Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu tinh trùng ở người nam giới trong các cặp vợ chồng thiểu năng sinh sản - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của
các Thầy - Cô, các anh chị kỹ thuật viên trong Bộ môn Y sinh học - Di truyền
và bệnh nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PSG. TS. Trần Đức Phấn - Chủ
nhiệm bộ môn Y sinh hoc - Di truyền - Trường Đại học Y Hà Nội, người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn, nghiêm khắc dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo Đại học Trường Đại học Y
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới các anh, chị, bạn bè và gia
đình đã chia sẻ những khó khăn, động viên khích lệ và giúp đỡ tôi để tôi có
được kết quả ngày hôm nay.
Bản khóa luận này được hoàn thành với sự nỗ lực hết sức của người
viết, chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong muốn nhận được
những ý kiến chỉ bảo quý báu của các Thầy - Cô để bản khóa luận này được
hoàn thiện.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm 2011
Vũ Thị Hồng Luyến
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả khóa luận
Vũ Thị Hồng Luyến
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội

Những cặp vợ chồng vô sinh là trường hợp hoặc vợ, hoặc chồng, hoặc cả
hai không có tuyến sinh dục hoặc tuyến sinh dục không có tế bào sinh dục.
Những cặp vợ chồng TNSS là trường hợp người vợ và người chồng đều
có tuyến sinh dục, nhưng vì lí do nào đó chức năng sinh sản không được tốt
như người bình thường, cần có sự can thiệp của y tế [3],[4].
Tỉ lệ TNSS theo thống kê trên thế giới xấp xỉ 15% [8],[2]. Ở Việt Nam,
theo những số liệu điều tra dân số, tỉ lệ này vào khoảng 7-10% ở những cặp
vợ chồng độ tuổi sinh đẻ .Trong các cặp vợ chồng TNSS thì nguyên nhân do
nam giới chiếm tỉ lệ xấp xỉ 50% [30]. Điều đó cho thấy việc chẩn đoán và
điều trị TNSS là một vấn đề lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Đối với TNSS ở nam giới, nguyên nhân phổ biến nhất là sự bất thường
về tinh dịch, trong đó chủ yếu là những bất thường về số lượng và chất lượng
tinh trùng [1], [2]. Hình thái tinh trùng là yếu tố cơ bản và quan trọng, không
thể thiếu trong phân tích mẫu tinh dịch, để đánh giá chức năng tinh trùng, góp
phần tiên lượng và đưa ra các biện pháp điều trị thích hợp [2].
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
1
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây lĩnh vực nam học đã bắt đầu phát
triển. Một số công trình khoa học đã đưa ra tỉ lệ nguyên nhân TNSS ở nam
giới, được phân tích theo từng vấn đề như tinh dịch đồ, nội tiết… Tuy nhiên
cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu sâu nào đề cập tới đặc điểm hình
thái đầu tinh trùng và mối liên quan với các thông số khác trong tinh dịch
như: mật độ, khả năng di động…
Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn góp phần vào công tác
chăm sóc sức khỏe nói chung, cho nam giới nói riêng đặc biệt là vấn đề chẩn
đoán và điều trị TNSS ở nam giới, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
đặc điểm hình thái đầu tinh trùng ở người nam giới trong các cặp vợ chồng
thiểu năng sinh sản”.
Mục tiêu của đề tài là:

nhiên, chỉ coi tinh trùng bình thường khi không bào < 20% vùng đầu.
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
3
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
- Cổ: Là đoạn ngắn, hẹp, gắn thẳng với trục đầu.
- Đoạn trung gian: Tiếp nối với đoạn cổ, chiều này khoảng 1μm, có bao
ti thể. Cổ và đoạn trung gian được định ranh giới với đuôi bởi vòng Zensen,
đây là nơi màng bào tương dày lên. Chiều dài của cổ và đoạn trung gian gấp
1,5 lần chiều dài đầu.
- Đuôi gồm hai đoạn: Đoạn chính và đoạn cuối. Đoạn chính dài khoảng
45μm, thẳng, thon, nhỏ hơn phần cổ, không cuộn. Đuôi có một dây trục nằm
ở trung tâm, vây quanh bởi một bao sợi xơ và bọc ngoài bởi màng tế bào. Ở
đoạn cuối, đuôi vuốt nhỏ lại chỉ gồm dây trục ở giữa và bọc ngoài bởi màng tế
bào.
Tinh trùng có thể có bào tương. Thường bào tương nằm ở phần cổ và
đoạn trung gian của tinh trùng, cũng có khi nằm ở đuôi. Diện tích bào tương
bình thường <1/3 diện tích đầu.
Tinh trùng bình thường có chiều dài từ 50-60μm
Hình 1: Cấu tạo vi thể tinh trùng người.
1.1.1.2 Cấu tạo siêu vi
Đầu tinh trùng có chứa nhân nằm sát đoạn cổ, 2/3 trước của nhân được
chụp bởi túi cực đầu. Túi cực đầu chiếm phần lớn bào tương ở phía trước đầu
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
4
Đoạn trung gian
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
tinh trùng. Thành túi cực đầu có cấu tạo màng kép gồm 2 lá: lá ngoài và lá
trong, trong lòng có chứa nhiều enzym có vai trò quan trọng trong phản ứng
cực đầu: hyaluronidase, neuramidase, arysulfatase và protease. Những
enzyme này có tác dụng tiêu hủy màng trong suốt của trứng. Ở lá ngoài của

