1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thạch Thành là một huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hoá
có vị trí địa lý : Từ 20
0
23
'
05
"
- 20
0
23
'
50
"
Vĩ độ Bắc.
Từ 105
0
14
'
30
''
- 105
0
49
'
00
''
Kinh độ Đông.
nông nghiệp theo hướng hàng hoá đa dạng sản phẩm và nâng cao chất lượng
sản phẩm (Nguồn phòng NN huyện).
Tuy nhiên, thực trạng sản xuất nông nghiệp ở huyện Thạch Thành đang
còn nhiều hạn chế, phát triển chưa đồng đều chưa tương xứng với tiềm năng
về đất đai địa hình và điều kiện tự nhiên của huyện.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 55.919,44 ha; Trong đó đất nông
nghiệp là: 44.874,63ha, đất phi nông nghiệp là: 7898,03ha, đất chưa sử dụng
là: 2585,83ha (Nguồn phòng Tài nguyên & Môi trường 2008 của huyện). Bên
cạnh đó, trong tổng diện tích đất đang đưa vào sản xuất nông nghiệp thì việc
bố trí cây trồng trên từng loại đất, từng vùng sinh thái lại chưa hợp lý, còn
manh mún và thiếu tập trung. Trong đó diện tích dành cho các cây trồng hàng
hoá có hiệu quả kinh tế cao như cây Cao su, cây Mía còn ít và chưa phù hợp
với một huyện mà có 3 nông trường thuộc Công ty cao su Thanh hoá và 1 nhà
máy Mía đường Đài loan, trên địa bàn của huyện diện tích cây Cao su mới
dừng ở con số là: 2.967,6ha.
Diện tích Mía là: 6.287,2ha năm 2007, năm 2008 có chiều hướng giảm
xuống còn 6183,7 ha, năng xuất của các cây trồng trên không cao và dẫn đến
hiệu quả kinh tế còn thấp.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xất nông nghiệp, góp phần phát
triển kinh tế của huyện trong những năm tới, thực hiện tốt công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết IX
của Đảng cộng sản Việt Nam, cần tạo ra một khối lượng lớn hàng hoá nông
nghiệp với hệ thống bao gồm cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng
tốt, có tính cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước từng bước mang lại
thu nhập kinh tế cao và bền vững cho khu vực nông thôn, đặc biệt là khu vực
2
nông thôn miền núi như huyện Thạch Thành. Để thực hiện tốt các mục tiêu trên
cần phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong đó chuyển
dịch cơ cấu cây trồng theo hướng hàng hoá. Đặc biệt một số cây trồng có tính
hàng hóa cao, vừa bảo vệ được môi trường sinh thái cao như cây cao su.
Các yếu tố tự nhiên bao gồm, đất nước, khí hậu, các yếu tố về cây trồng
và các yếu tố kinh tế - xã hội bao gồm các cơ chế, chính sách, thị trường, giá
cả, dịch vụ, điều kiện cơ sở hạ tầng và nông hộ… có ảnh hưởng trực tiếp đến
việc phát triển cây cao su theo hướng hàng hoá của huyện Thạch Thành.
Các nông hộ tham gia nghiên cứu.
Hệ thống cây trồng hiện có.
1.4.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu điều kiện tự, nhiên kinh tế, xã hội của
huyện Thạch Thành có liên quan đến phát triển cây cao su làm nguyên liệu
phục vụ cho công nghiệp chế biến.
