BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 25

CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KỸ THUẬT HẬU GIA NHẬP WTO
DỰ ÁN “ĐÁNH GIÁ TỒNG THỂ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM
SAU 5 NĂM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ ĐỊNH LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội, tháng 9/2012

Mục lục

1. TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH CGE SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH KINH
TẾ 3
2. TỔNG QUAN TÓM TẮT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH CGE TẠI
VIỆT NAM 4

nghèo của các kịch bản tự do hóa khác nhau. Mô hình xác định các nguồn tăng, giảm
thu nhập từ việc mở cửa thương mại nhiều hơn, và cho thấy chúng được phân phối
như thế nào giữa các quốc gia hoặc khu vực. Các mô hình CGE cũng tính đến việc bất
kỳ chính sách nhằm vào một khu vực hoặc một nhóm có tác động kinh tế gián tiếp đối
với toàn bộ phần còn lại của nền kinh tế. Đó là, các bên cung cấp và nhu cầu của một
cú sốc và các tác động trung gian của các thị trường được phân tích cùng một lúc. Các
mô hình nắm bắt được tác động của các mối liên kết thông qua các yếu tố và thị
trường sản phẩm, tới các quyết định của hộ gia đình, và xa hơn nữa tới các đối tác
thương mại, và ngược lại thông qua các yếu tố và các thị trường sản phẩm.
Các mô hình CGE cũng bị lạm dụng trong phân tích chính sách, bao gồm: (i)
đẩy mô hình vượt ra ngoài phạm vi áp dụng của nó, (ii) vi phạm các nguyên tắc của
Occam là sử dụng mô hình đơn giản nhất phù hợp với nhiệm vụ, (iii) "hội chứng hộp
đen" - kết quả không phù hợp hoặc thích hợp với các thay đổi chính sách.
1

1
Khi đánh giá việc sử dụng các mô hình CGE trong phân tích chính sách, điều quan trọng là phân biệt
giữa các mô hình cách điệu hóa và mô hình ứng dụng. Sự khác biệt quan trọng nhất là các mô hình
cách điệu hóa có xu hướng nhỏ, tập trung và nhấn mạnh một chuỗi nguyên nhân hoặc chính sách cụ
thể. Trong khi đó, mô hình ứng dụng thường lớn hơn, tìm cách nắm bắt đặc điểm thể chế quan trọng
của nền kinh tế được mô hình hóa, và bao gồm một phổ rộng các vấn đề. Các mô hình này, tuy nhiên,
dễ bị hội chứng hộp đen và vi phạm ranh giới Occam (sử dụng mô hình đơn giản nhất phù hợp với
nhiệm vụ). Do vậy, nên phối hợp sử dụng cả hai loại mô hình CGE cách điệu hóa và ứng dụng
(Devarajan, 2002).

2. TỔNG QUAN TÓM TẮT VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH CGE TẠI
VIỆT NAM
Cùng với quá trình phát triển của các mô hình CGE và kỹ thuật, bao gồm cả
phần mềm máy tính cụ thể, và ứng dụng của chúng trong phân tích kinh tế trên thế
giới, đã có một nhóm ngày càng tăng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính

