làm gốc”, Bác khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Chính vì
vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng nhất định sẽ thất bại. Cán bộ
đảng viên phải học dân, hỏi dân, bàn bạc với dân nhưng không được theo đuổi quần chúng.
Sự lãnh đạo của Đảng phải bảo đảm mọi công tác của Đảng phải từ trong quần chúng ra và
phải trở lại với quần chúng. Nghĩa là, việc xác định đường lối, chính sách phải căn cứ vào
thực tiễn, phải nhằm phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân. Ngược lại, để người dân thực
hiện tố đường lối, chủ trương của Đảng, cán bộ đảng viên phải khéo léo tuyên truyền, vận
động, không được cưỡng ép.
76MJE+4",4(*&JX)9:AC"d"A""#J
a"3k!V,S4:!5
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
chúng ta thấy rằng việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong thời kỳ mới của cách
mạng Việt Nam là yêu cầu khách quan. Đảng ta cần phải nâng cao năng lực và sức chiến
đầu của đảng cầm quyền trong thời kỳ mới của cách mạng nước ta. Đây là công việc đã
được Đảng rất quan tâm, đặc biệt là trong thời gian gần đây. Đảng đã có nhiều nghị quyết
(như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII,
Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX, X), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)) đặt công tác
xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc rất quan trọng, thực hiện toàn diện từ chính trị, tư tưởng
và tổ chức tốt công tác cán bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn
66>6q:48:+W+:"#IJ0`5
Giải phóng dân tộc
Giải phóng xã hội
Giải phóng con người
6>6q:8:+Wk!V,J0`5
6>66q:8:+W/,c"d"k!V,J0`5
Vì lợi ích 10 năm phải trồng cây, 100 năm phải trồng người
Muốn xây dựng XHCN thì phải có những con người XHCN
6>66q:8:+WRVk!V,J0`5
Xây dựng con người vừa hồng vừa chuyên
+ Có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng ”mình vì mọi người, mọi
người vì mình”
+ Cần kiệm xây dựng đất nước, hăng hái bảo vệ tổ quốc
+ Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế trong sáng.
+ Có phương pháp làm việc khoa học, phong cách quần chúng, đan chủ, nêu gương
18
Nâng cao đạo đức cách mạng, quyets sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng năng lực trí
tuệ, trình độ lý luận chính trị, văn hóa. KHKT, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, sức khỏe.
6>6>6q:8:+WC0NC3Ck!V,J0`5
+ Mỗi người tự rèn luyện mình
+ Chú trọng vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng.
+ Thông qua các phong trào cách mạng như Thi đua yêu nước, người tốt việc tốt
+ Đặc biệt dựa vào quần chúng theo quan điểm ” dựa vào ý kiến của dân chúng mà
sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”
r60"01+W+eX:
>66&+eX:D4"kA"T4":
>6>6q:8:R"/'&JO"R"#Zk R+W'd8:&
+eX:D4"kA"
>676q:8:+W+eX:
>676q:48:+W+eX:
XHCN và có tính dân tộc
b;B5pZ !C"URVN%S8:"0"01
+WOJP6i9:8:+4#s(!4OJP3OJ3%RES
+="#J:JO4:!Y
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của
Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương
sáng ngời về đạo đức. Người để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyên về đạo đức.
Ngay trong tác phẩm lý luận đầu tiên Người viết để huấn luyện những người yêu nước Việt
Nam trẻ tuổi, cuốn Đường Kách mệnh, vấn đề đầu tiên Người đề cập là tư cách người cách
mệnh. Tác phẩm sau cùng bàn sâu về vấn đề đạo đức được Người viết nhân dịp kỷ niệm 39
năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), đăng trên báo Nhân dân là bài Nâng cao đạo đức cách
mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong Di chúc thiêng liêng, khi nói về Đảng, Bác cũng
căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng
viên.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam
đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận
dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là sự
tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương
Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy
gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện
về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ
bản; những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi
người cách mạng.
?c"X"^"3)+WOJP5
6TW+Z"#E+:"#I8:OJP"#Jk R+&"#J`/'8:Q0`
- Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Người cách mạng
phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ
vang”
nhân dân ta.
Liên hệ tại thực tiễn của các bạn….
Do vậy các cán bộ, đảng viên phải thực hiện các chuẩn mực đạo đức sau:
Một là, sống có lý tưởng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng phụng sự
nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hai là, chấp hành nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước, cơ quan, đơn vị và hoàn
thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Ba là, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân, giữ
gìn đoàn kết, thân ái.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh với những hành vi suy thoái về đạo đức; xây dựng lối sống,
trung thực, trong sáng, giản dị, khiêm tốn.
21
Năm là, tích cực trau dồi đạo đức nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm
của người cán bộ, công chức, viên chức.
?c"#$%&!V&VI8)0/:5
6TW+Z"#E+:"#I8:OJP"#Jk R+&"#J`/'8:Q0`
- Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Trong
tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “tư cách một người cách
mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ:
với mình, với người và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã
hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc
đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa.
Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ
cách mạng vẻ vang”.
- Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người,
như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn
mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân”.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử
- Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất
nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu". Nước là của dân, dân là chủ đất
nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của
dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”
- Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy
tớ trung thành của dân”.
- Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng. Người
dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, và
hơn nữa, phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.
- Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm
gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí,
làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về
mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.
b. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình
Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống
nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo
cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu
thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.
- Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu với đại đa số nhân
dân, những người lao động bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc
lột. Yêu thương con người phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết
để phấn đấu cho đạt được mục tiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
- Thương yêu con người phải tin vào con người. Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với
người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm
đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm.
- Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn. Vì vậy,
phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu
điểm để không ngừng tiến bộ.
- Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.
“lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn "chí công, vô tư" phải chiến thắng được chủ nghĩa
cá nhân.
Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người "giữ cán cân công lý", không được vì lòng
riêng mà chà đạp lên pháp luật.
- Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư. Cần, kiệm,
liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân,
vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.
d. Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo
đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam
nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi
lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong
các điểm sau:
- Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con
người khỏi ách áp bức, bóc lột.
- Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, “bốn
phương vô sản đều là anh em”.
24
- Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.
- Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ
dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ,
hẹp hòi, kỳ thị dân tộc
76U!="^k!V,OJP.
Hồ Chí Minh nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính
Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân
dân cùng thực hiện. Đó là:
a. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức
- Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm.
- Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với
25