nghiên cứu về chính sách đưa cây cao su lên núi ở một số tỉnh miền núi phía bắc mà chủ yếu là các tỉnh tây bắc - Pdf 25

Lời mở đầu
Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, có giá trị kinh tế cao. Nước ta có khí hậu nhiệt
đới, có điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển cây cao su. Với lợi thế này Việt
Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu cao su lớn so với thế giới.
Nhưng quy hoạch vùng trồng cao su cho hợp lí cũng là vấn đề đặt ra cần thiết hiện nay
cho sự phát triển ngành công nghiệp cao su cả nước. Chính sách đưa cây cao su lên núi không
hẳn là một chính sách mới. Tuy nhiên, để chính sách thực hiện đạt hiệu quả cao nhất cần có sự
phân tích đa chiều.
Bài tiểu luận này xin được đi sâu nghiên cứu về chính sách đưa cây cao su lên núi ở một
số tỉnh miền núi phía Bắc mà chủ yếu là các tỉnh Tây Bắc, những lợi ích và khó khăn của chính
sách và đề ra những giải pháp phát triển hiệu quả, bền vững.
Nội dung
I. Tìm hiểu chung về cây cao su
1. Cây cao su là cây như thế nào
Cao su (danh pháp khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ
Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea.
Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa
mủ-latex) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên.
Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch
nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo
hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng.
Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông
góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây
tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. Quá trình này
gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất
nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm
2. Ứng dụng của cây cao su
Cây cao su là cây công nghiệp lâu năm có nhiều công dụng: Sản phẩm chính của cây cao
su là mủ, còn được gọi là “vàng trắng” vì đó là nguyên liệu chủ lực của nhiều ngành công nghệ.
Thật khó hình dung đời sống hàng ngày thiếu đi những chế phẩm từ cao su thiên nhiên, từ vận
tải, hàng không, đến những vật dụng nhỏ như găng tay y tế, hay quả bóng tròn trên sân cỏ Mủ

kiện cho người dân tăng gia sản xuất bằng cách trồng xen canh hoa màu trong vườn cao su, điều
này vừa giúp cho người dân tận dụng tối đa tiềm năng của đất, vừa bảo vệ cây một cách tốt nhất.
Dưới tán lá của rừng cao su còn mở ra một diện tích mênh mông cho việc chăn nuôi bò, dê đem
lại nguồn phụ thu đáng kể. Trên cơ sở đó, khi cây cao su được triển khai có hiệu quả với giá trị
cao gấp nhiều lần trồng cây lâm nghiệp truyền thống thì đây chính là điều sẽ làm thay đổi nhận
thức về phát triển kinh tế cho người dân.
4. Lịch sử cây cao su
Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ
dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và
tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công
nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho Brasil.
Sau đó cây cao su được nghiên cứu và phát triển rộng tại các thuộc địa của Anh và ở
Malaysia năm 1883. Ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một
số tại khu vực châu Phi nhiệt đới.
Tại Việt Nam, Cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực
vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống.
Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Đến năm 1920, miền
Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn.
Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn
1960 - 1962, trên những vùng đất cao 400 - 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh.
Trong thời kỳ trước 1975, cây cao su được trồng tại Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An,
Thanh Hóa, Phú Thọ. Trong những năm 1958 - 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích
đã lên đến khoảng 6.000 ha.
Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ và dần ra cả nước.
Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2 %.
Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37 %. Năm
2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha.
Năm 2007 diện tích Cao Su ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha),
Trung tâm phía Bắc (41.500 ha) và Duyên Hải miền Trung (6.500 ha)
5. Đặc điểm của cây cao su