thông qua thuế và các ưu đãi thuế quan, và giả định một thị trường cạnh tranh hoàn
hảo. Sự khác biệt chính trong các mô hình này là mức độ gộp các ngành.
Cơ sở dữ liệu cho các mô hình này thường được lấy từ bảng đầu vào-đầu ra
(IO) của Việt Nam năm 1996, ma trận hạch toán xã hội (SAM) năm 1997 bằng cách
sử dụng GTAP hoặc một SAM được sử dụng trong Tarp (2001, 2002) và Jensen và
cộng sự (2004). Dữ liệu hộ gia đình được lấy từ Điều tra mức sống dân cư Việt Nam.
Một đặc điểm chính khác của các mô hình này là cho dù đó là mô phỏng để ước tính
kết quả ngắn hạn hoặc dài hạn, phần lớn các nghiên cứu này là mô hình tĩnh và do đó,
không cho thấy các hiệu ứng dồn tích và chuyển tiếp cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn
như các mô hình động. Đối với trường hợp tự do hóa thương mại, các mô phỏng chủ
yếu được thực hiện trên các mô hình này là những tác động của AFTA, APEC, WTO,
và US-BTA đối với nền kinh tế của Việt Nam. Fukase và Martin (1999) sử dụng mô
hình GTAP để ước tính hiệu ứng của tự do hóa thương mại của Việt Nam theo AFTA,
APEC và các kịch bản tự do hóa đơn phương với kết quả là lợi ích kinh tế cho Việt
Nam từ AFTA dường như nhỏ do: tỷ trọng xuất khẩu từ Việt Nam sang AFTA là nhỏ,
lợi ích từ việc tạo dựng thương mại phải bù đắp cho chi phí chuyển hướng thương
mại; và điều khoản thương mại có thể bất lợi. Tuy nhiên, với tự do hóa đơn phương
và tự do hóa trong khuôn khổ cam kết APEC, lợi ích kinh tế đối với Việt Nam sẽ cao
hơn. Tương tự như vậy, Phương (2003) phát hiện ra rằng mặc dù có tác động tích cực
từ tự do hóa thương mại, kết quả tổng thể là tương đối nhỏ (GDP chỉ tăng 1,6% khi
gia nhập AFTA, và 4% khi tự do hóa toàn cầu).
Gần đây, Hương và Vanzetti (2006) đánh giá tác động của tự do hóa của Việt
Nam sử dụng mô hình GTAP cho thấy rằng cả nhập khẩu và xuất khẩu tăng trong tất
cả các ngành, đặc biệt là trong dệt may; và mức phúc lợi khá cao, đặc biệt là từ tự do
hóa đơn phương. Lao động phổ thông tăng 38% với đa số lao động làm việc trong các
ngành dệt may, may mặc, sản phẩm gỗ và viễn thông. Tuy nhiên, kết quả này có vẻ
không thực tế với sự đánh đổi giữa việc sử dụng lao động và tiền lương, nên cần có
một cách đóng mô hình thực tế hơn.Bên cạnh mô hình GTAP, đã có các mô hình
CGE khác sử dụng để ước tính các tác động kinh tế của tự do hóa thương mại của
Việt Nam. Ví dụ, Chân và Dung (2001) đã xây dựng một mô hình CGE dựa vào bảng

Nam từ thương mại. Ngoài ra, tự do hóa thị trường vốn sẽ thúc đẩy tăng trưởng nếu
nó được thực hiện cùng với các cải cách trong nước và gia nhập WTO.Toàn (2005) đã
phát triển một mô hình CGE năng động cho nền kinh tế Việt Nam và mô phỏng cắt
giảm 5% thuế quan theo cam kết WTO. Những phát hiện chính của nghiên cứu này là
cắt giảm thuế quan sẽ dẫn đến việc mở rộng công nghiệp chế tác gây thiệt hại cho
ngành nông nghiệp và dịch vụ trong dài hạn. Do đó, nhập khẩu nông sản và dịch vụ,
và xuất khẩu sản phẩm sản phẩm chế tác sẽ tăng lên.

2.2. Đối với thương mại và đầu tư
Abbott và cộng sự (2008) sử dụng một mô hình CGE một quốc gia cách điệu
động để khám phá quan hệ giữa thương mại và phát triển tại Việt Nam. Động cơ thúc
đẩy ở đây là cải cách thuế quan, cơ hội tiếp cận thị trường và cải cách thể chế, tất cả
đều ảnh hưởng cả mức độ và cấu trúc đầu tư theo ngành (tăng thêm năng lực), theo đó
quyết định tăng trưởng. Cải cách chính sách thương mại, bao gồm cải cách thể chế và
cơ hội tiếp cận thị trường đạt được thông qua các hiệp định thương mại, tạo ra các ưu
đãi ảnh hưởng tới mức độ và việc phân bổ đầu tư theo ngành. Mô hình CGE cách điệu
với 35 ngành được sử dụng để dự đoán mức độ thương mại ròng của Việt Nam bắt
đầu từ năm 2000 đến năm 2005. Cân bằng thị trường của nền kinh tế gồm sản xuất và
nhập khẩu bằng cầu trung gian cộng với tiêu dùng cá nhân và chính phủ cộng với cầu
đầu tư công và tư nhân cộng với xuất khẩu.
Các kết quả mô hình làm nổi bật vai trò của nhà nước trong phân bổ đầu tư và
huy động tiết kiệm ở Việt Nam, và tầm quan trọng của tích lũy vốn trong thành tựu
phát triển của Việt Nam. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của đầu tư công và cấu trúc
đầu tư của nền kinh tế: trong khi nhà nước đặc biệt chiếm ưu thế trong lĩnh vực năng
lượng, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào công nghiệp chế tác và các
doanh nghiệp tư nhân trong nước chú trọng nông nghiệp và dịch vụ. Tác động của tự
do hóa thương mại lớn hơn trong các kịch bản thay đổi cấu trúc đầu tư theo các cam
kết thương mại chứ không phải là hậu quả của việc cắt giảm thuế quan.

