Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang Nhật Bản. Thực trạng và giải pháp - Pdf 25

Đề cương:
Tên: Nguyễn Thị Hằng
Mã sv: CQ500830
Lớp : quảng trị kinh doanh thương mại 50A
Giáo viên hướng dẫn: th.s Đinh Lê Hải Hà
Tên đề tài: Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang Nhật Bản.
Thực trạng và giải pháp
Lời mở đầu
1. Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề
tài.
Với kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh trong những năm gần đây, đồ gỗ đã khẳng định vị trí
tương đối vững chắc trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của nước ta và được xếp vào một trong
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2006 – 2010. Việt Nam vượt Indonesia và Thái
Lan trở thành một trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á.
- Nhật Bản là trong những thị trường nhập khẩu lớn các sản phẩm gỗ của nước ta nhưng tổng
kim ngạch xuất khẩu thì vẫn chưa cao và chưa xứng với tiềm năng trong nước. Bên cạnh đó,
việc đẩy mạnh xuất khẩu sản
phẩm
gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản còn gặp
nhiều khó khăn về thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất,
thiếu
vốn, năng lực chế biến của
doanh nghiệp còn yếu… cộng với thách thức về cạnh tranh rất gây gắt trong
việc
giành thị
trường với các doanh nghiệp cùng ngành của Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan….
Do đó, việc đưa ra những chiến lược và giải pháp để khắc phục
khó
khăn, hướng tới việc
đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong lúc này


- Nghiên cứu kinh nghiệm xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường Nhật Bản của
các doanh
nghiệp
Trung Quốc,từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm áp dụng vào
điều
kiện thực tiễn cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam khi
xuất sản phẩm đồ gỗ vào
Nhật

Bản.
3. Phương pháp nghiên
cứu:
Thu thập số liệu sơ cấp, thứ
cấp,
tham khảo tài liệu tại các trang web, lấy số liệu
từ các Niên giám Thống kê, các tạp chí chuyên ngành đồ gỗ, sách,
báo

4. Đối tượng và phạm vi của đề
tài
- Đối tượng nghiên cứu: Gỗ và các sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam trên thị
trường
Nhật
Bản.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được được nghiên cứu dựa trên tình hình xuất
nhập
khẩu của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam sang
thị
trường Nhật Bản từ năm 2001 đến
nay.

khi đó đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ có hệ thống các thiết bị khá lạc
hậu không đáp ứng được yêu cầu của các đơn hàng lớn hay các thị trường yêu cầu chất
lượng cao.
Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất nhanh trong những năm gần
đây, vươn lên là một trong 7 mặt hàng đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng gỗc chế biến lớn
nhất ở khu vực Đông Nam Á. Hiện cả nước có khoảng 2000 doanh nghiệp chế biến gỗ với
năng lực chế biến 2.2-2.5 triệu met khối gỗ tròn mỗi năm, trong đó có 450 công ty chuyên
sản xuất khẩu
1.1.2.2 Thị trường
Thị trường xuất khẩu của đồ gỗ Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong những
năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như Đài Loan, Hàn Quốc,
Singapore…để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay đã xuất khẩu trực tiếp sang các
thị trường của người tiêu dùng. Hiện tại các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt ở 120
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với các chủng loại sản phẩm đa dạng, từ hàng trang
trí nội thất trong nhà, ngoài trời … đến các mặt hàng dăm gỗ. Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên
tục tăng .
Trong những năm tới việc duy trì đà phát triển các thị trường truyền thống (cả thị trường
trung chuyển lẫn thị trường người tiêu dùng trực tiếp) để thông qua đó uy tín và chất lượng
của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp cận nhanh hơn tới người tiêu dùng ngành gỗ Việt
Nam sẽ tập trung phát triển một số thị trường mục tiêu, có nền kinh tế ổn định, thương mại
hoà thiện, hệ thống phân phối rộng khắp và năng động như :EU, Mỹ, Nhật Bản, Liên Bang
Nga .
1.1.2.3 Các sản phẩm xuất khẩu
Sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam từ chỗ chỉ là sản phẩm gỗ thô (gỗ tròn, gỗ xẻ) đã
phát triển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tẩm ,sấy, trang trí bề mặt…
xuất khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị gia tăng về công nghệ và lao động.
Có thể chia các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam thành 4 nhóm chính:
Nhóm một, nhóm sản phẩm đồ mộc ngoài trời bao gồm các loại bàn ghế vườn, ghế băng,
ghế xích đu…làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp các vật liệu khác như sắc, nhôm, nhựa…
Nhóm thứ hai, nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bàn, ghế, tủ, giường,

