TIỂU LUẬN CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA EU ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM - Pdf 25

CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA EU ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG
XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM
1. Dệt may
Các vấn đề TBT chủ yếu được quy định trong luật của EU liên quan đến ngành này
bao gồm:
- Ngăn chặn việc sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư
lượng hóa chất tối đa được phép tồn tại trong thành phẩm
- Tên sản phẩm dệt và nhãn sợi
- Đóng gói
- Đánh giá tuân thủ và dấu CE
a) Ngăn chặn việc sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và
dư lượng hóa chất tối đa được phép tồn tại trong thành phẩm
REACH: Quy định (EC) số 1907/2006 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày
18/12/2006 về việc đăng ký, đánh giá, cấp phép và hạn chế sử dụng các loại hóa
chất (REACH), đã thành lập Cơ quan Hóa chất châu Âu, sửa đổi Chỉ thị
1999/45/EC và thay thế Quy định của Hội đồng (EEC) số 793/93 và Quy định
của Ủy ban (EC) số 1488/94 cũng như Chỉ thị của Hội đồng số 76/769/EEC và
các Chỉ thị của Ủy ban số 91/155/EEC, 93/67/EEC, 93/105/EC và 2000/21/EC.
Mục đích chính của REACH là:
- Đảm bảo mọi hóa chất sử dụng ở EU, dù nhập khẩu hay sản xuất trong
khu vực đáp ứng các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn;
- Buộc các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu phải có trách nhiệm đối với
việc sử dụng và xử lý an toàn các chất của mình tạo ra;
- Thay thế các chất có nhiều khả năng nguy hại nhất bằng những chất ít nguy
hại hơn trong khả năng có thể;
- Thành lập Cơ quan Hóa chất châu Âu để đăng ký, đánh giá, phê duy ệt việc
sử dụng mọi hóa chất.
Vì thế, REACH chủ yếu đặt ra những giới hạn đối với việc sản xuất và sử dụng
hóa chất ở EU, không áp dụng trực tiếp đối với việc sử dụng hoá chất bởi
các nhà sản xuất của Việt Nam, ngoại trừ những quy định cấm và hạn chế cụ
thể tại Phụ lục XVII của Chỉ thị của Hội đồng ngày 27/7/1976 về việc điều

- Các Chỉ thị 96/73/EC và 73/44/EEC quy định chi tiết phương pháp phân
tích để kiểm tra thành phần sản phẩm dệt có đúng với thông tin trên nhãn
hay không ;
- Chỉ thị 2008/121/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 14/1/2009
về tên sản phẩm dệt (quy định lại).EU hiện đang đề xuất một quy định mới
về các loại tên sợi mới liên quan đến tên sản phẩm dệt, nhãn sợi và các thủ
tục liên quan để thực hiện các Chỉ thị nêu trên.
c) Đóng gói: các yêu cầu về dấu và nhận dạng, hạn chế sử dụng các kim loại
nặng
Chỉ thị của Nghị viện v à Hội đồng châu Âu số 94/62/EC ngày 20/12/1994 về
đóng gói và rác thải bao gói quy định các quốc gia thành viên EU phải áp dụng
việc hạn chế sử dụng kim loại nặng và đảm bảo bao gói được đánh dấu và nhận
dạng để tạo thuận lợi cho việc thu gom rác thải bao gói.
d) Đánh giá tuân thủ và dấu CE
Chỉ thị của Hội đồng 88/378/EEC ngày 3/5/1988 về việc điều chỉnh thống nhất
luật của các quốc gia thành viên về đảm bảo tính an toàn của các sản phẩm đồ chơi
đề ra các yêu cầu an toàn thiết yếu đối với các sản phẩm đồ chơi, kể cả các sản
phẩm đồ chơi được làm từ các vật liệu dệt may, đồng thời cũng quy định về dấu
CE.
Lưu ý: Nhìn chung dấu CE không bắt buộc đối với các sản phẩm dệt may .
2. Giày dép
Các vấn đề TBT chủ yếu được quy định trong luật của EU bao gồm:
- Sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất
- Sử dụng tên sản phẩm dệt và nhãn sợi
- Đóng gói
a) Hóa chất trong quá trình sản xuất
REACH áp dụng đối với các sản phẩm da và giày dép tương tự như đối với các sản
phẩm dệt may.
b) Vật liệu sử dụng: Yêu cầu nhãn hàng hóa
Chỉ thị 94/11/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 23/3/1994 về