2.3. Đối với chính sách tài khóa (thuế, chi tiêu chính phủ)

trừ thuế giá trị gia tăng tùy tiện. Kết quả cho thấy GDP theo giá so sánh, đầu tư, tiêu
dùng tư nhân tăng lên, và hầu hết các ngành đều cùng mở rộng sản xuất. Đặc biệt,
ngành nhà ở bùng nổ nhưng giá nhà đất lại thấp hơn.
2
Ví dụ, mô hình ORANI được xây dựng đầu tiên tại Úc vào năm 1977. Sau đó, các mô hình
ORANI/MONASH đã đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận của công chúng về thuế
nhập khẩu ô tô, thuế nhập khẩu hàng dệt, mức độ bảo hộ tổng thể và thuế doanh thu (Dixon, 2001).

Mô hình VIPAG có thể ước tính tác động của những thay đổi trong hầu hết
các biến số chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách thuế và chính sách chi tiêu
của chính phủ. Một số mô phỏng sử dụng mô hình này đã chứng minh kết quả khá
phù hợp trong việc thay đổi mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, tỷ lệ đầu tư
công, cơ cấu chi tiêu công, v.v…

2.4. Đối với chính sách tiền tệ (tỷ giá hối đoái)
Chính sách tiền tệ, đặc biệt là tỷ giá hối đoái là một trong những lĩnh vực quan
trọng để sử dụng mô hình CGE. Ngoài ra, khi một quốc gia thực hiện chương trình
điều chỉnh cơ cấu nhằm khôi phục lại cân đối kinh tế vĩ mô đồng thời giảm các méo
mó trong cơ cấu kinh tế. Về nhiều phương diện, các mô hình CGE rất phù hợp để
đánh giá các chương trình như vậy. Các mô hình này có thể lột tả những điều chỉnh
kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như sự phá giá của tỷ giá hối đoái thực, cùng với một số các
chính sách kinh tế vi mô, chẳng hạn như giảm các rào cản thương mại, trong một
khuôn khổ nhất quán.
3

Mô hình VIPAG (2008) có thể được sử dụng để đánh giá các tác động của
điều chỉnh tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế Việt Nam. Đây là mô hình CGE động
với mức độ phân chia hàng hóa và người sử dụng khá chi tiết theo kiểu mô hình
MONASH (Dixon và Rimmer 2002). Mô hình VIPAG sử dụng SAM của Việt Nam
năm 2005 với 113 ngành và 113 mặt hàng, ba yếu tố sản xuất sơ cấp là lao động, vốn