Việt Nam.
Nhằm chủ động chuẩn bị nguồn gỗ, bên cạnh việc trồng rừng, Việt Nam cũng đang tích cực
phát triển các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, đóng một vai trò quan trọng cho ngành chế
biến gỗ xuất khẩu: Nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m3 sản phẩm/năm, MDF
Sơn La với công suất 15.000 m3 sản phẩm/năm, MDF Bình Thuận với công suất 10.000 m3
sản phẩm/năm, Nhà máy Ván dăm Thái Nguyên với 16.500m3 sản phẩm/năm, Thái Hòa
(Nghệ An) 15.000m3 và Hoành Bồ (Quảng Ninh) 3.000m3/năm.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có khu rừng nào có chứng chỉ rừng (FSC), trong khi đó nhu cầu
sử dụng các sản phẩm có chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ ngày càng cao ở hầu hết các thị
trường lớn.
Bảng 1.1.2.5: Kim ngạch nhập khẩu gỗ của Viêt Nam từ các thị trường/khu vực
Nước khu vực Năm
2000
Năm
2001
Năm 2002 Năm
2003
Campuchia
Indonesia
Lào
Malaysia
Thái Lan
Singapore
Đài Loan
Niu-ze-land
Mỹ
Các nước khác
11.698
20.431
36.024
17.3000
Tổng cộng 151.582 161.312 149.687 250.000
Nguồn: Tổng cục thống kê
1.1.3. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam và thị trường xuất khẩu.
Bảng 1.1.3.1 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cua
ngành.
Năm
Kim ngạch xuất
khẩu của cả
nước(tỷ USD)
Kim ngach xuất khẩu sản phẩm gỗ
Gía trị(tỷ USD) Tỷ trọng(%)
2003 20.179 0.567 2.81
2004 26.003 1.054 4.05
2005 32.230 1.457 4.52
2006 39.600 1.930 4.87
2007 48.380 2.400 4.96
2008 63.000 2.800 4.44
Tổng 229.392 10.208 21.65
- Với số liệu thống kê trên cho thấy được tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu khá cao. Năm
2004, với kết quả kim ngạch XK đạt 26 tỷ USD, xuất khẩu Việt Nam được đánh giá là có
mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 8 năm qua. Đạt được kết quả như vậy trước hết là do
sản lượng xuất khẩu và giá trị hàng hoá XK đều được nâng lên.

Bảng 1.1.3.2:kim ngạch xuất khẩu sản phẩm trên các thị trường lớn.
Thị trường
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
2003 2004 2005 2006 2007 2008

2,1%. Mặc dù có những giai đoạn nền kinh tế Nhật Bản rơi vào giai đoạn khó khăn nhưng
nền kinh tế Nhật vẫn đứng vững và khôi phục trở lại, gần đây nhất là chính sách hồi phục
kinh tế sau trận động đất mạnh hôm 11/3/1011. Những mặt hàng xuất khẩu của VN sang
Nhật Bản cũng có được cơ hội mới mở theo sự tăng mạnh theo tiến trình phục hồi kinh tế
và tái thiết nói chung ở Nhật Bản. Do đặc điểm về địa lý, Nhật Bản là một trong số những
nước rất hiếm về tài nguyên thiên nhiên, ngoại trừ nguồn hải sản, do đó hầu hết các sản
phẩm gia dụng, trang trí nội, ngoại thất đều phải nhập khẩu.
Xu hướng tiêu dùng và sính đồ ngoại của người Nhật Bản ngày càng gia tăng và sức tiêu
thụ của thị trường này rất lớn, vào khoảng 3.000 tỷ Yên, bao gồm cả hàng gia dụng, trong
đó đồ gỗ nhập khẩu chiếm 37% thị phần tại thị trường Nhật. Nhật Bản là thị trường tiêu thụ
sản phẩm gỗ lớn trên thế giới. Đặc biệt trong xã hội công nghiệp với mức độ rất cao như
hiện nay, người Nhật Bản ngày càng có nhu cầu sử dụng đồ vật bằng chất liệu gỗ thay thế
các vật liệu sắt, nhôm… Nhập khẩu các mặt hàng đồ gỗ nội thất có xu hướng tăng trưởng
khá nhanh ở Nhật còn do quá trình chuyển sản xuất các đồ gỗ giá rẻ sang các khu vực
Đông Nam Á là nơi có nhân công rẻ, nguồn nguyên liệu rồi dào, chi phí nhập khẩu thấp và
đặc biệt là nỗ lực của các nhà nhập khẩu Nhật Bản giảm chi phí trong khâu phân phối đã
cho phép giảm giá bán đồ gỗ nhập khẩu.
Nhập khẩu đồ gỗ nội thất của Nhật Bản
Đơn vị: Tấn, triệu yên
1999 2000 2001 2002
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
383.486 134.862 506.532 161.680 586.071 186.574 626.435 185.720
Nguồn: Hải quan Nhật Bản
1.2.2. Đặc điểm người tiêu dùng và nguyên tắc khi thâm nhập thị trường Nhật Bản
1. Một số đặc điểm về nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản
Bàn và ghế gỗ bắt đầu được sử dụng trong các gi đình Nhật Bản từ những năm 1955-1960.
Theo báo cáo của cục Kế hoạch Kinh tế Nhật Bản về xu hướng tiêu thụ đồ gỗ trong gia đình,
năm 1961 gàn ghế được sử dụng trong 6,2% gia đình Nhật, trong khi bàn ghế phòng khách
được sử dụng là 12% gia đình Nhật; năm 1992, 69,7% gia đình Nhật có bàn ghế ăn; năm 1995,
36,6% gia đình Nhật có bàn ghế trong phòng khách. Tỷ lệ này không thay đổi trong những năm

