TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
CHỦ ĐỀ:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ STOCKHOLM
SINH VIÊN: LƯU KHƯƠNG DUY
MÃ SV: 1344.55
LỚP: 55QD1
HÀ NỘI – 5/2014
Mục Lục
1. Giới thiệu
a) Tm hiu chung v th đô Stockholm - Thụy Đin
Stockholm là thủ đô của Thụy Điển, một thành phố đông dân nhất bán đảo
Scandinavia với dân số 871.952 người (năm 2010), trong khi vùng 1.372.565 tại khu đô
thị (năm 2010) và 2.119.760 người tại thủ đô (năm 2010). Tính đến năm 2010,
Stockholm đã trở thành nơi cư trú của khoảng 22% tổng dân số Thụy Điển.
Được thành lập từ năm 1250, hoặc đầu năm 1187, từ lâu Stockholm đã trở thành trung
tâm văn hóa, truyền thông, kinh tế, và chính trị của Thụy Điển. Stockholm có vị thế chiến
lược trải dọc 14 đảo trên bờ biển hướng Đông Nam của Thụy Điển và ở cửa hồ Mälaren,
gần quần đảo Stockholm và có giá trị lịch sử đặc biệt quan trọng.
Stockholm được GaWC xếp vào thành phố toàn cầu, với xếp hạng Beta+.
Trong Chỉ số Thành phố Toàn cầu 2008, Stockholm xếp hạng 24 thế giới, thứ 10 châu
Âu và đứng đầu Scandinavia. Stockholm nổi tiếng với vẻ đẹp của nó, các tòa nhà, kiến
trúc, nước nhiều và sạch và nhiều công viên. Đôi khi thành phố còn được mệnh danh là
Venice Phương Bắc.
Năm 2010, Thủ đô của Thụy Điển đã giành được danh hiệu “Thủ đô xanh của châu
Âu” do Ủy ban châu Âu phong tặng.
Thành phố Stockholm
Thụy Điển
Đô thị Stockholm
cũng cũng ưu tiên hiệu quả về chi phí trong quá trình bảo tồn nguồn tài nguyên. Mục tiêu
dài hạn của Stockholm là hoàn toàn không sử dụng nhiên liệu hóa thạch vào năm 2050
Hình 1.4: Mô hình hiệu quả năng lượng và môi trường bền vững thành phố Stockholm
2. Nội dung quản lý môi trường Thành phố Stockholm
a) Nước
Thành phố Stockholm thực hiện “Chương trình Tài nguyên Nước” (Water
Programme) trong giai đoạn 2006-2015 theo “Chỉ thị khung về Tài Nguyên Nước Châu
Âu” (EU Water Framework Directive – WFD). Chương trình Tài nguyên Nước quy định
cụ thể mục tiêu và biện pháp thực hiện để đạt chất lượng nước bề mặt tốt cho tất cả các
hồ và kênh rạch của thành phố.
Đồng thời, chương trình này cũng hướng tới mục tiêu phát triển các hoạt động giải trí
của những khu vực có tài nguyên nước. Hai vấn đề chính của môi trường sống của thủy
sinh tại Stockholm là hiện tượng phú dưỡng và các chất độc hại.
b) Năng Lượng
Trước những năm 1950, 1960 phần lớn các khu dân cư ở Stockholm được sưởi ấm
bằng nhiên liệu than, dầu nên Thủ đô của Thụy Điển đã bị ngợp trong bồ hóng và chỉ có
một màu xám xịt. Sau đó, chiến lược môi trường xanh, năng lượng sạch đã được khởi
xướng, Stockholm bắt đầu xây những khu đô thị mới và quyết định đem năng lượng tới
từng nhà, cả nước nóng và khí đốt bằng những hệ thống ngầm hiện đại. Đến năm 2010,
80% hộ gia đình ở đây đã được kết nối với hệ thống sưởi chung của khu phố và 83%
năng lượng dùng cho việc sưởi ấm là năng lượng sạch.