đã tăng trưởng với một tốc độ chậm hơn khi tăng thuế gián tiếp; các hộ gia đình trong
khi đó có lợi ít hơn từ tự do hóa thương mại. Hộ dân nông thôn đã đạt được nhiều hơn
so với các hộ gia đình thành thị, và có sự cải thiện trong bất bình đẳng thu nhập giữa
các hộ gia đình nông thôn và thành thị. Trong trường hợp sử dụng vay bên ngoài, nền
kinh tế đạt mức phúc lợi cao hơn so với lựa chọn đầu, nhưng bất bình đẳng có xu
hướng doãng rộng giữa các hộ gia đình nông thôn và thành thị.
Jensen và Tarp (2003) nghiên cứu các mô hình CGE tĩnh với cơ sở dữ liệu
SAM Việt Nam năm 2000 và số liệu VLSS năm 1998 (1 mô hình có 16 nhóm hộ gia
đình và mô hình kia có 6002 hộ gia đình). Ba thử nghiệm là: xóa bỏ thuế xuất khẩu,
xóa bỏ thuế nhập khẩu; và xóa bỏ cả thuế xuất khẩu lẫn thuế nhập khẩu. Kết quả cho
thấy rằng khi bỏ thuế ngoại thương số lượng những người sống trong nghèo đói tăng,
đặc biệt là đối với trường hợp của các hộ gia đình nông nghiệp nông thôn ở vùng núi
phía bắc Việt Nam, dẫn đến sự chênh lệch về nghèo giữa các vùng xấu đi.
Nguyễn và Ezaki (2005) cũng đã xây dựng một mô hình CGE bằng cách sử
dụng dữ liệu GTAP và các số liệu VHLSS năm 2002. Với mô phỏng các kịch bản tự
do hóa thương mại khác nhau (xoá bỏ thuế quan giữa: Việt Nam và ASEAN-4, Việt
Nam và ASEAN-4 và Trung Quốc, các nền kinh tế công nghiệp hóa mới ở Đông Á và
Nhật Bản, Bắc Mỹ, và tự do hóa thương mại đa phương, Các tác giả ngạc nhiên thấy
rằng GDP thực tế đã giảm trong tất cả các kịch bản, mặc dù có sự gia tăng trong tiêu
dùng tư nhân và thương mại, thu nhập hộ gia đình và thu nhập lao động.
Trong một mô hình CGE động, Toàn (2005) thấy rằng với cắt giảm thuế quan
của Việt Nam xuống 5% theo cam kết WTO, trong dài hạn, việc tự do hóa thương mại
sẽ tăng các khoảng cách thu nhập giữa các hộ gia đình thành thị và nông thôn vì công
nghiệp chế tác mở rộng sản xuất làm ảnh hưởng xấu đến nông nghiệp và các ngành
dịch vụ.
Fujii và Roland-Holst (2008) khám phá phương diện không gian của đói
nghèo liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO bằng cách sử dụng một mô phỏng
vi mô tích hợp mô hình với mô hình CGE với ước lượng diện nhỏ cho toàn bộ các
mục tiêu kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Họ đã sử dụng một bảng SAM 38 ngành kết
nối với dữ liệu không gian của các biến số địa lý và chi tiêu, thu nhập hộ gia đình, và

và không cho phép các nền kinh tế quy mô.
- Mức phân chia ngành khá đa dạng dựa trên các mục tiêu nghiên cứu. Nhiều
nghiên cứu hạn chế SAM dưới 20 ngành gộp. Một vài nghiên cứu sử dụng các chi tiết
của bảng IO với trên 100 ngành (VIPAG sử dụng 113 ngành).
- Các cơ sở dữ liệu cho các mô hình CGE chủ yếu là bảng IO chính thức 1996,
và bảng SAM sử dụng số liệu kinh tế vĩ mô năm 1997 như trong các mô hình dựa trên
GTAP. Một số mô hình CGE sử dụng SAM cập nhật (SAM 1999, SAM 2003, SAM
2005). VLSS 1992/93 và 1997/98 là những nguồn thông tin quan trọng về các hộ gia
đình, mặc dù một số thông tin cập nhật trong Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002
và 2004 đã được kết hợp trong một số mô hình.
- Mỗi mô hình CGE thường tập trung vào một khía cạnh của nền kinh tế, nhấn
mạnh vào việc đưa ra đặc điểm mô hình liên quan đến khuôn khổ kinh tế và cải cách
chính sách. Sự khác biệt trong các giả định của mô hình thường dẫn đến sự giải thích
và kết quả khác nhau.
- Chủ đề được thảo luận trong các mô hình CGE cũng đa dạng, từ việc giảm
thuế đến chính sách tài khóa và tiền tệ, từ thương mại đến đầu tư và phân phối thu
nhập. Các chủ đề phổ biến, tuy nhiên, là những vấn đề liên quan đến thương mại.
Ngoài ra, có ngày càng tăng số lượng các nghiên cứu về phân phối thu nhập và tác
động của các chính sách công, bao gồm cả chính sách thương mại đến nghèo đói.
- Cũng có thể thấy rằng các mô hình CGE có thể được chế tác để có được kết
quả mong muốn, vì hầu hết các thay đổi này là kết quả của các giả định ngoại sinh của
các tác giả.
- Kết quả của hầu hết các nghiên cứu CGE là khá hợp lý và thực tế, đặc biệt là
các nghiên cứu về thương mại, tăng trưởng kinh tế, đói nghèo và phân phối thu nhập.