những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất quan trọng để đưa hàng của bạn tới người tiêu dùng.
Tuy vậy, người Nhật lại thường chỉ mua sản phẩm với số lượng ít vì không gian chỗ ở của họ
tương đối nhỏ và còn để tiện thay đổi cho phù hợp mẫu mã mới. Thường người Nhật giờ đây có
sở thích rất đa dạng. Họ thích các kiểu đồ gỗ mở tức là người sử dụng có thể tùy chọn bọc da
hay bọc vải, có nêm hay không có nệm, kích cỡ có thể thay đổi to hay nhỏ… để phù hợp với sở
thích cá nhân của mình. Vì vậy các lô hàng nhập khẩu hiện nay quy mô có xu hướng nhỏ hơn
nhưng chủng loại lại phải phong phú hơn.
Xu hướng về nhu cầu: Các doanh nghiệp cần lưu ý tới yếu tố ảnh hưởng tới thị trường đồ gỗ
nhập khẩu Nhật Bản để có chiến lược phát triển phù hợp. Đó là:
1. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế làm cắt giảm cả chi phí trong xây dựng của cả
khu vực nhà nước và tư nhân dẫn đến xu hướng giảm xây dựng.
2. Tỷ lệ sinh giảm,dân số già hóa.
3. Nhu cầu đồ gõ dùng cho đám cưới giảm do xu hướng sống độc thân tăng và độ tuổi kết
hôn muộn.
4. Khuynh hướng tiêu dùng sản phẩm cao cấp giảm, giá sản phẩm cao cấp giảm đặc biệt là
giá các sản phẩm dùng trong gia đình. Khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm chất lượng vừa,
giá rẻ tăng.
5. Thị hiếu đối với các mẫu mã theo phong cách Châu âu tăng.
Sinh thái: Gần đây, mối quan tâm đến các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng cao đã nâng
cao ý thức sinh thái bảo vệ moi trường của người tiêu dùng. Các sản phẩm đồ gỗ tái sinh cũng
như đồ gỗ có nguồn gốc xuất xứ đang chiếm được thị phần lớn tại Nhật. Nên cung cấp thông tin
về các chất liệu hóa chất xử lý gỗ để tăng độ tin cậy an tâm của khách hàng khi giao dịch.
1.2.3.Đặc điểm hoạt động thị trường gỗ ở Nhật Bản
1.2.3.1.Đặc điểm sản xuất gỗ và các sản phẩm gỗ tại Nhật Bản
Với diện tích rừng khoảng 70%, Nhật Bản là một trong các nước rừng của thế giới lớn nhất,
một đất nước có tự nhiên phong phú, nhiều loại cây cối như như anh đào, hạt dẻ, phong, quả óc
chó, cây sồi và cây lá kim như cây bách Nhật Bản, tuyết tùng, và gỗ thông.
Trong khi đóNhật Bản chỉ có khoảng 20% trong tỷ lệ tự cung tự cấp của gỗ và rừng nhiều hơn
và nhiều hơn nữa đang bị bỏ lại bị bỏ rơi bị tàn phá.Tỷ lệ tự cung tự cấp của Nhật Bản cung
cấp gỗ (gỗ công nghiệp) và các sản phẩm gỗ nội thất là 18,5% vào năm 2003. Giá trị này tăng

cầu của “Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa” và “Luật an toàn sản phẩm”.
Mã số HS Hàng hóa Các quy định liên quan
9403
9403
9403
9403
9403
9403
9403
9403
Bàn và ghế
Ghế, Sofa
tủ
Giường hai tầng
Tủ bếp
Tủ trẻ em
Cũi trẻ em
Ghế trẻ em
Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa
Luạt vè nhãn hiệu chất lượng hàng hóa
Luạt về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa
Luật an toàn sản phẩm
Luật an toàn sản phẩm
Luật an toàn sản phẩm
Luật an toàn sản phẩm
Luật an toàn sản phẩm
Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa yêu cầu nhà nhập khẩu phải đảm bảo nhãn hiệu của sản
phẩm (như bàn, ghế, chạn, bát…) phải có đầy đủ các thông tin cho người tiêu dùng. Chẳng hạn
mẫu nhãn hiẹu hàng hóa cho mặt hàng ghế tựa như sau:
Kích thước