phần lớn cây già cỗi, nhiều nhà máy bị tàn phá, máy móc xuống cấp và lạc hậu. Chính phủ đã
sớm có chủ trương khôi phục và phát triển ngành cao su Việt Nam và nó đã thực sự chuyển biến
mạnh mẽ kể từ khi thành lập Tổng Công ty Cao su Việt Nam năm 1995. (Tháng 4/2007 Tổng
Công ty trở thành Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (TĐCNCSVN). Đặc biệt việc chuyển
sang nền kinh tế thị trường cũng đã cuốn hút các thành phần kinh tế khác đầu tư cho cây cao su.
Ngành cao su Việt Nam trở thành một trong những mũi nhọn của nền kinh tế đất nước với đủ các
loại hình doanh nghiệp: cao su quốc doanh (đại điền), các công ty cao su của địa phương, quân
đội; các công ty liên doanh; các công ty cổ phần và cao su tiểu điền do tư nhân đầu tư.
Trên con đường phát triển, ngành cao su Việt Nam đã dành sự quan tâm và đầu tư đúng
mức cho việc đào tạo nguồn nhân lực. Cơ sở đào tạo đầu tiên là trường Công nhân Cơ khí Cao su
(1978) và tháng 1/2008 được nâng lên thành trường Cao đẳng Công nghiệp Cao su, có quy mô
đào tạo 3.500 sinh viên/năm với 20 ngành nghề. Những vấn đề cốt tử của cây cao su được các
nhà khoa học chuyên ngành tìm hiểu và giải quyết, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (tại tỉnh
Bình Dương) đã nghiên cứu tạo ra các loại giống mới có năng suất cao, phân loại thổ nhưỡng, kỹ
thuật canh tác, áp dụng công nghệ hiện đại trong khai thác và chế biến mủ. Đặc biệt những năm
gần đây, Viện đã có nhiều công trình nghiên cứu xử lý nước đạt tiêu chuẩn. Ngoài ra, Viện còn
có những chương trình hợp tác quốc tế, liên quan đến sản xuất các sản phẩm có giá trị kinh tế
cao,
Thân phận của cây cao su Việt Nam sau nhiều thăng trầm nay đã được khẳng định là một
nhân tố quan trọng, tiền đề cho nhiều giải pháp xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái
và an sinh xã hội.
Hiện nay, cây cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt
Nam.
2. Thực trạng tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ cao su
Theo Tổ chức Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG) có trụ sở tại Singapre nhu cầu cao su tổng
hợp sẽ tăng 8,6% trong năm 2011 và 6,4% trong năm 2012, trong khi nhu cầu cao su thiên nhiên
sẽ tăng lần lượt 4,6% và 3,8%. Cũng theo tổ chức này, nhu cầu lượng cao su, cả thiên nhiên lẫn
tổng hợp, trên toàn thế giới sẽ đạt 26,1 triệu tấn trong năm nay, so với 24,4 triệu tấn của năm
ngoái. Sản lượng cao su toàn cầu cũng được dự báo sẽ tăng do giá cao. Nếu điều kiện thời tiết
bình thường, sản lượng cao su thiên nhiêu sẽ tăng 6,2% trong năm nay và 6,5% năm tới.