4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1. Cơ sở khoa học về cây trồng
2.1.1. Cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo
không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng
hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế xã hội sẵn có .(Đào Thế Tuấn,
1984) [1]
Nội dung cốt lõi của cơ cấu biểu hiện vị trí, vai trò của từng bộ phận
và mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng trong tổng thể . Một cơ cấu có
tính ổn định tương đối và được thay đổi để ngày càng hoàn thiện, phù hợp với
điều kiện khách quan, điều kiện lịch sử, điều kiện xã hội nhất định. Cơ cấu
cây trồng phụ thuộc rất nghiêm ngặt vào điều kiện tự nhiên, các nguồn tài
nguyên và điều kiện kinh tế - xã hôi. Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu không
phải là miục tiêu mà là phương tiện để tăng trưởng và phát triển sản xuất. Cơ
cấu cây trồng còn là cơ sở để bố trí mùa vụ, chế độ luân canh cây trồng thay
đổi theo những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực
tiễn sản xuất đòi hỏi và cũng đặt ra cho ngành trồng trọt những yêu cầu cần
giải quyết.
Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên
sinh trưởng. Tổng tích ôn này phù thuộc vào thời gian và đặc điểm sinh học
của cây trồng và lượng bức xạ mặt trời cung cấp được. Đó là những căn cứ để
chúng ta bố chí mùa vụ, cải tiến cơ cấu cây trồng, né tránh thời tiết bất thuận
- Lượng mưa và cơ cấu cây trồng:
Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng. Cây trồng đòi hỏi
một lượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng. Lượng
nước mà cây tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây
trồng(gọi là hệ số tiêu thụ nước) VD như cây ngô 250 – 400; lúa 500 – 800;
bông 300 – 500; cây gỗ 400 – 600,…(Fao,1991)(Dẫn theo Trần Đức Hạnh,
1997 [7].
Hầu hết trong sản xuất nông nghiệp, lượng mưa cung cấp phần lớn cho
6
cây trồng đặc biệt là những vùng không có hệ thống thủy lợi chủ động. Để sản
xuất nông nghiệp có hiệu quả đòi hỏi cần nắm chắc qui luật của mưa để tận
dụng, khai thác và lưa chọn hệ thống cây trồng phù hợp.
+ Đất đai và cơ cấu cây trồng:
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là công cụ sản xuất đặc biệt
trong sản xuất nông nghiệp. Đất và khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào
cây trồng. Vì vậy phải nắm được đặc điểm của mối quan hệ giữa cây trồng
với đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý. Tùy thuộc vào điều
kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới của đất để bố
trí hệ thống cây trồng cho phù hợp.
Ngoài ra đất còn là thành phần quan trọng trong hệ sinh thái, là nguồn
cung sấp dinh dưỡng cho cây trồng. Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp
cho trồng cây lấy củ; Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù
hợp cho các cây trồng ưa nước; Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương
thường sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao trên các loại đất có
thành phần cơ giới nhẹ(Dẫn theo Lý Nhạc, 1987)[8].
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất quyết định quan trọng đến
năng suất và chất lượng cây trồng hơn là quyết định đến tính thích ứng. Tuy
sinh thái nông nghiệp. Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái này
còn có các thành phần sống khác như cỏ dại sâu, bệnh, vi sinh vật, các động
vật, côn trùng và những sinh vật có ích khác. Các thành phần sống đó cùng
với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau tạo nên
các mối quan hệ phức tạp. Chúng tạo dựng và duy trì cân bằng sinh học trong
quần thể theo hướng hạn chế được các mặt có hại, phát huy được các mặt có
lợi đối với con người là vấn đề quan tâm trong quần thể sinh vật của hệ sinh
thái nông nghiệp (Lý Nhạc 1987)[8] (Đào Thế Tuấn, 1984.[1].
Trong bố trí cơ cấu cây trồng cần cần chú ý đến các mối quan hệ giữa
8
các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp, chúng ta cần dựa theo
các nguyên tắc sau:
- Lợi dụng các mối quan hệ tốt giữa các loài sinh vật với cây trồng.
- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống có hại cho cây
trồng và lợi ích của con người.