a) Cấm sử dụng một số loại hóa chất trong quá trình sản xuất và dư lượng
hóa chất tối đa cho phép trong thành phẩm
REACH áp dụng đối với các sản phẩm gỗ trong trường hợp có sử dụng
các hóa chất bảo quả.
Chỉ thị 98/8/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 16/2/1998 về
việc bán các sản phẩm diệt sinh vật gây hại trên thị trường đề ra các hạn chế về
việc sử dụng chất diệt sinh vật gây hại (thuốc diệt côn trùng không phải cho nông
nghiệp) như các chất bảo quản gỗ.
b) Đánh giá tuân thủ và dấu CE
Chỉ thị 88/378/EEC của Hội đồng châu Âu ngày 3/5/1988 về việc điều chỉnh thống
nhất luật của các quốc gia thành viên để đảm bảo tính an toàn của đồ chơi đề ra
những yêu cầu an toàn tối thiểu áp dụng đối với đồ chơi, bao gồm cả đồ chơi làm
từ các vật liệu dệt may. Chỉ thị này cũng quy định về dấu CE.
c) Đóng gói
Tương tự như đối với ngành dệt may
d) Bảo tồn môi trường
Các quy định và đề xuất dưới đây đề ra các yêu cầu nhằm ngăn chặn việc nhập
khẩu vào EU các sản phẩm gỗ được chế biến từ gỗ khai thác bất hợp pháp và hỗ
trợ việc bảo tồn rừng ở các quốc gia thứ ba.
- Hiệp định Gỗ nhiệt đới quốc tế ban hành năm 2006 – Tuyên bố của Cộng
đồng châu Âu theo Điều 36(3) của Hiệp định – Tuyên bố của EC – Thực
hiện tại EU
- Đề xuất Quy định của Nghị viện và Hội đồng châu Âu về các nghĩa vụ của
các bên bán gỗ và các sản phẩm gỗ trên thị trường {SEC(2008) 2615}
{SEC(2008) 2616}
- Chỉ thị FLEGT: Đề xuất Kế hoạch Hành động của EU về tăng cường thực
thi luật pháp, quản lý và thương mại lâm sản
Các thành viên WTO hiện còn bất đồng về việc các biện pháp môi trường có phải
là vấn đề TBT được điều chỉnh bởi Hiệp định TBT của WTO hay không, nếu có thì
sẽ phải được thông báo như quy định kỹ thuật TBT. Một số thành viên đề xuất các