1.1.2 Quá trình sinh tinh trùng
Tinh trùng được tạo ra từ các tế bào sinh tinh, nằm trong các ống sinh
tinh thuộc hai tinh hoàn.
1.1.2.1. Ống sinh tinh
Tinh hoàn được bọc ngoài bởi màng trắng, từ màng trắng phát sinh
những vách xơ tiến sâu vào tinh hoàn, ngăn tinh hoàn thành những tiểu thùy.
Mỗi tiểu thùy chứa 3-4 ống sinh tinh. Ống sinh tinh là loại ống hình quai xoắn
không chia nhánh, hai đầu mở vào lưới tinh. Mỗi ống sinh tinh có đường kính từ
150-200μm, dài khoảng 30-70 cm. Từ ngoài vào trong, thành ống sinh tinh có
chứa vài hàng tế bào sợi sát với màng đáy. Biểu mô tinh cách vỏ xơ bởi màng
đáy. Mô liên kết nằm xen kẽ giữa các ống sinh tinh chứa tuyến kẽ gồm các mạnh
máu và các tế bào kẽ tổng hợp và chế tiết hormone testosterone [5],[26].
1.1.2.2. Biểu mô tinh và quá trình sinh tinh trùng
- Biểu mô tinh:
Biểu mô tinh là biểu mô tầng gồm hai loại tế bào: Tế bào Sertoli và tế
bào dòng tinh.
Tế bào Sertoli là những tế bào lớn, sáng màu, nhân nằm gần màng đáy.
Dưới kính hiển vi quang học ranh giới giữa tế bào Sertoli và các tế bào xung
quanh không phân biệt rõ. Dưới kính hiển vi điện tử cho thấy giữa các tế bào
Sertoli nằm cạnh nhau có các phức hợp liên kết. Những phức hợp liên kết này
ngăn những khoảng gian bào trong biểu mô tinh thành hai ngăn: ngăn ngoài
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
6
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
nằm giáp với màng đáy chứa những tế bào dòng tinh chưa tiến triển (tinh
nguyên bào), ngăn bên trong chứa những tế bào dòng tinh đang tiến triển. Ở
tinh hoàn có hàng rào máu- tinh hoàn. Cơ sở cấu trúc của hàng rào máu- mô
này là những mối liên kết dải bịt (occoluding junctions) giữa các tế bào
Sertoli. Các mao mạch máu ở tinh hoàn thuộc loại mao mạch máu có cửa sổ,
chúng cho phép các chất có phân tử lượng lớn đi qua và chỉ có thể tới được