Các mối quan hệ giữa sinh vật với cây trồng được biểu hiện qua các
mối quan hệ như cạnh tranh, cộng sinh, ký sinh và tuân thủ theo các mắt xích
sinh học trong dây chuyền dinh dưỡng. Vì vậy trong chuyển đổi cơ cấu cây
trồng cần chú ý các mặt như:
Xác lập thành, tỷ lệ giống cây trồng thích hợp với từng điều kiện cụ
thể của từng vùng sinh thái.
Cơ cấu thời vụ tốt nhất để tránh thời tiết bất thuận, tránh độc canh một
loại cây trồng, chọn các giống cây trồng phù hợp cho vùng nhằm đem lại
năng suất, sản lượng, chất lượng của cây trồng đồng thời hạn chế được các tác
động xấu từ các yếu tố ngoại cảnh cũng như sâu bệnh hại gây ra.
Nghiên cứu bố trí trồng xen nhiều loại cây trồng trong một diện tích
một cách hợp lý nhằm tạo nên sự tác động tương hỗ có lợi đồng thời tăng hiệu
suất sử dụng đất.
+ Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng:
Mục đích cuối cùng của chuyển đổi cơ cấu cây trồng là hiệu quả kinh
nghiệp và phát triển nông thôn.
Kinh tế hộ là kinh tế của hộ nông nghiệp sống ở nông thôn, bao gồm
cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp. Hộ nông dân là các nông hộ
có phương tiện sản xuất từ ruộng đất, sử dụng lao động chủ yếu là nguồn của
gia đình, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nư các nông trại, nhưng về
cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia hoạt động trong thị trường với một
trình độ ít hoàn chỉnh. Về cơ bản hộ nông dân có những đặc điểm sau (Dẫn
theo tác giả Đào Thế Tuấn, 1997).[6] :
10
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là
đơn vị tiêu dùng sản phẩm.
Quan hệ sản xuất và tiêu dùng biểu hiện ở trình độ phát triển của nông
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ này quyết
định đến quan hệ giữa nông hộ với thị trường.
Các nông hộ ngoài việc tham gia vào hoạt động nông nghiệp còn tham
gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau nên khó giới
hạn như thế nào là một hộ nông dân. Vì vậy, hộ nông dân tái sản xuất giản đơn
nhờ vào ruộng đất thông qua quá trình cải tiến chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhờ
đó mà tái sản xuất trong nông nghiệp, phục vụ lợi ích chung của xã hội nên cần
có những chính sách xã hội đầu tư thích hợp cho lĩnh vực này.
Hộ nông dânkhông phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà tập
hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục tiêu và cơ chế hoạt động khác nhau.
Căn cứ vào mục tiêu và cơ cấu hoạt động của nông hộ để phân biệt được các
kiểu hộ nông dân. Đào Thế Tuấn, 1997.[6]
Kiểu hộ nông dân hoàn toàn tự cấp: Trong điều kiện này người nông
dân ít có phản ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư.
Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có bán một phần nông sản đổi lấy hàng
tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với thị trường(chủ yếu là giá cả vật tư).
Kiểu hộ bán phần lớn sản phẩm nông sản có phản ứng nhiều với thị
trường.
+ Chính sách và cơ cấu cây trồng.
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cấy trồng một cách có cơ sở
khoa học, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội ta
cần có chính sách về khoa học – công nghệ để thông qua nghiên cứu, nhằm thiết
lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cây
trồng và cơ cấu cây trồng có hiệu quả; đồng thời chuyển giao các tiến bộ khoa
12
học kỹ thuật cho nông hộ nhằm nhân rộng mô hình. Bên cạnh đó cũng cần có cơ
chế chính sách về tài chính, hành lang pháp lý để hỗ trợ cho người nông dân khi
bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng như các chính sách
khen thưởng để khuyến khích những nông hộ, địa phương chuyển đổi cơ cấu cây
trồng thành công, có hiệu quả và là tiền đề cho nhân rộng mô hình.
