Đánh giá nhu cầu đối với Trung tâm WTO ở các địa phương và đề xuất mô hình cho các trung tâm này - Pdf 25


CHƯƠNG TRÌNH B-WTO GIAI ĐOẠN II
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Dự án: Nghiên cứu, đề xuất mô hình cho các Trung tâm WTO tại Việt Nam

Hoạt động 3: Đánh giá nhu cầu đối với Trung tâm WTO ở các địa phương và đề
xuất mô hình cho các trung tâm này
BÁO CÁO TỔNG HỢP
Đánh giá nhu cầu đối với Trung tâm WTO ở các địa phương và đề xuất mô
hình cho các trung tâm này
Người thực hiện: Đặng Thị Phương Hoa (trưởng nhóm)
Lê Thu Hà
Nguyễn Trọng Xuân

Hoạt động 3.3.1.b & 3.3.3

1

Hà Nội, 2012
2

MỤC LỤC

trong quá trình thành lập và vận hành các Trung tâm WTO? v.v Đây là
những vấn đề và câu hỏi mà doanh nghiệp, người dân đóng thuế, chính quyền
địa phương, Chính phủ trung ương, Nhà tài trợ và bản thân các Trung tâm
WTO đã và sẽ được thành lập ở Việt Nam đang đặt ra và sẽ được dự án trả lời
từ kết quả nghiên cứu.
Báo cáo này trình bày kết quả điều tra đối với 538 doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu ở 4 vùng kinh tế trọng điểm của Việt
Nam là Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng
sông Cửu Long. Các vấn đề điều tra tập trung vào việc đánh giá nhu cầu, khả
năng tiếp cận và sự hài lòng của doanh nghiệp đối với ba loại hình dịch vụ
chính của các trung tâm WTO là cung cấp thông tin, tư vấn pháp lý và tập
4

huấn, đào tạo. Ngoài ra, cuộc điều tra cũng thăm dò ý kiến của doanh nghiệp
về mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ chính của các trung tâm WTO.
5 1. NHU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CỦA
CÁC TRUNG TÂM WTO
Mức độ sử dụng dịch vụ của các trung tâm WTO hiện tại thấp
song tồn tại nhu cầu khá cao
Kết quả điều tra doanh nghiệp ở cả bốn vùng kinh tế trọng điểm cho
thấy tỷ lệ số doanh nghiệp hiện đang sử dụng dịch vụ của các trung tâm WTO
còn khá thấp: chỉ có 10,9% số doanh nghiệp trả lời rằng họ đã từng nhận được
thông tin hội nhập từ các trung tâm WTO; tỷ lệ này còn thấp hơn đối với việc
nhận được các dịch vụ tư vấn pháp lý (3,3% số doanh nghiệp) và tập huấn,
đào tạo (4,7% số doanh nghiệp). Tỷ lệ này cho thấy có quá ít số doanh nghiệp
hiện nay đang sử dụng ba loại dịch vụ cơ bản này của các trung tâm WTO và

Chênh lệch giữa tỷ lệ doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ và tỷ lệ doanh nghiệp đang nhận dịch vụ
lần lượt là 68,9% và 54,1%
2
Chênh lệch giữa tỷ lệ doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ và tỷ lệ doanh nghiệp đang nhận dịch vụ
là 63,1%
3
Chênh lệch giữa tỷ lệ doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ và tỷ lệ doanh nghiệp đang nhận dịch vụ
lần lượt là 44,9% (dịch vụ thông tin), 41,9% (dịch vụ tư vấn pháp lý), và 29,2% (dịch vụ tập huấn, đào tạo)
7

Hình 1.2: Nhu cầu doanh nghiệp đối với dịch vụ cung cấp thông tin

Hình 1.3: Nhu cầu doanh nghiệp đối với dịch vụ tư vấn pháp lý

8

Hình 1.4: Nhu cầu doanh nghiệp đối với dịch vụ tập huấn, đào tạo

Nhu cầu đối với dịch vụ của các trung tâm WTO là khá cao song
không mạnh
Nhu cầu của doanh nghiệp đối với một số dịch vụ thông tin, tư vấn
pháp lý và tập huấn, đào tạo cụ thể của các trung tâm WTO là khá cao nhưng
không mạnh, thể hiện ở việc tần suất mà các doanh nghiệp mong muốn nhận
được ba loại dịch vụ cơ bản này không cao.
4