Nam cũng phải tuân thủ để tiếp cận được thị trường EU.
Chỉ thị RoHs: Chỉ thị 2002/95/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày
27/1/2003 về việc hạn chế sử dụng các chất độc hại trong các sản phẩm điện và
điện tử. Chỉ thị RoHs có liên quan chặt chẽ với chỉ thị WEEE và được xây dựng
nhằm thúc đ ẩy việc ngăn chặn rác thải thông qua thiết kế sản phẩm, đồng thời tạo
thuận lợi cho việc tái sử dụng, tái chế và thu hồi các bộ phận cấu thành của các
thiết bị điện và điện tử lưu hành trên thị trường. Chỉ thị này cấm việc sử dụng
chì, thủy ngân, cadimi, crom 6+, poly -brominated biphenyls (PBB) hay
polybrominated diphenyl ethers (PBDE) với hàm lượng vượt quá mức tối đa cho
phép trong các sản phẩm điện và điện tử bán trên thị trường.
Hiện nay, Ủy ban châu Âu đang đưa ra một số đề xuất điều chỉnh các Chỉ thị
WEEE và RoHs để các bên liên quan có thể thực hiện các chỉ thị này một cách
hiệu quả hơn.
Chỉ thị 2006/66/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 6/9/2006 về pin và
ắc quy, các loại pin và ắc quy thải loại, bãi bỏ hiệu lực của Chỉ thị 91/157/EEC.
Chỉ thị này áp dụng đối với các loại pin sử dụng cho các sản phẩm điện và điện tử,
được xây dựng nhằm bảo vệ môi trường thông qua việc ngăn chặn rác thải, tái sử
dụng, tái chế và thu hồi các sản phẩm điện và điện tử.
c) Các yêu cầu về thiết kế thân thiện với môi trường và nhãn hàng hóa
Chỉ thị 2005/32/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 6/7/2005 lập ra
khuôn khổ cho các yêu cầu về thiết kế thân thiện với môi trường áp dụng đối với
các sản phẩm sử dụng năng lượng, sửa đổi Chỉ thị của Hội đồng số 92/42/EEC và
các Chỉ thị số 96/57/EC và 2000/55/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu.
Các thành viên WTO hiện còn bất đồng về việc các biện pháp môi trường có phải
là các vấn đề TBT được điều chỉnh bởi Hiệp định TBT của WTO hay không, nếu
có thì sẽ phải được thông báo như quy định kỹ thuật TBT. Một số thành viên đề
xuất các biện pháp như vậy phải được giải quyết trong khuôn khổ Ủy ban Thương
mại và Môi trường của WTO. EU không đưa Chỉ thị 2005/32/EC vào các thông
báo TBT của mình. Tuy nhiên, Văn phòng TBT của EU lại phát hành các thông
báo TBT đối với các biện pháp thực hiện Chỉ thị này.

và máy hỗn hợp trong gia đình
e) Đóng gói
Tương tự như quy định áp dụng đối với ngành dệt may .
6. Cá và các sản phẩm cá
Các vấn đề TBT chủ yếu quy định trong luật của EU bao gồm:
- Dấu sức khỏe, nhận dạng và nhãn hàng hóa
- Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
- Đóng gói
- Bảo vệ môi trường
- Bảo tồn môi trường
a) Dấu sức khỏe, nhận dạng và nhãn hàng hóa
Quy định (EC) số 853/2004 của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 29/4/2004
đề ra các yêu cầu vệ sinh cụ thể đối v ới thực phẩm có nguồn gốc động vật, trong
đó bao gồm các yêu cầu về dấu nhận dạng và nhãn của sản phẩm.
b) Các vật liệu nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
Tương tự như các sản phẩm nhựa ( xem 3b)
c) Đóng gói
Tương tự như đối với ngành dệt may .
d) Bảo vệ môi trường
Chỉ thị 98/8/EC của Nghị viện và Hội đồng châu Âu ngày 16/2/1998 về việc đưa ra
thị trường các sản phẩm trừ sinh vật có hại cũng đề ra những giới hạn sử dụng các
chất diệt sinh vật có hại (các chất diệt sinh vật không phải sử dụng cho nông
nghiệp) để làm sạch các thiết bị sản xuất thực phẩm.
e) Bảo tồn môi trường
Chỉ thị IUU: Quy định của Hội đồng (EC) số 1005/2008 ngày 29/9/2008 thành
lập một hệ thống cấp Cộng đồng để chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo
cáo hay không tuân thủ quy định , sửa đổi các Quy định (EEC) số 2847/93, (EC)
số 1936/2001 và (EC) số 601/2004 và bãi bỏ hiệu lực của các Quy định (EC) số
1093/94 và (EC) số 1447/1999. Quy định này cũng yêu cầu phải có chứng nhận
về cá được đánh bắt hợp pháp để cung ứng cá và các sản phẩm cá ra thị trường EU.