lao động, đồng thời hàng ngàn người dân cũng thường xuyên được tạo thêm việc làm nhờ các
công việc khai phá, trồng và chăm sóc cao su…
Có thể nói, khác với nhiều chương trình thử nghiệm trước đây, việc trồng cây cao su là
một chương trình mới. Người dân tham gia chương trình này chỉ phải góp đất và được tính là
đóng cổ phần (1ha bằng 10 triệu đồng tiền cổ phần, sau chu kỳ trồng gần 30 năm nếu người dân
không tiếp tục trồng thì đất vẫn là của người dân), đồng thời còn được tỉnh hỗ trợ thêm kinh phí
theo các mức quy định… Phần còn lại, TĐCNCSVN đầu tư về máy móc, giống, cán bộ điều
hành, tài chính, nhân công… Trên cơ sở đó, khi cây cao su cho sản phẩm, người dân sẽ được
chia lợi nhuận theo mức cổ phần đóng góp. Đồng thời, trong suốt quá trình trồng, chăm sóc và
khai thác cao su, nhiều người dân sẽ được tuyển dụng làm công nhân của Công ty cao su giống
như các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên Và như các vùng trồng cao su ở miền trong, khi cây cao
su phát triển, thì đồng nghĩa với việc có sự đầu tư về đường sá, cơ sở vật chất từ phía Công ty
cao su, góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn mới cho các địa phương tham gia chương trình
trồng cao su.
2. Lợi ích của việc đưa cây cao su lên núi
 Bảo vệ môi trường gắn với lợi ích kinh tế
Theo đánh giá của các chuyên gia thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam: Cây cao su
trồng ở Sơn La hay ở các tỉnh miến núi phía Bắc phát triển tương đương với cao su trồng ở Đông
Nam bộ, mặc dù độ dày tầng đất ở đây thấp hơn nhiều. Hiện nay chưa có công bố chính thức của
các nghiên cứu khoa học, nhưng có thể do ở vùng rừng núi phía Bắc có sương, tạo độ ẩm kích
thích sự phát triển của cây cao su
Ngoài lợi ích kinh tế, cây cao su được xếp vào cây phục vụ cho việc chống xói mòn như các
loại cây lấy gỗ khác là một thực tế, đây là loại cây đa lợi ích - lấy gỗ, mủ và bảo vệ môi trường
và còn là rừng phòng hộ đầu nguồn, là mái nhà sinh thái cho toàn bộ khu vực.
 Cộng đồng trách nhiệm phát triển bền vững
Bằng hình thức góp đất trồng rừng, trồng cao su, đồng bào dân tộc Sơn La đã có cổ phẩn
trong Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và bản thân họ trở thành công nhân của Tập đoàn.
Đây là mô hình mới chỉ có ở Sơn La. Nó không chỉ giúp người dân nơi đây ổn định về kinh tế,
mà còn gắn họ với trách nhiệm là người chủ thật sự của các sản phẩm trên mảnh đất của họ,
chăm lo cho sự phát triển của cây cao su.

dân, nhất là khi hàng nghìn héc ta quế không đem lại hiệu quả kinh tế, lãng phí diện tích canh tác
của bà con. Nhiều người dân nản lòng, do dự khi nghe đến chủ trương trồng cây cao su
Đưa cây cao su ngược lên vùng núi cao Tây Bắc là một chủ trương lớn của Chính phủ,
nhằm làm thay đổi diện mạo bức tranh kinh tế vốn còn nhiều khó khăn của địa phương, kết hợp
phát triển vùng nguyên liệu cho ngành.
Việc phát triển cây cao su ở Tây Bắc theo một số chuyên gia sẽ có hai khó khăn lớn. Thứ
nhất: Kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, điện, nước, trình độ canh tác của nông dân còn nhiều
hạn chế. Đây là vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nên vốn tự lực trong dân hầu
như không có, đời sống bà con còn khó khăn. Độ dốc đất canh tác cao, địa hình chia cắt nên khó
hình thành vùng sản xuất tập trung quy mô lớn.
Mặc dù tập đoàn Cao su Việt Nam cũng như các công ty cổ phần cao su Sơn La, Điện
Biên, Lai Châu đã tính đến phương án mời gọi các hộ dân tham gia công ty bằng vốn góp để làm
cao su ‘đại điền”, nhưng với địa hình và tập quán của bà con dân tộc, các công ty cổ phần cao su
sẽ mất rất nhiều thời gian để tạo nên phương thức sản xuất mới. Mà như thế cũng đồng nghĩa với
chi phí đầu vào sẽ tăng thêm.
Nếu trông cao su ở vùng thấp như Sơn La đã có sự khẳng định để phát triển, nhưng lên
cao hơn một chút Điện Biên và Lai Châu, liệu năng suất có cao ? Đấy chưa tính đến yếu tố địa
chất ở Lai Châu, nơi có độ dốc cao, nhiều đứt gãy, có độ lún cao, nền đất đá vôi, với những điều
kiện như vậy, cây cao su có cho được năng suất cao. Một điều không thể không nhắc đến là khi
phát triển diện tích cao su ở khu vực Tây Bắc đồng nghĩa với việc diện tích trồng các loại cây
lương thực khác sẽ giảm đi.
Thứ hai thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường. Trong khi trồng cao su đòi hỏi quy trình
kỹ thuật chặt chẽ, liên hoàn. Điều này khiến việc đầu tư phát triển cao su ở Tây Bắc tốn nhiều chi
phí hơn so với các tỉnh phía Nam. Hiện giá cao su đang đứng ở mức khá cao, nhưng đến thời
điểm 5-6 năm tới, khi những cây cao su đầu tiên vùng Tây Bắc cho mủ, giá mủ cao su xuống mọi
chuyện sẽ như thế nào.
4. Đánh giá hiệu quả chính sách đưa cây cao su lên núi
 Hiệu quả về mặt xã hội
Chính sách đưa cây cao su lên núi là một chính sách mới, một bước đột phá lớn tạo điều
kiện tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có như: đất đai, nguồn lao động tại chỗ để nâng cao thu