(n=22+Y). Quá trình sinh tinh trùng trải qua một loạt các thời kì kế tiếp nhau:
Tạo tinh bào, phân bào giảm nhiễm và tạo tinh trùng [44].
Ở thời kì tạo tinh bào, tinh nguyên bào (2n= 44+XY) trải qua nhiều lần
gián phân để sinh ra các tinh nguyên bào khác và các tế bào sẽ biệt hóa để trở
thành tinh bào 1 (2n=44+XY). Ở người, có thể nhận biết 3 loại tinh nguyên
bào căn cứ vào đặc điểm nhân và bào tương của chúng, đó là : tinh nguyên
bào loại A sẫm màu ( Ad-typ A dark), tinh nguyên bào loại A nhạt màu (Ap-
the typ A pale) và tinh nguyên bào loại B. Như vậy, tinh nguyên bào Ad là
những tế bào nguồn của các tế bào dòng tinh, chúng thực hiện gián phân
nhiều lần để sinh ra các tinh nguyên bào Ad khác và các tế bào Ap. Tinh
nguyên bào Ap tiếp tục gián phân qua các tinh nguyên bào trung gian để trở
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
thành tinh nguyên bào loại B. Tinh nguyên bào loại B tiếp tục gián phân sinh
ra các tế bào loại B khác và trở thành tinh bào 1. Tinh bào 1 hình thành, đánh
dấu sự kết thúc thời kì tạo tinh bào [14].
Thời kì phân bào giảm nhiễm: ngay sau khi hình thành, tinh bào 1 đã
hoàn thành việc sao chép để nhân đôi số lượng ADN (4n ADN). Tinh bào 1
bước ngay vào kì đầu của sự phân chia lần thứ nhất để trưởng thành, kéo dài
khoảng 22 ngày (qua các giai đoạn: sợi mỏng, sợi gióng đôi, sợi dày, sợi đôi
và đạt tới giai đoạn hướng cực). Vì tinh bào 1 mang hai thể nhiễm sắc X và Y
đã kết đôi, khi phân ly sẽ phân bố cho hai tinh bào 2. Kết quả của lần giảm
phân thứ nhất là tạo ra tinh bào 2, kích thước nhỏ, có 23 NST (n= 22+X hoặc
n=22+Y). Vừa được hình thành, tinh bào 2 lập tức hoàn thành lần phân chia
thứ 2 để trưởng thành: Mỗi tinh bào 2 sinh ra hai tiền tinh trùng ( n=22+X và
n=22+Y) [5]
Ở thời kì tạo tinh trùng, diễn ra quá trình của các tiền tinh trùng chuyển
dạng thành tinh trùng. Quá trình nay gồm 4 giai đoạn, xảy ra khi các tiền tinh
trùng đang được vùi trong các khoảng trống ở mặt tự do phía lòng ống sinh

thành vòng Zensen.
Tinh trùng non sau đó tách khỏi bề mặt tế bào Sertoli và nằm tự do trong
lòng ống sinh tinh, đánh dấu sự kết thúc của quá trình sinh tinh trùng. Tinh
trùng non ( tế bào sinh dục đực chưa trưởng thành) sau đó được hoàn thiện
dần về cấu trúc và chức năng khi chúng đi qua các đoạn của đường dẫn tinh
[5], [14].
Quá trình sinh tinh trùng từ tinh nguyên bào loại Ad để thành tinh trùng
non dài khoảng 70 ngày.
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh tinh trùng
Nội tiết:
Các hormone có ảnh hưởng đến sự sinh tinh trùng được chia ra các
nhóm:
Nhóm hormone điều khiển quá trình sinh tinh:
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
- FSH (Follicle Stimulating Hormon) tác động vào tế bào Sertoli, kích
thích tế bào Sertoli tổng hợp và bài xuất: transferin tinh hoàn, protein gắn vào
androgen và một loại peptit dạng LH-RH (Luiteinizing Hormon- Releasing
Hormon) và Inhibin [30].
- LH (Luiteinizing Hormon) tác động vào tế bào Leydig, kích thích
chúng sản xuất testosterol [6].
- Prolactin làm giảm khả năng tích lũy ester cholesteron (một tiền sản
phẩm của testosterol của tế bào Leydig [5].
Nhóm hormone có tác dụng phản hồi ngược tới tuyến yên và vùng dưới
đồi như testosterol, inhibin [6],[31]. Lượng LH tiết ra chịu ảnh hưởng của
nồng độ testosterol, sự chế tiết FSH chịu ảnh hưởng bởi inhibin. Với nồng độ
cao các hormone này sẽ ức chế sự sản sinh LH và FSH [6], [31] (đó là nguyên
nhân WHO đã cấm dùng testosterol trong điều trị vô sinh nam).
Ngoài ra, sự hoạt động của tinh hoàn còn phụ thuộc và gonadotropin và