vì các khách hàng EU có khả năng sẽ đặt ra y êu cầu các cây trồng và sản phẩm
thực vật mà họ mua để cung ứng cho thị trường EU phải được bảo vệ bởi những
loại sản phẩm bảo vệ cây trồng được phép sử dụng theo Chỉ thị này .
CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT
HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1. Đối với hàng nông sản:
1.1 Mặt hàng gạo
Nhật bàn là một trong những thị trường tiềm năng xuất khẩu gạo của
Việt Nam ở châu Á. Phần lớn gạo xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật là
những hợp đồng trúng thầu do chính phủ Nhật tổ chức. Gạo là một trong
những mặt hàng thuộc nhóm điều tiết bằng các quy định về thương mại
Nhà nước- State trading( thuốc lá, gạo, lúa mạch, lúa mì, sản phẩm sữa
và tơ tằm nguyên liệu) và Luật kiểm dịch. Từ năm 2002 Việt Nam bắt
đầu xuất khẩu sang Nhật Bản thông qua những cuộc đấu thầu do Chính
phủ Nhật tổ chức.

Năm 2007, Việt Nam đã 4 lần trúng thầu với tổng số 66.050 tấn gạo.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng lần 2 và lần 3, lô hàng đầu
tiên của VN bị phía Nhật phát hiện Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm với
dư lượng Acetamiprid vượt quá mức cho phép( 0,01ppm) dẫn đến việc
Nhật Bản quyết định tăng cường 30% gạo có xuất xứ từ Viết Nam đối
với chất Acetamiprid và gạo Việt Nam đứng trước nguy cơ bị Nhật Bản
áp dụng lệnh kiểm tra 100%. Kiểm tra 100% lô hàng trước khi cho vào
thị trường là một trong những biện pháp nghiêm khắc nhất mà cơ quan
hải quan Nhật Bản có thể sẽ áp dụng nếu số lô hàng bị phat 1hien65 vi
phạm VSATTP ngày càng nhiều.
Bộ y tế, Lao động và phúc lợi Nhật Bản yêu cầu phía Việt Nam phối hợp
để truy xuất nguồn gốc gạo. Tuy nhiên theo hiệp hội lương thực Việt
Nam, một bất cập trong việc kiểm soát tiêu chuẩn VSATTP đối với gạo
xuất khẩu là gạo Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản do nhiều nguồn

kim ngạch xuất khẩu đã giảm từ 4,13 triệu USD năm 2005 xuống còn 3,3
triệu USD năm 2006.
1.3 Sản phẩm thịt
Tính theo giá trị nhập khẩu, Nhật Bản là nước nhập khẩu thịt lớn nhất
trên thế giới với kim ngạch nhập khẩu thịt lợn đến trên 4 tỷ USD/năm, thịt
bò trên 2 tỷ USD/năm và thịt gia cầm khoảng trên 1,5 tỷ USD/năm. Do chi
phí nguyên liệu và lao động ngày càng tăng tại Nhật Bản, xu hướng nhập
khẩu ngày càng gia tăng, cụ thể là thị phần hàng nhập khẩu liên tục tăng từ
3,2% trong tổng mức tiêu thụ vào năm 2002 lên đến khoảng 10% vào năm
2006. Các nước xuất khẩu sản phẩm chế biến từ thịt lợn gồm: Trung Quốc,
Mỹ, Italy, Thái Lan, Đức, Tây Ban Nha.
Trước đây, Việt Nam không được phép xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ
thịt lợn sang Nhật Bản vì bị xếp trong danh sách các nước có dịch bệnh lở
mồm long móng. Thương vụ Việt Nam đã làm việc với Bộ Nông Lâm Ngư
nghiệp và Bộ Y tế, Phúc lợi xã hội Nhật Bản đề nghị tạo điều kiện thuận lợi,
đồng ý nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt của Việt Nam.
Theo Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, từ tháng 10/2007, các doanh
nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu thịt chế biến sang Nhật Bản. Thương vụ
Việt Nam tại Nhật Bản đã nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm
chế biến từ thịt lợn (gồm: xúc xích và giăm bông) của Nhật Bản nhằm tìm
kiếm mặt hàng xuất khẩu mới thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang
thị trường Nhật Bản.
Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản đã đa ra Dự thảo quy định nhập khẩu
các sản phẩm chế biến từ thịt của Nhật Bản dành cho Việt Nam gồm 29 điều
kiện. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng đầy đủ các điều
kiện trên, đặc biệt là khâu chế biến và xử lý nhiệt, Thương vụ Việt Nam tại
Nhật Bản sẽ tiếp tục vận động Bộ Nông lâm ng nghiệp và Bộ Y tế, Phúc lợi
xã hội Nhật Bản cử chuyên gia sang Việt Nam kiểm tra thực tế và đánh giá
chất lượng sản phẩm trước khi ký kết thỏa thuận với Việt Nam đồng ý nhập
khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt của Việt Nam.