3.2. Thiếu sót và giới hạn
3.2.1.

Đối với cơ sở dữ liệu
a) Xây dựng Bảng IO và SAM

các tham số này.

3.2.2.

Đối với các kỹ thuật mô hình CGE
Việc áp dụng kỹ thuật CGE đi đôi với những khó khăn nhất định trong sự lựa
chọn mô hình và các hạn chế.
5

Hầu hết các mô hình CGE dự đoán việc phân bổ lại các nguồn lực như là hậu
quả của việc điều chỉnh giá sau khi thay đổi thuế quan trong trạng thái tĩnh và dài hạn.
Những tác động của hiệp định thương mại không ảnh hưởng đến con đường phát
triển. Các nhà mô hình CGE vẫn còn tranh luận về việc đóng vĩ mô trong ngắn hạn và
sự tiến triển của vốn theo thời gian. Giả định của mô hình tĩnh trong dài hạn rằng vốn
sẽ phân bổ sang các ngành với lợi nhuận cao nhất không phù hợp đối với dự đoán
phân bổ đầu tư trong ngắn và trung hạn. Cần phải giải thích tiến triển năng lực của
ngành trong ngắn và trung hạn để xác định các hàm ý phát triển của tự do hóa thương
mại.
Trong các mô hình CGE, cả hai mô hình tĩnh và động, kết quả kinh tế vĩ mô như tăng
trưởng kinh tế được giả định dựa trên những dự báo bên ngoài, chứ không phải dự
báo nội sinh như thuyết tăng trưởng nội sinh. Cơ chế chính mà thương mại ảnh hưởng
đến GDP là thông qua các
lợi ích từ thương mại được tạo ra bởi tái phân bổ tài
nguyên. Do thực tế là các tam giác Harberger về lợi ích thặng dư ròng từ những thay
đổi thuế quan thường khá nhỏ, kết quả đánh giá tác động của tự do hóa thương mại
của WTO từ các mô hình CGE là nhỏ. Tuy nhiên, điều được thừa nhận rộng rãi rằng
các lợi ích động từ tự do hóa thương mại chủ yếu do các khái niệm chủ chốt của hiệu
5
Xem thêm Abbott, Bentzen và Tarp (2009).


co giãn thay thế bất biến) có đặc tính cho phép thương mại hai chiều quan sát được,
và điều này làm hạn chế các lời giải năm gốc và mô phỏng các cú sốc nhỏ gần với kết
quả năm gốc, do đó, kết quả mô hình dường như khá thực tế. Các giá trị của độ co
giãn thay thế Armington được giả định một cách đơn thuần. Các tham số này, tuy
nhiên, rất quan trọng trong việc xác định mức độ và bản chất của sự thay đổi trong các
mô hình CGE. Chưa có nghiên cứu nào ước tính các thông số cho mô hình CGE của
Việt Nam.
6
Xem thêm Dee và cộng sự (2005).
7
Xem thêm Andersen và Dalgaard (2006).