Ngành công nghiệp đồ gỗ của Trung quốc đang phát triển cực kì nhanh chóng.Năm
1978 giá trụ xuất khẩu chỉ có 157 triệu USD thì đến năm 2000 nó đạt tới 12 tỷ. Trung
quốc xuất khẩu chủ yếu sang các nước như Mỹ. Nhật Bản và ccs nước Châu Á khác. Xu
hướng xuất khẩu tăng mạnh do một sự tăng trương vượt bậc về sản xuất gỗ nội thất. Các
nhà sản xuất Trung quốc đã rất thành công khi thâm nhập được vào một thị trường có
giá trị cao như Nhật Bản. Trung Quốc có rất nhiều các cơ sở sản xuất gỗ với công nghệ
hiện đại, các mặt hàng nội thất đồ gỗ của trung Quốc rất da chủng loại và đạt được tiêu
chuẩn của các nước Nhập khẩu. đồ gỗ Trung quốc .Quy mô sản xuất các sản phẩm gỗ là
rất lớn. Các sản phẩm gỗ của Trung Quốc được hận chế tiêu thụ trung gian .Trung Quốc
rất tích cực trong việc tham gia các hội chợ triển nãm quốc tế cũng như quảng bá sản
phẩm. Ngoài ra Trung Quốc thành công ở thị trường khó tính như Nhật Bản là do đạt
tiêu chuẩn về các mặt hàng, sử dụng các chuyên gia tư vấn của Nhât và các sản phẩm
ngày càng đa dạng, cải tiến.
1.3.2.Bài học cho Việt Nam
Đầu tư đổi mới công nghệ, tiếp cận với công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm có
chất lượng cao, sản phẩm mang nét đặc thù riêng, mẫu mã đẹp, giá thành hạ mới có
tính cạnh tranh cao với sản phẩm cùng loại các nước, phù hợp thị hiếu người tiêu
dung.Đối với thị trường đồ gỗ Nhật Bản- nổi tiếng là khó tính, luôn đòi hỏi chất
lượng cao thì cách tốt nhất là sử dụng công nghệ, máy móc sản xuất của chính Nhật
Bản làm ra.
Ngoài sản phẩm làm từ chất liệu gỗ thuần tuý, sản phẩm gỗ xuất khẩu cũng
cần phải có sự kết hợp với các vật liệu khác như: Đay, cối, vải… dồi dào trong
nước, tạo điều kiện để tận dụng, phát triển các ngành phụ trợ có liên quan. Đồng
thời sản phẩm cũng nên kết hợp với các vật liệu bằng kim loại: Như môm, inox…,
sẽ làm nên các sản phẩm vừa có chất lượng vừa có giá bán và lợi nhuận cao.
Các doanh nghiệp cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu
riêng cho sản phẩm mỗi doanh nghiệp để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa
trên trường quốc tế, xây dựng các kênh phân phối sản phẩm trực tiếp, hạn chế xuất
khẩu, phân phối sản phẩm qua các nhà phân phối trung gian nước ngoài.
Có sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh

15.139.691
164.425.965
199.376.617
226.500.086
227.090.371
226.062.289
4,62
4,63
5,79
5,77
6,69
11 tháng 2004 15.118.859 208.857.751 7,23
Nguồn: Bộ tài chính Nhật Bản
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan 8 tháng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu
sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 1,55 tỷ USD, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong tháng 8/2009, Nhật Bản đứng thứ 2, sau thị trường Mỹ trở thành nhà nhập khẩu sản
phẩm gỗ chủ yếu của Việt Nam với kim ngạch 27,5 triệu USD, giảm 7,5% so với tháng 7 và
giảm 8,9% so với tháng 8/2008.
Theo thông tin Thương mại Việt Nam, như vậy, sau khi liên tục tăng trong tháng 6 và tháng 7,
thì sang tháng 8, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản lại
giảm sút. Tuy nhiên, sự giảm sút này là do xuất khẩu mặt hàng dăm gỗ và đồ nội thất dùng
trong phòng ngủ vào thị trường Nhật giảm mạnh, còn lại, xuất khẩu các mặt hàng khác đều
tăng.
Tính chung 8 tháng năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị
trường Nhật Bản đạt 232,7 triệu USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2008.
2.1.2. Các sản phẩm chính
Các mặt hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản rất đa dạng gồm: gỗ nhiên liệu dạng
khúc (mã HS 4401), gỗ cây (mã HS 4403), gỗ đã cưa hoặc xẻ theo chiều dọc (mã HS 4407),
tấm gỗ lạng làm lớp mặt (mã HS 4408), gỗ ván trang trí làm sàn (mã HS 4409), ván sợi bằng
gỗ (mã HS 4415), tượng gỗ và đồ trang trí bằng gỗ (mã HS 4420), ghế ngồi (mã HS 9401), đồ