hiệu quả. Nhưng để đạt được điều đó đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố, các bên tham gia để
giải quyết những khó khăn khi thực hiện chính sách này.
5. Các giải pháp khắc phục khó khăn khi thực hiện chính sách
Để chính sách đạt được hiệu quả cao nhất đòi hỏi các cấp địa phương và cơ quan nhà
nước cần thực hiện các giải pháp để khắc phục những khó khăn đang tồn tại.
Thứ nhất, muốn người dân địa phương cùng chung tay góp đất, cùng xây dựng cho sự
phát triển của cây cao su cần phổ biến đầy đủ cho người dân kiến thức về cây cao su, lợi ích mà
nó mang lại cho sự phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế vùng nói riêng. Để mỗi người
dân hiểu là một điều không dễ, cần kiên trì và hiểu phong tục tập quán của người dân, nắm bắt
được người dân nghĩ gì, muốn gì. Có như vậy khi chính sách đi vào thực hiện mới huy động
được toàn thể nhân dân địa phương tham gia.
Thứ hai, để phát triển bền vững cây cao su cần có những chiến lược cụ thể, thiết thực.
Phát triển đồng loạt sau đó nảy sinh nhiều vấn đề đến giá cả, thị trường, giống cây, dịch bệnh,…
cũng là những sai sót trong thực thi nhiều chính sách ở nước ta. Vì vậy, theo công văn số
178/VPCP-NN của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã lưu ý
các tỉnh Tây Bắc gồm Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, trong việc phát triển cây cao su, cần phải
thận trọng, tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội, phát triển tự phát làm theo phong trào. UBND
các tỉnh trên cần chủ động phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) tổ
chức khảo sát xác định những tiểu vùng có điều kiện tự nhiên, sinh thái phù hợp với việc trồng
cây cao su để xây dựng quy hoạch và dự án đầu tư phát triển, đồng thời có bước đi và giải pháp
đồng bộ về chính sách và tổ chức sản xuất, bảo đảm thực hiện dự án có hiệu quả.
Thứ ba, đối với những khó khăn do kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, điện, nước, trình độ
canh tác của nông dân, và điều kiện địa hình chia cắt cần tổ chức khảo sát xác định những tiểu
vùng có điều kiện tự nhiên, sinh thái phù hợp với việc trồng cây cao su để xây dựng quy hoạch
và dự án đầu tư phát triển, đồng thời có bước đi và giải pháp đồng bộ về chính sách và tổ chức
sản xuất, bảo đảm thực hiện dự án có hiệu quả.
Thứ tư, đối với những khắc nghiệt do thời tiết, giải pháp cần thiết đó là tránh trồng những
cây cao su mới trực tiếp vào mùa rét, trồng vào mùa khô hanh nhưng phải đảm bảo đủ các điều
kiện chăm sóc hợp lý đặc biệt là xây dựng hệ thống nước tưới đầy đủ. Việc làm này đòi hỏi tốn
kém rất nhiều chi phí nhưng nếu cây cao su chết đi thì thiệt hại còn lớn gấp bội, không những về