heroin có thể làm giảm chế tiết FSH, LH gây vô sinh [6].
Tiếng ồn:
Tiếng ồn cường độ cao có ảnh hưởng xấu đến chất lượng tinh trùng
Sự phát triển của công nghiệp, sự ô nhiễm môi trường:
Sự phát triển của công nghiệp, sự ô nhiễm môi trường cũng góp phần
làm chất lượng tinh dịch suy giảm và ức chế khả năng sinh tinh [45].
Sự cấp máu cho tinh hoàn:
Quá trình biệt hóa và tiến triển của tế bào dòng tinh đòi hỏi tinh hoàn
phải được cung cấp máu đầy đủ. Khi động mạch tinh bị tổn thương hoặc
xoắn, các ống sinh tinh sẽ hoại tử hoặc teo đi [5]. Một số yếu tố khác ảnh
hưởng tới chất lượng tinh dịch [6]: Tắc ống dẫn tinh, rối loạn chức năng có
tuyến phụ trợ, các viêm nhiễm đường sinh dục…
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
1.2 Tình hình nghiên về thiểu năng sinh sản trên thế giới và trong nước
1.2.1 Thiểu năng sinh sản
Những cặp vợ chồng không sinh con được có thể bị vô sinh (sterility)
hoặc TNSS (infertility). Những cặp vợ chồng vô sinh là trường hợp hoặc vơ,
hoặc chồng, hoặc cả hai không có tuyến sinh dục hoặc tuyến sinh dục không
có tế bào sinh dục. Những cặp vợ chồng TNSS là trường hợp người vợ và
người chồng đều có tuyến sinh dục nhưng vì lí do nào đó chức năng sinh sản
không được tốt như người bình thường, cần có sự can thiệp của y tế [3], [4].
Lee và cộng sự (1997) nghiên cứu trên 717 cặp vợ chồng TNSS thấy tỉ lệ
TNSS nguyên phát là 78%, TNSS thứ phát là 22% . Hull M.G. và cộng sự
(1985), Templeton và cộng sự (1991), khi thống kê ở quần thể những người
TNSS đến khám và điều trị cho thấy tỉ lệ TNSS nguyên phát chiểm khoảng
67-71%, TNSS chiếm 29-33%. Ngược lại, Larsen và cộng sự (2000) khi
nghiên cứu ở 10 trong số 28 quốc gia Châu Phi đã công bố tỉ lệ TNSS thứ
phát thì cao hơn nhiều.

[11] tỉ lệ TNSS ở Việt Nam là 10%, tỉ lệ này theo Phan Văn Quyền năm 2010
là 10-15%.
Theo Nguyễn Thị Ngọc Phượng tỉ lệ TNSS ở Việt Nam ngày càng tăng có
thể co phụ nữ ngày nay lập gia đình muộn hơn, trong khi tuổi có thai dễ nhất là
từ 20 - 24, lí do thứ hai liên quan đến vấn đề vệ sinh, việc sử dụng hóa chất và
ô nhiễm môi trường làm cho phụ nữ Việt Nam hay bị viêm nhiễm đường sinh
dục, viêm đường sinh dục ở nữ thường tiến triển tiềm tàng qua thời gian, viêm
nhiễm dễ lan lên vòi trứng làm tắc vòi trứng gây bệnh.
1.2.2. Thiểu năng sinh sản ở nam giới
Theo Bensey và cộng sự (1979), trong những cặp vợ chồng TNSS,
nguyên nhân do nam chiếm khoảng 49,4%. Theo Mark Sigman tỉ lệ do nam
giới gần 50%.
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
15
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
Năm 1981 Mathews T., Mati J. K., Fomula J. N. đã nghiên cứu trong 2
năm trên 397 trường hợp tại Nairobi-Kenya cho thấy nguyên nhân trực tiếp
do người chồng là 26,7%, kết hợp cả hai giới là 27%, không xác định được
nguyên nhân là 9,57% mà theo khuynh hướng thế giới hiện nay những trường
hợp chưa rõ nguyên nhân được xếp loại vào nhóm nguyên nhân nam giới.
Theo Lee Hy trong 717 trường hợp TNSS ở nam giới thì nguyên phát
chiếm tỉ lệ 78%, thứ phát chiếm tỉ lệ 22%.
Theo Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự, nghiên cứu trên 1000 trường hợp
TNSS trong các năm 1993-1997 tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh thấy, tỉ
lệ TNSS nữ chiếm 54%, TNSS do nam chiếm 36%, chưa rõ nguyên nhân
chiếm 10% [10].
Theo Ngô Gia Hy, TNSS do người chồng chiếm khoảng 40%, do vợ
50%, do cả hai là 10% [9].
Nguyễn Thị Xiêm, Ngô Phương Lan công bố, TNSS do nam chiếm 30%,
cả nam và nữ là 20%, như vậy nam giới chịu trách nhiệm trong 50% trường