Nhật Bản vẫn duy trì là nhà nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn của Việt Nam. Trong cơ cấu
các mặt hàng sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản trong 11
tháng năm 2009, thì kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng
ăn đạt cao nhất với 76,1 triệu USD, ước tính trong năm 2009, kim ngạch xuất khẩu các
mặt hàng này vào thị trường Nhật Bản đạt 82 triệu USD, tăng 18,8% so với năm 2008
và chiếm 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường này trong năm.
Các mặt hàng đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng ăn của Việt Nam xuất khẩu
chính vào thị trường Nhật Bản trong năm 2009 là: tủ thờ, tủ búp phê, kệ TV, bàn ghế….
Mặt hàng dăm gỗ với kim ngạch trong 11 tháng năm 2009 đạt 69 triệu USD, ước tính cả
năm 2009, mặt hàng này xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt 75 triệu USD, giảm
40% so với năm 2008, chiếm 21,9% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt
Nam vào thị trường này trong năm 2009, trong khi tỷ lệ này của năm 2008 là 34,6%.
Mặt hàng dăm gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản trong năm 2009 chủ
yếu là mặt hàng dăm gỗ keo, dăm gỗ bạch đàn và dăm gỗ tràm dùng để sản xuất giấy.
Kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phòng ngủ của Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường Nhật Bản trong 11 tháng năm 2009 đạt 47 triệu USD, ước tính cả năm 2009 đạt
52 triệu USD, tăng 8,3% so với năm 2008. Các mặt hàng xuất khẩu chính là: giường và
các bộ phận của giường, tủ, tủ đựng quần áo, bàn ghế…
Tham khảo một số lô gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản trong
tháng 11/2009
Chủng loại ĐVT Số
lượng
Đơn giá
(USD)
Cảng, cửa khẩu PTTT
Ghế gỗ sồi
522x520x845
chiếc 20 64.06 Cảng Cát Lái (Hồ Chí
Minh)
CNF

tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Nhật Bản 8 tháng đầu năm vẫn đạt 234
triệu USD, chỉ giảm 2,35% so với cùng kỳ 2008. Những dấu hiệu khả quan về sự phục
hồi của nền kinh tế cùng với sự ổn định trong nhu cầu nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ
Việt Nam của Nhật Bản trong thời gian qua là cơ sở để có thể tin rằng kim ngạch xuất
khẩu gồ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang quốc gia này có thể bắt đầu sẽ có tăng
trưởng trong quý III và quý IV năm 2009, dự báo năm 2009 xuất khẩu gỗ và sản phẩm
gỗ sang Nhật Bản có thể sẽ đạt mức tăng trưởng 1,27% so với năm 2008. Và năm 2010,
nếu kinh tế Nhật Bản đạt mức tăng trưởng tốt thì hoàn toàn có thể kim ngạch xuất khẩu
gõo của Việt Nam sang Nhật Bản sẽ đạt mức tăng trưởng trên 10% so với năm 2009.
Thế mạnh sản phẩm xuất khẩu của ta sang thị trường này là các sản phẩm đồ
gỗ nội thất (HS 9403) như: Tủ Buffee, tủ thờ Nhật Bản, tủ bếp, tủ commot, bàn ghế
trong nhà và văn phòng, đồ gỗ mỹ nghệ.
Về chất lượng của sản phẩm gỗ Việt Nam xuất sang Nhật Bản đã được người
tiêu dùng Nhật Bản đánh giá cao về mặt chất lượng, đặc biệt là người tiêu dùng
đánh giá cao và thích thú đối với các sản phẩm có kết hợp nhiều nguyên liệu khác
nhau như: Kết hợp giữa nguyên liệu gỗ với nhôm, inox, mây…trên cùng một sản
phẩm
Về chủng loại sản phẩm xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Nhật của các doanh nghiệp
sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam cũng khá đa dạng, gồm nhiều chủng loại với nhiều
mẫu mã khác nhau.
2.1.3.Hình thức xuất khẩu sang Nhật Bản trong thời gian qua
Trước đây, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ nước ta chỉ xuất
khẩu gián tiếp qua các nhà trung gian phân phối nước ngoài như: Đài Loan,
Singapore, Hàn Quốc… để tái xuất khẩu sang Nhật Bản và ít ai nghĩ rằng đồ gỗ Việt
Nam có thể chen chân vào các siêu thị lớn của Nhật thì nay, hầu hết các siêu thị lớn
ở Nhật đều có bán đồ gỗ chế biến tại Việt Nam. Việc có nhiều nhà nhập khẩu đồ gỗ
quốc tế tới tham dự hội chợ EXPO đồ gỗ hàng năm vào tháng 10 tại TPHCM trong
4 năm qua, để tìm hiểu và ký kết hợp đồng đã phần nào khẳng định vị thế của công
nghiệp chế biến đồ gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới.
Theo kết quả khảo sát nêu ở phụ lục 11 ở 141 doanh nghiệp, kết quả có 85