 Thiết kế vị trí trồng cây cao su trên núi với Hố đa năng dùng để giữ ẩm, tích mùn và
bón phân
 Khi đưa cây cao su lên núi phải ngăn ngừa và phòng trừ những loại bệnh và loài
sâu mà cây cao su thường gặp
 Bảo vệ lô cao su
Ở những vùng trồng cao su có khả năng dễ bị trâu bò hoặc thú rừng phá hoại phải có
những công trình bảo vệ. Đào hào hoặc làm hàng rào chống trâu bò và 29 các loài thú rừng tùy
theo điều kiện cụ thể của từng nơi. Các đơn vị phải tổ chức lực lượng trực gác bảo vệ vườn cây
Trên đây là những tiêu chuẩn kĩ thuật cơ bản cho việc phát triển trồng cây cao su ở vùng
núi phía tây Bắc. Để thực hiện được điều này không chỉ có sự đầu tư về giống, kĩ thuật,…mà một
điều quan trọng đó là con người. Cần có các đợt bổ trợ kiến thức không chỉ cho người công nhân
trực tiếp hoạt động tại vườn mà còn đầu tư tìm kiếm các kĩ sư nông nghiệp trang bị đủ các kiến
thức cơ bản và hiểu sâu sắc về chính sách này có những khó khăn và mang lại lợi ích gì.
IV. Kiến nghị
 Đối với Nhà nước
Trước tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm gần đây, ba nước xuất khẩu
cao su lớn nhất thế giới (Thái Lan, Indonesia, Malaysia) đều cắt giảm sản xuất trong năm 2009.
Trong khi đó, tiềm năng phát triển cao su tại Việt Nam vẫn còn rất lớn với 27% diện tích cao su
chưa được khai thác. Việc đưa cây cao su lên trồng tại các vùng núi phía Bắc có thể là một trong
những giải pháp quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển nông thôn ở khu
vực này. Để thực hiện được điều đó Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ về vốn, đầu tư mở
rộng các ngành công nghiệp cao su có sự quản lí của nhà nước. Bên cạnh đó cần linh hoạt trong
hệ thống pháp luật để cho cây cao su một hướng đi bễn vững và hiệu quả.
Nghiên cứu chính sách cũng là một nội dung quan trọng trong việc đánh giá thực trạng phát
triển của cây cao su theo thị trường. Vì vậy, theo dõi tình hình phát triển ngành công nghiệp cao
su trên thế giới cũng là điều quan trọng để điều chỉnh các nhân tố của cây cao su trong nước. Nhà
nước cần lập ra các cơ quan chuyên ngành thực hiện công việc này. Hiện nay, mới chỉ có Hiệp
hội Cao su Việt Nam. Đây là một tổ chức tự nguyện có mục đích là phối hợp hoạt động hiệu quả
và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Hội viên, thúc đẩy ngành cao su Việt Nam phát triển theo
hướng bền vững và hợp tác quốc tế, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường

xa cây cao su sẽ còn phát triển và đem lại lợi ích nhiều hơn nếu chúng ta đi đúng hướng và đúng
cách.
Tài liệu tham khảo
1, Hành trình đưa cây cao su lên đất Tây Bắc, Ngày 25/05/2010,
< />2, Ánh Tuyết, Cây Cao su: “Vàng trắng” Tây Bắc, ngày 24/11/2010,
< />trang-Tay-Bac-n754>
3, Đánh giá tiềm năng kinh tế và tác động xã hội của việc trồng và chế biến cây cao su tại Tây
Bắc,ngày 30/03/2009
< />4, Hoàng Anh, Phủ xanh cao su Tây Bắc Vẫn phải thận trọng,ngày 19/08/2010,
< >


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status