Trong quá trình phát triển kinh tế nói chung, sự phân hóa giàu nghèo
càng mạnh, có sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, để hạn chế
thực trạng này cần thiến phải có sự phát triển công nghiệp hóa nông thôn, thâm
canh tăng vụ nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao và có
sức cạnh tranh lớn. Đa dạng hóa cây trồng là đa dạng hóa các sản phẩm nông
nghiệp là quá trình chủ yếu để cải tiến cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu
về hàng nông sản của thị trường trong và ngoài nước ngày càng tăng cao.
Quá trình đa dạng hóa cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ
quyết định và còn tùy thuộc đặc điểm của từng vùng, những vấn đề và vốn
đầu tư cho sản xuất là yếu tố quyết định cơ bản. Các hộ nghèo thường sản
xuất kinh doanh đa dạng, chỉ khi những nông hộ này giàu lên họ mới tập
trung vào sản xuất kinh doanh một số ngành nghề nhất định có trọng tâm.
Như vậy, chuyên môn hóa chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hóa đã
phát triển đến mức cao Đào Thế Tuấn, 1997.[6]
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn phát sinh những khó
khăn dẫn đến nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và chuyển
đổi cơ cấu cây trồng đó là vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản. Do vậy, để tìm
kiếm, mở rộng thị trường, nhà nước cần có những chính sách tạo môi trường
trường cung ứng nông sản hàng hóa cho toàn xã hội và thị trường tiêu thụ sản
phẩm của ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và đó là
nơi cung cấp lao động cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, thị
trường và sự cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thị
14
trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn chế
là nếu để cho phát triển tự phát sẽ dẫn đến mất cân đối ở một thời điểm hay
giai đoạn nào đó. Vì vậy cần có những chính sách của nhà nước điều tiết kinh
tế vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường.
* Đặc tính sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây cao su.
Cây cao su Hevea brasiliensis, ở tình trạng hoang dại tại vùng nguyên
quán Amazon (Nam Mỹ), với mật độ cây thưa thớt và với chu kỳ sống trên
100 năm, có dạng cây rừng lớn (đại mộc)
Khi nhân trồng trên sản xuất, do việc tính toán hiệu quả kinh tế của cây
trên việc sử dụng đất và nguồn vốn đầu tư nên cây cao su được đặt trong điều
kiện sống khác hẳn với tình trạng hoang dại cụ thể:
- Từng cá thể cây cao su được dành một khoảng không gian rất hẹp: từ
18 – 25m
2
/1cây (mật độ trồng 400 – 550cây/ha) theo TS Nguyễn Thị Huệ
“ Cây cao su” 2006.[10]. Với mật độ như tế này chu kỳ sống của cây
cao su giới hạn từ 30 – 40 năm, trong đó chia làm 2 thời kỳ:
+ Thời kỳ kiến thiết cơ bản(KTCB): Là khoảng thời gian từ lúc trồng
cho đến lúc bắt đầu khai thác mủ(cạo mủ), thông thường từ 5-7 năm tùy theo
điều kiện sinh thái và chăm sóc của từng nơi. Cuối thời gian này, trong điều
kiện tăng trưởng tốt, cây thường cao khoảng 8-10 m, Vanh đo ở chiều cao
cách mặt đất 1m đạt 50cm và tán cây đã che phủ hầu như toàn bộ diện tích.
+ Thời kỳ kinh doanh(KD): Là thời gian khai thác mủ của cây, thời kỳ
này khoảng 20-25 năm. Thời kỳ này cây vẫn tiếp tục tăng trưởng tuy nhiên
chậm hơn thời kỳ kiến thiết cơ bản vào cuối niên hạn trồng(thanh lý vườn
Cây cao su từ 5-6 tuổi trở lên bắt đầu ra hoa thường mỗi năm ra hoa 1
lần vào lúc cây ra lá non tương đối ổn định. Đối với khí hậu ở Việt Nam vào
khoảng thánh 2-3. Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu, hoa được và hoa cái
riêng biệt nhưng mọc trên cùng một cây, là loại hoa chùm.