Việc chuyển đổi từ sưởi ấm bằng dầu sang sưởi ấm khu vực đã làm giảm 593.000 tấn
phát thải khí nhà kính kể từ năm 1990 đến nay. Việc sử dụng hệ thống sưởi ấm khu vực
có tích hợp quy trình kiểm soát ô nhiễm tiên tiến và quy trình được tối ưu hóa đã làm
giảm số lượng thiết bị đun dầu trước đây. Đồng thời còn giúp giảm lượng phát thải khí
CO2, và các chất gây độc hại. Tính từ đầu những năm 1960 cho đến nay, lượng SO2 đã
giảm được 95%.
Lượng phát thải từ giao thông vận tải tương đối thấp, tất cả loại tàu và xe buýt trong
nội thành đều chạy bằng nhiên liệu tái tạo. Ngoài ra, từ năm 1990, lượng phát thải khí
nhà kính đã giảm 25%. Và Hội đồng Thành phố đề ra mục tiêu đến năm 2050 sẽ không
mục đích dân sinh khác nhau…
Hình 2.1: Hammarby Sjöstad, khu đô thị “xanh” nhất Stockholm, một kiểu mẫu phát triển đô thị thân
thiện với môi trường của Thụy Điển
d) Giao thông
Stockholm đã xây dựng được một hệ thống giao thông vận tải rất “Thụy Điển”, hệ
thống này được đặt hàng hãng máy tính IBM có tên là Smarter Planet (hành tinh thông
minh). Chính quyền thành phố đã tốn khoảng 3,8 tỷ kronor (hơn 500 triệu USD) để xây
dựng hệ thống thu phí giờ cao điểm và cũng đã phải trải qua rất nhiều lần trưng cầu dân ý
cũng như đau đầu với luận điểm của phe đối lập khi cho rằng thu phí giờ cao điểm là đi
ngược lại với hình thái dân chủ. Nhưng rồi dự án cũng được thông qua và áp dụng. Việc
thu thuế cầu đường và giao thông nội thị đã giúp giảm 20% lưu lượng giao thông (xe cá
nhân) tại trung tâm thành phố trong vòng 4 năm, giảm 30-50% thời gian đi lại và giảm
10-14% lượng khí thải carbon. Lượng carbon thải ra ở Stockholm là thấp nhất châu Âu.
Hiện 77% lượng xe ra vào Thủ đô là phương tiện giao thông công cộng. Bên cạnh đó,
thành phố cũng xây dựng thêm 750km đường dành cho xe đạp. Kết quả là số lượng người
dân di chuyển bằng xe đạp đã tăng lên gấp đôi trong vòng 10 năm. 50% người dân đã có
thói quen sử dụng xe điện ngầm và có đến 50% xe buýt chạy bằng năng lượng tái tạo.
Từ tháng 8, năm 2011, Phòng Môi trường của Stockholm đã đưa ra các giải pháp quản
lý và công ty để chạy thử các ô tô điện. Trên 80% số lần chạy thử xe dựa trên việc vận
hành thử và giá trị kinh tế đã cho kết quả để đưa ra quyết định mua xe ô tô điện.
Các loại ô tô chạy bằng khí Êtanol giảm phát thiểu khí CO2 tối thiểu là 65% khi thay
từ nhiên liệu xăng dầu thông thường sang êtanol. Êtanol được sản xuất từ mía, các loại
cây và lúa mì giống Thụy Điển. Không chỉ các loại ô tô mà gần 75% lưu lượng giao
thông tại đây đều chạy bằng nguồn năng lượng tái tạo và các phương tiện vận tải đường
sắt đều sử dụng 100% năng lượng tái tạo. Stockholm có khoảng 400 chiếc xe bus chạy
bằng êtanol, là thành phố có lượng xe bus chạy bằng êtanol nhiều nhất thế giới, xấp xỉ
100 chiếc xe bus chạy bằng khí sinh học.
Các phương tiện chạy bằng khí sinh học giúp giảm 85% lượng phát thải khí CO2. Ở
Stockholm, khí sinh học chủ yếu được sản xuất từ bùn nước thải, nhưng cũng có các biện
pháp khác để sản xuất ra khí sinh học từ các phụ phẩm nông nghiệp và lượng thức ăn bỏ
bền vững chính quyền thành phố và các đối tác, các ngành công nghiệp khác nhau.
Đây là những kinh nhiệm đáng quý rút ra cho chính quyền thành phố ở Việt Nam.