yếu kém, chậm chạp của hoạt động Logistic đã làm tăng chi phí, làm tăng giá thành
sản phẩm khi sản xuất ra, dẫn đến tính cạnh tranh về giá của sản phẩm gỗ khi xuất
khẩu sang thị trường nước ngoài nói chung và đối với thị trường Nhật Bản nói riêng bị
yếu hẳn đi so với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Đài Loan…và mức độ đáp
ứng kịp thời cho sản xuất, xuất khẩu bị giảm
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu các mặt hàng gỗ Việt Nam sang Nhật bản
2.2.1. Phân tích môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến ngành công nghiệp đồ gỗ
xuất khẩu sang Nhật
2.2.1.1. Phân tích môi trường vĩ mô
2.2.1.1.1. Yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội
Sau gần hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế
Việt Nam tiếp tục phát triển, quan hệ hai nước Việt Nam- Nhật Bản tiếp tục được
lãnh đạo hai nước nâng lên thành đối tác chiến lược. Bên cạnh đó, ngày 25 tháng
12 năm 2008 vừa qua, hai nước đã chính thức ký “ Hiệp định đối tác kinh tế Việt
Nam- Nhật Bản” sẽ càng tạo thêm cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất và xuất
khẩu đồ gỗ Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Nhật Bản. Tuy
nhiên, chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức như: Giá nguyên liệu gỗ đầu
vào tiếp tục tăng, lãi suất cho vay của toàn hệ thống ngân hàng đồng loạt tăng, làm
tăng chi phí tài chính đối với tất cả doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ
sang Nhật Bản. Sự liên tục tụt dốc thảm hại của thị trường chứng khoán- một trong
những kênh huy động vốn, giải quyết vốn hiệu quả cho doanh nghiệp; thị trường bất
động sản tiếp tục đóng băng, đặc biệt là giá xăng dầu trên thị trường thế giới tăng
liên tục và những ngày cuối tháng 07 năm 2008, giá xăng dầu trong nước cũng tiếp
tục tăng. Mới đây, ngành công nghiệp đồ gỗ xuất khẩu sang Nhật cũng bị ảnh hưởng
rất lớn của cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, đang lan toả rất nhanh và
đã làm giảm sức tiêu thụ đến sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam sang Nhật. Tuy
nhiên, với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự điều hành quyết liệt,
khẩn trương có hiệu quả của Chính phủ, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế xã hội trong
năm 2007 đều đạt và vượt mức Quốc hội đề ra, nền kinh tế tiếp tục phát triển, chính
trị, văn hoá xã hội ổn định và tiếp tục phát triển.

thông qua các chính sách của Chính phủ dưới đây:
- Chính phủ có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến gỗ bằng việc bãi
bỏ giấy phép nhập khẩu gỗ, hạ mức thuế nhập khẩu gỗ xuống 0%, giảm thuế VAT
xuống 5% cho mặt hàng gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên.
- Quỹ hỗ trợ phát triển, một tổ chức tài chính nhà nước được thành lập nhằm
cho vay, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các dự án xuất khẩu trong
đó có các dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến mặt hàng gỗ xuất khẩu.
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 19/2004/CT-TTg ngày 01/06/2004 đã đặt ra
một số giải pháp phát triển ngành chế biến gỗ và xuất khẩu sản phẩm gỗ, và các văn
bản của các Bộ, ngành trong việc phát triển cho ngành xuất khẩu gổ Việt Nam. (xem
thêm phụ lục 03- một số văn bản của nhà nước có liên quan đến ngành
gỗ).
- Chính sách thưởng kim ngạch xuất khẩu.
- Hàng gỗ thủ công mỹ nghệ, hàng đồ gỗ cao cấp làm từ nhóm gỗ 1A trở lên,
đã được chế biến hoàn chỉnh vẫn được xuất khẩu. Sản phẩm này khi xuất khẩu chỉ
cần kê khai với Hải quan đầy đủ số lượng, chủng loại, không cần xuất trình nguồn
gốc gỗ. Việc kiểm tra nguồn gốc gỗ phải được thực hiện tại cơ sở sản xuất (đầu
nguyên liệu vào xưởng). Đó là nội dung nêu tại công văn số 4719/VPCP-NN ngày
22/8/2007 của Văn phòng Chính phủ gửi Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Bộ Công Thương, Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam. Cũng tại
Công văn này, Văn phòng Chính phủ chỉ đạo giao Bộ Công thương chủ trì phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan, rà soát trình Chính phủ điều chỉnh các nội dung chính
sách xuất khẩu lâm sản chưa phù hợp để tạo điều kiện quản lý thông thoáng cho các
hoạt động xuất, nhập khẩu gỗ và các lâm sản khác, nhằm khuyến khích sản xuất
phát triển mạnh mẽ. Đây là văn bản ra sau hướng dẫn tại Thông tư số 32/2006/TT-
BNN ngày 08.5.2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực
hiện Nghị định 12/2006/NĐ-CP là: “Sản phẩm làm từ gỗ thuộc diện nguy cấp, quý,
hiếm thuộc nhóm 1A quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30.3.2006”
thuộc diện cấm xuất khẩu (nguồn: www . vinanet . vn).
- Văn bản số 11270/BTC-CST, ra ngày 23/9/2008 của Bộ Tài chính "Về việc