Hoa đực thường nhỏ hơn hoa cái và chỉ có 5 cánh đài và 10 nhị đực
nhỏ không cuống, mỗi hoa đực có thể cho 1000 hạt phấn và rất mẫn cảm với
16
môi trường ẩm ướt nên rất dễ bị hỏng khi gặp trời mưa.
Hoa cái mọc riêng ở đầu cành và có kích thước to hơn hoa đực, không
có cánh tràng chỉ có 5 cánh đài. Hoa cái cấu tạo gồm 1 bầu noãn có 3 tâm bì,
mỗi tâm bì là 1 buồng nhỏ đóng kín chứa 1 noãn. Trong bầu noãn có dấu vết
của 10 nhị đực lép. Vào thời điểm hoa chín hoa có màu trắng ẩm ướt sau đó 4
ngày chuyển sang màu nâu đỏ. Hoa đực và hoa cái không chín vào cùng lúc
mà thường hoa đực chín trước.
- Quả cao su:
Quả cao su có hình tròn hơi dẹp có đường kính từ 3-5cm, là quả nang
gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chưa 1 hạt và trong thực tế ít thấy quả cao su chứa ít
hơn 3 hạt. Vỏ quả lúc còn non có màu xanh chứa nhiều mủ, khi quả khô có
màu nâu nhạt. Quả cao su vỡ nhiều vào lúc thời tiết khô hạn. Vỏ quả cao su
chứa nhiều lớp tế bào trong đó 3 lớp tế bào lignin cơ học, lúc quả chín lớp
lignin cơ học này hoạt động mạnh gây vỡ quả theo đường giữa của mỗi ngăn
và phóng hạt ra xa.
- Vỏ và hệ thống ống mủ:
- Khi cát ngang thân cây, có thể phân biệt được 3 phần rõ rệt:
Vỏ: Cấu tạo và chức năng hoạt động được chia làm 3 lớp như sau;
- Tầng mộc thiên: Là các lớp tế bào ngoài cùng của vỏ gồm các lớp tế
bào chết nên thường cứng, xù xì. Đây là lớp bảo vệ cho các lớp bên trong.
- Lớp trung bì: Có thể phân biệt thành 2 lớp:
Lớp ngoài là da cát khô: Có nhiều tế bào đá.
Lớp trong là da cát nhuyễn: Có chứa một ít ống mủ tuy nhiên các ổng
- Protein = 2%
- Chất khoáng = 0,5-1%
Tăng trưởng của cây cao su: Ngay sau khi trồng, dù là cây thực sinh
hay cây ghép, tròng 1,5 đến 2 năm đầu tiên, cây cao su non phát triển do sự
18
hình thành các tầng lá mới từ chồi ngọn của thân chính cho nên cây chỉ có
một thân chính. Sự phân cành đầu tiên khi cây cao su đạt tầng lá thứ 9 hoặc
thứ 10, lúc này cây được khoảng 2 tuổi và có chiều cao 2m.
Nhịp độ tăng trưởng đồng nghĩa với việc tốc độ tăng vanh thân, đây là
một đặc tính di truyền của giống cây nhưng chịu ảnh hưởng của môi trường và
điều kiện chăm sóc. Trên các vườn cây cao su thực sinh, tốc độ đồng đều về
tăng trưởng giưa các cây rất thấp trong khi đó đối với các vườn gốc ghép do
mang các đặc tính tốt của dòng bố mẹ nên tốc độ tăng trưởng đồng đều rất cao.