<5% (theo phương pháp đánh giá hình thái của Kruger).
Kruger T. F. và Coetzee K. [38] khi phân tích hình thái tinh trùng trên
máy tính nhận thấy có sự liên quan giữa hình thái tinh trùng và khả năng có
thai. Khi tỉ lệ tinh trùng có hình thái bình thường lớn hơn 15% thì tỉ lệ có thai
là 63%. Nếu tỉ lệ tinh trùng có hình thái bình thường nhỏ hơn 4% thì tỉ lệ trên
chỉ còn 7.6%.
Hình thái tinh trùng có vai trò quan trọng tiên lượng tỉ lệ thành công của
kĩ thuật IUI, nghiên cứu của Hauser R. và cộng sự [21] chỉ ra: tỉ lệ có thai cai
hơn ở nhóm có tỉ lệ hình thái tinh trùng bình thường cao.
Việc phân tích hình thái tinh trùng còn có thể tiên lượng được tỉ lệ thành
công của kĩ thuật chuyển phôi vào vòi trứng (Gamete intrafallopian transfer-
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
GIFT). Kruger T. F. và Coetzee K. [33] còn nhận thấy ở nhóm có tỉ lệ tinh
trùng hình thái bình thường lớn hơn 5% (sử dụng máy phân tích hình thái tinh
trùng) thì tỉ lệ thành công là 35,6% trong khi ở nhóm có tỉ lệ tinh trùng hình
thái bình thường từ 0-4% thì tỉ lệ thành công chỉ còn 15,4%.
Cũng ở một nghiên cứu tương tự được tiến hành trên 207 người bệnh,
Coetzee K., De-Villiers A., Kruger T. F., Lombard C. T. Nhận xét khi tỉ lệ hình
thái tinh trùng bình thường <5% thì tỉ lệ thành công của GIFT là 15,15% và khi
tỉ lệ hình thái tinh trùng bình thường >5% thì tỉ lệ thành công của GIFT là
37,36%.
Szczygiel M., Kurpisz M. [46] tổng kết ảnh hưởng của những trường
hợp tinh trùng dị dạng (teratozoospermia) nên khả năng có thai nhận thấy
trong kĩ thuật IVF, hình thái tinh trùng là yếu tố rất tốt để tiên lượng khả năng
có thai, trong đó túi cực đầu có vai trò quan trọng.
Công trình nghiên cứu của Osawa Y. và cộng sự [40] khi làm ICSI ở
nhóm có tỉ lệ tinh trùng có hình thái bình thường nhỏ hơn 4% nhận thấy: tỉ lệ
có phôi ở nhóm có đầu hình nến thấp hơn tỉ lệ có phôi ở nhóm các dị dạng

với các nhóm khác. Trong số các cặp vợ chồng hiếm muộn, 56% những người
chồng có chất lượng tinh dịch dưới mức bình thường. Nguyên nhân gây bất
thường sinh sản ở nam giới do bất thường hình thái tinh trùng là 14,05%.
Wen R. Q., Li S. Q., Wang C. X., Liu M. Y. [48] xem xét sự thay đổi
hình thái tinh trùng ở ống dẫn tinh sau thủ thuật thắt ống dẫn tinh nhận thấy tỷ
lệ tinh trùng hình thái bất thường tăng ở những thay đổi rõ rệt nhất ở các
dạng: bất thường đuôi, đầu tròn, dạng tinh trùng bất định.
Troiano và cộng sự [37] nhận thấy ở những mẫu tinh trùng ít và yếu
(oligoasthenozoopermia), tỉ lệ tinh trùng non tăng.
Huaijin C., Junyan Z., Naiguan C. [24] đã nghiên cứu 106 trường hợp
thấy khi có nhiều bạch cầu trong tinh dịch thì chất lượng tinh trùng giảm.
SV: Vũ Thị Hồng Luyến Lớp: Y6C
19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội
Tác giả Hofmann (1986) [18] có nhận xét tham số hình thái ít khi
thay đổi một cách riêng rẽ. Singer (1980) [18] cũng nhận thấy những mẫu
tinh dịch có tỉ lệ hình thái tinh trùng bất thường cao thường kèm theo tinh
trùng ít và di động kém.
Một nhóm tác giả ở Học viện Quân Y (2000) [12] khi nghiên cứu số
lượng, chất lượng tinh trùng của 100 thanh niên khỏe mạnh đã nhận thấy các
tham số: thể tích tinh dịch, tỉ lệ tinh trùng di động nhanh và tỉ lệ tinh trùng
hình thái bình thường cao hơn ở nhóm có mật độ tinh trùng cao.
WHO (1999) [50] chia bất thường đầu thành các dạng: bất thường túi
cực đầu, dạng bất định, không bào, nến, lê, tròn to, tròn nhỏ, hai đầu, hoặc
sự phối hợp của các dạng trên. Bất thường cổ và đoạn trung gian gồm: cổ
cong, cổ lệch, đoạn trung gian dày và không đều, cỏ mảnh. Bất thường đuôi
có các dạng: Đuôi ngắn, nhiều đuôi, đuôi gập, đuôi cuộn, đuôi gãy, đuôi có
bào tương.
Theo Kurpisz M., Szczygiel M. [46] thì rất có thể có sự sai khác về NST
ở tinh trùng dị dạng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status