Giả định thị trường lao động cũng là vấn đề trong các mô hình CGE. Trong
các nghiên cứu về Việt Nam, Vanzetti và Hương (2007) giới thiệu một cách đóng mô
hình cho phép xảy ra tình trạng thất nghiệp; tuy nhiên, nó có thể không cực đoan như
vậy. Trong khi vẫn còn khá thấp so với thực tế đã xảy ra, cách đóng này đưa ra mức
tác động thương mại và GDP hợp lý nhất. Cũng có thể xảy ra trường hợp trình độ học
vấn hạn chế tăng trưởng việc làm trong một số hoạt động, nhưng không hạn chế đối
với hoạt động khác, cho thấy cần một cái nhìn chi tiết hơn đối với thị trường lao động.
Cũng cần phải giải thích mối quan hệ giữa thị trường lao động thành thị và nông thôn
và các hạn chế nảy sinh từ quan hệ này đối với các ngành cụ thể.
Một vấn đề cơ bản là về hạn chế đối với tăng trưởng ngành. Trong hầu hết các
mô hình CGE, lợi ích cho một ngành thường khiến các ngành khác thiệt hại do vốn cố
định và lao động được phân bổ lại. Ở Việt Nam, điều này có thể khác. Thay đổi thể
chế, cải thiện tiếp cận thị trường và cải cách trong nước dẫn tới thay đổi các ưu đãi
đầu tư trong các ngành cụ thể sau khi thực hiện các hiệp định thương mại. Những đầu
tư cùng với sự thay đổi thể chế có tác dụng cải thiện năng lực và nâng cao năng suất.

4. MỘT SỐ HƯỚNG CHO NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI
Mặc dù các mô hình CGE đã phát triển nhanh chóng tại Việt Nam kể từ hai

thương mại, nhưng chủ yếu là dựa trên bảo hộ thuế quan. Hiện vẫn còn nhiều rào cản
phi thuế quan và quy đổi thành tương đương thuế quan phải được tính toán trong các
mô hình CGE.
- Cơ sở dữ liệu và độ co giãn thương mại: cải thiện cơ sở dữ liệu là một trong
những vấn đề quan trọng nhất đối với các mô hình CGE để sử dụng tốt và cải thiện
kết quả chạy mô hình. Trong đó, cần nhiều nỗ lực vào việc xây dựng bảng IO và
SAM như là một điều kiện tiên quyết và các công cụ chính để cho người làm mô hình
CGE. Đối với độ co giãn thương mại, trong khi việc xử lý các dạng hàm của mô hình
và số liệu đã nhận được nhiều chú ý, không nên đánh giá thấp vai trò thiết yếu của các
thông số cấu trúc. Những thông số này là cần thiết để hoàn tất thông tin của mô hình,
cũng như xác định mức độ phản ứng của các quan hệ hành vi, và do đó, các kết quả
trong các thử nghiệm đối chứng. Có nhiều lý do dẫn đến thiếu chú ý đến các thông số
này, một phần là do tình trạng thiếu thông tin và thiếu sự tham gia của các nhà kinh tế
lượng để ước tính các tham số này.

5. KẾT LUẬN
Hiện đã có một nhóm ngày càng nhiều các nhà kinh tế và các nhà hoạch định
chính sách sử dụng các mô hình CGE để khai thác lợi thế của chúng trong việc nghiên
cứu các vấn đề kinh tế mới nổi tại Việt Nam, chẳng hạn như ngoại thương, đầu tư trực
tiếp nước ngoài, chính sách tài chính (thuế, chi tiêu chính phủ), chính sách tiền tệ (tỷ
giá), phân phối thu nhập và nghèo đói. Cách xây dựng các mô hình CGE khá đa dạng
với cấu trúc và mức độ phân tổ theo nhiều ngành hơn và phức tạp hơn để nắm bắt tác
động của các kịch bản khác nhau về chính sách cải cách và điều chỉnh cơ cấu trong
nền kinh tế. Mặc dù vẫn còn thiếu sót trong mô hình CGE, đặc biệt là những vấn đề
liên quan đến cơ sở dữ liệu (bảng IO và SAM), ước lượng các thông số, và các kỹ
thuật mô hình CGE, sự phát triển của các mô hình CGE đã góp phần đáng kể trong cả
hai khía cạnh của quá trình nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế.
Trong hai thập niên qua, mặc dù các mô hình CGE đã phát triển nhanh chóng
và đa dạng, vẫn còn rất nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ cho các nghiên cứu sâu hơn. Cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status