+ Yêu cầu ngoại cảnh của cây cao su:
Cây cao su có nguồn gốc từ cây nhiệt đới tại vùng Amazone – Nam
Mỹ nên cây cao su có các yêu cầu ngoại cảnh cụ thể như sau:
- Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều, nhiệt độ thích hợp
nhất là từ 25- 30
0
C, trên 40
0
C cây khô héo, dưới 10
0
C cây có thể chịu được
trong thời gian ngắn nếu kéo dài cây sẽ bị gây hại như lá cây bị héo, rụng,
chồi ngọn ngừng tăng trưởng, thân cây cao su nhất là thời kỳ KTCB bị nứt và
xì mủ…Nhiệt độ thấp dưới 5
0
C kéo dài dẫn đến cây chết. Ơ nhiệt độ 25
0
Trung
quốc
(Hải
Nam)
Trung
quốc
(Vân
Nam)
Vĩ độ
3
0
08 nam 3
0
07 nam 7
0
12 nam 13
0
bắc 21
0
52 bắc
Nhiệt độ TB
0
C
26,9 27,41 27,4 23,4 21,7
T
0
thấp TB
0
C
26,2 26,6 26,5 17,0 15,6
mỗi bên vĩ tuyến, có thể trồng đến cao trình 400m.
Hiện nay bằng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống chịu lạnh, Trung
Quốc đã trồng cao su lên tới độ cao 700-900m so với mực nước biển. Mới
đây, trong qui trình kỹ thuật trồng cao su của Tập đoàn cao su Việt Nam ban
hành năm 2004 cũng đã đưa ra tiêu chuẩn mới về đất trồng cao su (tại điều
65) như sau; “ Đất trồng cao phải có độ dốc dưới 30%, độ cao dưới 700m,
không bị ngập úng, không có lớp laterit hoặc tầng sỏi, đá trong phạm vi độ
sâu 80cm cách mặt đất” Qui trình sản xuất cao su.[11].
+ Độ dốc: Độ dốc đất có liên quan đến độ phì của đất. Đất càng dốc,
xói mòn càng mạnh khiến các chất dinh dưỡng trong đất bị mất nhanh chóng.
Vì vậy khi trồng cao su trên các tầng đất dốc cần phải thiêt lập hệ thống bảo
vệ đất chống xói mòn như hệ thống băng, mương, đường đồng mức và kết
hợp trồng xen trong thời KTCB để chống xói mòn rửa trôi.
+ Lý tính và hóa tính của đất trồng cao su:
-PH: PH thích hợp nhất chao cây cao su phát triển tốt là: 5,0-6,0; giới
hạn PH có thể trồng cao su là 4,0-7,0.
- Chiều cao đất: Đây là yếu tố quan trọng, tầng đất canh tác lý tưởng
cho việc trồng cao su là có độ sâu 2m trong đó không có tầng trở ngại cho
việc phát triển của rễ cao su như lớp thủy cấp treo, lớp literits hóa dày đặc,
lớp đá tảng…Tuy nhiên, trong thực tế các tầng canh tác từ 1m trở lên có thể
xem là đạt yêu cầu để trồng cao su. (Qui trình sản xuất cao su).[11].
- Thành phần hạt(sa cấu): Đất trồng cao su phải có thành phần sét ở
21
lớp đất mặt(0-30 cm) tối thiểu là 20% và lớp đất sâu hơn(>30cm) tối thiểu là
25% (Đề tài đất trồng cao su 1990).[12]. Những nơi có khí hậu khô hạn, đất
có tỷ lệ sét từ 20-25%(đất cát pha sét) được xem là giới hạn cho cây cao su.