độ bền cao, làm hạn chế khả năng cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của
Trung Quốc, Đài Loan…. Đối với thị trường Nhật Bản nổi tiếng với tiêu chuẩn khắc
khe về chất lượng, yêu cầu mẫu mã sản phẩm đa dạng, muốn chinh phục được thị
trường Nhật Bản thì chỉ có cách là phải đổi mới nhanh công nghệ sản xuất. Lời
khuyên cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nên nhập ngay máy móc, công nghệ sản
xuất của chính Nhật Bản hoặc có thể liên kết với chính các doanh nghiệp cùng
ngành của Nhật Bản đề làm ra sản phẩm và sau đó xuất sang Nhật Bản. Và hoặc đầu
tư phân xưởng sản xuất ngay tại Nhật Bản, xuất bán thành phẩm từ các doanh
nghiệp Việt Nam, sau đó hoàn thành các công đoạn còn lại và tung ra thị trường.
Cách làm này sẽ rất hay nhưng chi phí đầu tư mới nhà xưởng trên đất Nhật sẽ rất
cao, nhưng ngược lại sẽ nắm bắt được ngay các thay đổi về thị hiếu, nhu cầu của sản
phẩm và nếu doanh nghiệp nào đó có khả năng thực hiện được thì sẽ mang lại hiệu
qủa cao.
2.2.1.1.4. Yếu tố môi trường tự nhiên
Việt Nam ta có khí hậu nhiệt đới ẩm, thích hợp cho việc trồng và phát triển
rừng nguyên liệu gỗ cho sản xuất. Trong những năm qua, mặc dù các ngành, các cấp
đã có nhiều nỗ lực trong việc trồng rừng, đã thực hiện chương trình “ 5 triệu hecta
rừng trồng”, và bảo vệ rừng nên diện tích rừng trồng ngày càng được gia tăng, diện
tích rừng bị chặt phá, bị cháy đã giảm dần qua các năm. Tuy nhiên, sản lượng gỗ
khai thác vẫn chưa đủ đáp ứng cho sản xuất và vẫn phải tiếp tục nhập khẩu.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích rừng tự
nhiên hiện có của Việt Nam là 9,9 triệu ha và 2,26 triệu ha rừng trồng. Tỷ lệ vốn
rừng trên đầu người của ta còn thấp: 0,12 ha/người so với của thế giới là 0,97
ha/người. Nếu như năm 1990, Việt Nam khai thác bình quân 1,8 triệu m
3
gỗ mỗi
năm thì đến năm 2000, để đảm bảo môi trường sinh thái và giữ được vốn rừng tự
nhiên, việc khai thác gỗ đã hạn chế sản lượng còn 200.000- 300.000 m
3
/năm và sẽ

Ngoài ra, do Nhật Bản là nước có khí hậu rất khô nên đồ gỗ hay bị cong, biến dạng
và nứt nếu không được xử lý tốt. Để giải quyết được vấn đề này cần phải có công
nghệ, thiết bị riêng nhập khẩu từ Nhật là tốt nhất. Tuy nhiên, do thiết bị xử lý này rất
đắt nên hiện nay rất ít công ty Việt Nam trang bị các thiết bị này (chủ yếu là công ty
liên doanh, liên kết với công ty Nhật Bản đầu tư mua trang thiết bị này (nguồn:
Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản).
2.2.1.2.2. Khách hàng
Nhật Bản với tổng GDP năm 2006 đạt 4.167 tỷ USD, tính theo đầu người là
35.757 USD/người (xếp hạng thứ 14 - những nước có thu nhập GDP/ đầu người cao
nhất trên thế giới) - nguồn: www.vnag e