ca hoặc xẻ theo chiều dọc (mã HS 4407), tấm gỗ lạng làm lớp mặt (mã HS
4408), gỗ ván trang trí làm sàn (mã HS 4409), ván sợi bằng gỗ (mã HS
4415), tượng gỗ và đồ trang trí bằng gỗ (mã HS 4420), ghế ngồi (mã HS
9401), đồ nội thất khác và các bộ phận của chúng (mã HS 9403).
Ở Nhật Bản, tiêu chuẩn kỹ thuật với thơng mại rõ nhất với sản phẩm gỗ
nhiệt đới là Tiêu chuẩn Nông nghiệp Nhật Bản (JAS) và tiêu chuẩn công
nghiệp Nhật Bản (JIS) về lợng formaldêhyde phát xạ gắn liền hội chứng nhà
bệnh. Sản phẩm bị ảnh hưởng là gỗ dán, ván dăm bào, MDF, ván xây dựng,
vãn phủ mặt, ván sàn, mặt cầu thang. Mỗi loại sản phẩm yêu cầu có giấy
chứng nhận riêng phù hợp tiêu chuẩn tương ứng.
Các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam cũng cần đạt chứng
chỉ rừng FSC (Forest Stewardship Council) - chứng chỉ toàn cầu kiểm định
chuỗi sản phẩm gỗ từ nguyên liệu đến thành phẩm, đặc biệt là trong điều
kiện mối quan tâm đến các vấn đề ô nhiễm môi trờng ngày càng cao. Ngoài
ra, các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu cũng cần cung cấp thông tin về
các chất liệu hóa chất xử lý gỗ để tăng độ tin cậy an tâm của khách hàng khi
giao dịch.
3. Đối với các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam thời gian qua phải đối phó với các rào
cản kỹ thuật của các nớc trên thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng
nhằm "cảnh báo" hoặc "hạn chế" xuất khẩu của Việt Nam.
Từ cuối năm 2006, Nhật Bản đã thay đổi chính sách kiểm soát dư lượng
kháng sinh khiến nhiều lô hàng thủy sản xuất khẩu sang thị trờng này bị từ
chối hoặc bị trả lại do phát hiện chứa d lợng kháng sinh cao hơn giới hạn
cho phép theo qui định mới, đặc biệt là các lô hàng phải qua chế độ kiểm tra
tăng cường. Với những quy định đó, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam bị
ảnh hưởng khá nặng nề. Rất nhiều lô hàng của Việt Nam bị trả về, các sản
phẩm luôn nằm trong sự cảnh báo ở mức cao, làm kim ngạch xuất khẩu
thủy sản sang Nhật bị giảm sút nghiêm trọng. Cuối năm 2006, thủy sản Việt
Nam xuất khẩu vào Nhật Bản bị kiểm tra 100% lô hàng nhập khẩu. Tiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status