Các loại đất có thành phần hạt thô chiếm trên 30% ở chiều sâu 20-30cm cách
đất thì ít thích hợp cho cây cao su. Đất có thành phàn hạt thô chiếm 50%
trong 80cm lớp đất mặt xem như không thích hợp cho trồng cao su. Các thành
phần hạt thô sẽ gây ảnh hưởng cho sự phát triển của rễ cao su và bất lợi cho
Dưới 0,01 0,01-0,05 0,05-0,1 0,1-0,2 Trên 1,0
Mg0 dtP
2
0
5
dt
(1dt/100g)
Dưới 0,1 0,1-0,5 0,5-2 2,0-6,0 Trên 6,0
T (1dt/100g) Dưới 1,0 1-2 2-5 5-10 Trên 10
V (1dt/100g) Dưới 1,0 10-20 20-40 Trên 40 Trên 40
Nguồn: RRIV 1990(đề tài đất trồng cao su).[12]
22
Đối với cây cao su, các chất dinh dưỡng trong đất không phải là yếu tố
giới hạn nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu trồng cao su trên các chân đất nghèo
dinh dưỡng, cần có mức đầu tư phân bón cao điều này sẽ làm ảnh hưởng đến
chi phí đầu tư ban đầu của nông hộ. Các nghiên cứu cho thấy lý tính của đất
có ảnh hưởng nhiều hơn là háo tính của đất. Vì vậy cây cao su có thể trồng
trên đất rừng nghèo dinh dưỡng với điều kiện lý tính của đất phù hợp.
2.2. Phương pháp luận trong nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng
sang cây cao su.
2.2.1. Lý thuyết về hệ thống.
Trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội lời người mọi hoạt động
đều diễn ra bởi các hợp phần (components) có những mối liên hệ tương tác,
hữu cơ với nhau được gọi là hệ thống. Vì vậy, muốn nghiên cứu một sự vật,
hiện tượng, hay hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ
sở của phương pháp luận và tính hệ thống là đặc trưng, bản chất của chúng
(Đào Châu Thu, 2003).[13].
Lý thuyết hệ thống đã được nhiều người nghiên cứu và được áp dụng
ngày càng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học giúp sự hiểu biết và các mối
quan hệ tương hỗ. Cơ sở lý thuyết đã được L.Vonbertanlanty đề xướng vaod
- Tuy mỗi tác giả đều có một định nghĩa khác nhau về hệ thống nông
nghiệp, nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng hệ thống nông nghiệp thực
chất là một hệ sinh thái nông nghiệp được đặt trong một điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định, tức là hệ sinh thái nông nghiệp được con người tác động bằng
lao động, các tập quán canh tác, hệ thống các chính sách
Hệ thống nông nghiệp = hệ sinh thái nông nghiệp + các yếu tố kinh tế,
xã hội.
24
Hệ thống nông nghiệp bao gồm nhiều hệ phụ như hệ thống trồng trọt;
chăn nuôi; chế biến; ngành nghề; quản lý; lưu thông và phân phối.
- Hệ thống trồng trọt: Là hệ thống con và là hệ thống trung tâm của hệ
thống nông nghiệp, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ thống
khác như: Chăn nuôi; chế biến…. nói đến trồng trọt là nói đến cây trồng, cây
trồng được trồng với nhiều mục đích khác nhau: cung cấp lương thực, thực
phẩm; chăn nuôi; chế biến….
Hệ thống cây trồng: Theo tác giả Zandsảta (1981)).[15] thì hệ thống
cây trồng (Cropping system) là hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại
bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và
mối quan hệ giữa chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm tất cả các
yếu tố lý, hóa, sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học, sự
phân công trong nội bộ ngành Nông nghiệp ngày càng có sự thay đổi về tỷ lệ
phát triển thêm nhiều nghề mới, xuất hiện nhiều phân hệ mang tính liên tục và
không ngừng hoàn thiện, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội về các sản
phẩm nông nghiệp. Quá trình sản xuất và tiêu dùng là 2 quá trình đan xen
mang tính lịch sử và xã hội, có tác động qua lại với nhau. Sản xuất nông
nghiệp càng phát triển, phong phú và đa dạng thì càng đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của xã hội ngày càng tăng. Sự xuất hiện nhu cầu dùng mới ngày càng
thúc đẩy, cải tiến cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm mới.
Quan hệ này tuân theo nguyên lý phát triển, được chuyển đổi từ thấp đến cao,