nc y

. com.vn
Với nhu cầu nhập khẩu sản phẩm gỗ của Nhật Bản những năm gần đây
khoảng 5.2 tỷ USD/năm. Tính đến thời điểm ngày 7/7/2007, xuất khẩu sản phẩm gỗ
Việt Nam vào Nhật Bản chiếm chiếm 7.3% thị phần nhập khẩu của nước này.
(nguồn: w ww . taichinhvietna m. com). Như vậy, với nhu cầu này hàng năm, Nhật Bản
là một trong những thị trường nhập khẩu lớn của thế giới nói chung và đối với các
doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ Việt Nam nói riêng là rất lớn.
Tiêu dùng riêng cho đồ gỗ tại Nhật Bản sấp xỉ 1000USD/hộ/ tháng. Đặc biệt,
trong xã hội công nghiệp với mức độ rất cao như hiện nay, người Nhật Bản ngày
càng có nhu cầu sử dụng đồ vật bằng chất liệu gỗ thay thế các vật liệu sắt, nhôm…
Do tình hình suy thoái của nền kinh tế Nhật Bản trong thời gian rất dài, ảnh hưởng
của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng rất lớn đến mức sống của người
dân, đặc biệt gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin vào tương lai nền kinh tế của đất
nước. Điều này khiến người dân Nhật Bản hạn chế tiêu dùng hơn, cụ thể là hạn chế
chi tiêu cho những mặt hàng đắt tiền mà chú trọng hơn đến những mặt hàng rẻ tiền.
Chính tình hình này đã tạo cơ hội tốt cho các mặt hàng nhập khẩu từ các doanh
nghiệp Việt Nam với giá rẻ hơn hàng nội địa (cho dù chất lượng nhìn chung có kém

Vấn đề khó khăn nhất của các doanh nghiêp ngành sản xuất đồ gỗ Việt Nam
là nguồn nguyên liệu. Trong bối cảnh này, vấn đề phát triển và tự chủ nguồn nguyên
liệu gỗ trong nước đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
2.2.1.2.4. Sản phẩm thay thế
Với nhu cầu nhập khẩu sản phẩm gỗ của Nhật Bản những năm gần đây
khoảng 5.2 tỷ USD/năm, người Nhật có mức thu nhập cao, với mức tiêu dùng riêng
cho đồ gỗ tại Nhật Bản sấp xỉ 1000USD/hộ/ tháng. Đặc biệt, trong xã hội công
nghiệp với mức độ rất cao như hiện nay, người Nhật Bản ngày càng có nhu cầu sử
dụng đồ vật bằng chất liệu gỗ thay thế các vật liệu sắt, nhôm…. Bên cạnh đó, sản
phẩm gỗ nói chung và mặt hàng đồ gỗ nội thất nói riêng càng làm tô thêm vẻ đẹp
cho không gian sống, học tập, làm việc cho người dân Nhật Bản và xu hướng đang
lên của người tiêu dùng Nhật Bản là muốn gần gủi với thiên nhiên. Chính vì vậy,
sản phẩm đồ gỗ ngày càng trở nên rất cần thiết cho cuộc sống, lao động, học tập của
họ. Do đó, sản phẩm thay thế ít có khả năng tác động nhiều đến sản phẩm gỗ. Tuy
nhiên, do đặc điểm nguồn nguyên liệu gỗ ngày càng khan hiếm, ý thức về bảo vệ
môi trường của khách hàng ngày càng tăng nên bên cạnh việc sử dụng đồ gỗ thuần
túy thì một xu hướng đang gia tăng là sử dụng đồ gỗ có kết hợp những chi tiết bằng
vật liệu khác như: Kim loại, kính, nhựa, da, vải … Việc kết hợp giữa nguyên liệu gỗ
và các vật liệu khác vừa làm tăng tính hấp dẫn cho sản phẩm, vừa làm tăng giá trị
cho sản phẩm, đồng thời đáp ứng cho nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng
đối với sản phẩm gỗ đang là xu hướng ngày càng tăng. Đây là điểm cần lưu ý đối
với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đồ gỗ Việt Nam ta trong việc kết hợp nhiều
nguyên phụ liệu, vật liệu khác nhau trên cùng một sản phẩm, vừa tạo điều kiện cho
các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển, tận dụng các nguyên phụ liệu rẻ tiền, dồi

Trích đoạn Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các các sản phẩm gỗ sang thị trường Nhật Bản Tiếp tục đẩy mạnh và khuyến khích hình thức xuất khẩu trực tiếp sản phẩm gỗ sang thị trường Nhật Bản và tiếp xúc trực tiếp với chính khách hàng Nhật Bản.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status