Trung bình 19,9% số doanh nghiệp trả lời rằng, họ muốn nhận được

31,1% số doanh nghiệp, tương đương 47,8% số doanh nghiệp nói họ muốn sử
dụng dịch vụ, trả lời rằng họ chỉ muốn thỉnh thoảng nhận được thông tin về
hội nhập từ các trung tâm WTO trong tương lai.
Nhu cầu đối với các dịch vụ tư vấn pháp lý mạnh hơn: bình quân
23,4% và 24,8% số doanh nghiệp tương ứng bày tỏ mong muốn nhận được
dịch vụ tư vấn pháp lý từ các trung tâm WTO ở mức độ thường xuyên/rất
thường xuyên và thỉnh thoảng; so với tỷ lệ bình quân 0,8% và 2% số doanh
nghiệp đang nhận được dịch vụ tư vấn pháp lý ở mức độ này.
Nếu so với dịch vụ tư vấn pháp lý và dịch vụ cung cấp thông tin thì nhu
cầu đối với dịch vụ tập huấn, đào tạo của các trung tâm WTO thấp hơn hẳn
và cũng không mạnh bằng: chỉ có 45,5% số doanh nghiệp muốn tham gia các
khóa tập huấn, đào tạo do các trung tâm WTO tổ chức trong tương lai. Ngoài
ra, chỉ có bình quân 14% và 21,1% số doanh nghiệp tương ứng nói rằng họ
muốn tham gia các khóa tập huấn, đào tạo ở các mức độ thường xuyên/rất
thường xuyên và thỉnh thoảng.
Bảng 1.1: Nhu cầu của doanh nghiệp đối với các loại hình thông tin, tư
vấn pháp lý và tập huấn đào tạo của các trung tâm WTO
(*)
Dịch
vụ

Rất
thường
xuyên
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Rất ít
khi

muốn
3,0% 11,0% 21,1% 8,4% 2,0% 45,5%
(*)
Số liệu thể hiện tỷ lệ bình quân. Xem bảng A.3.1, A.3.2 và A.3.3 ở Phụ lục
3 đối với tỷ lệ của các dịch vụ cụ thể
Có tới 14%, 8,7% và 10,4% số doanh nghiệp tương ứng (21,5%, 15,3%
và 22,9% số doanh nghiệp trả lời có nhu cầu) nói rằng họ không muốn hoặc
muốn rất ít khi nhận được dịch vụ thông tin, tư vấn pháp lý và tập huấn đào
tạo của các trung tâm WTO trong tương lai.
Như vậy, một tỷ lệ không nhỏ doanh nghiệp vẫn chưa xác định rõ mình
muốn gì ở các trung tâm WTO;
5
ngoài ra một số dịch vụ cụ thể (thí dụ, các
loại thông tin hội nhập, chủ đề của các khóa tập huấn, đào tạo) của các trung
tâm WTO vẫn chưa hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
6

Các trung tâm WTO chỉ hỗ trợ những vấn đề chung song nhu cầu
của doanh nghiệp lại cụ thể và đa dạng
Nhiều thông tin hoặc khóa tập huấn đào tạo hiện nay mới chỉ tổ chức
theo diện rộng là các chủ đề chung về HNKTQT và gia nhập WTO, chưa đi
sâu vào một số lĩnh vực hoặc kỹ năng cụ thể trực tiếp phục vụ doanh nghiệp.
Một số doanh nghiệp cho rằng họ thực sự muốn các trung tâm WTO hỗ trợ
những vấn đề hết sức cụ thể như cung cấp nội dung chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp, hoặc thông tin về các thị trường cụ thể mà doanh nghiệp đang tham
gia như thị trường dệt may, thủy sản, nhựa, gỗ, thủ công mỹ nghệ, hoặc tổ
chức những khóa học kỹ năng như kỹ đàm phán quốc tế, quản trị doanh
5
Thể hiện qua tỷ lệ số doanh nghiệp chọn câu trả lời “thỉnh thoảng” muốn nhận được các dịch vụ của các
trung tâm WTO

dịch vụ thông tin, tư vấn pháp lý và tập huấn đào tạo nào của các trung tâm
WTO, bình quân khoảng 40,6% số doanh nghiệp (38% số doanh nghiệp điều
tra) nói rằng họ không biết trung tâm WTO cung cấp các dịch vụ này hoặc
không biết gì về việc các trung tâm WTO đang tồn tại; khoảng 34,9% số
doanh nghiệp (32,8% số doanh nghiệp điều tra) nói họ không có nhu cầu sử
dụng dịch vụ; 9,6% số doanh nghiệp (9% số doanh nghiệp điều tra) nói họ đã
nhận dịch vụ tương tự từ các tổ chức khác; và 5,8% số doanh nghiệp (5,4% số
doanh nghiệp điều tra) nói do chi phí để sử dụng dịch vụ của các trung tâm
WTO quá cao.
7

Như vậy, có thể thấy rằng chi phí và cạnh tranh không phải là các yếu
tố chính ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của các trung tâm
WTO. Trên thực tế, các dịch vụ thông tin, tư vấn pháp lý và tập huấn đào tạo
của các trung tâm WTO hiện nay đều miễn phí. Nguyên nhân cơ bản là các
trung tâm WTO chưa làm tốt công tác quảng bá, tuyên truyền về hoạt động
của mình rộng rãi cho giới doanh nghiệp và dịch vụ của các trung tâm này
cũng chưa hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
Hình 2.1: Nguyên nhân khiến các doanh nghiệp chưa từng sử dụng dịch
vụ của các trung tâm WTO
7
Theo một số doanh nghiệp, ngay cả khi họ không phải trả những khoản phí trực tiếp cho các trung tâm
WTO thì họ vẫn phải mất thời gian và một số khoản chi phí gián tiếp khác như tiền đi lại, điện thoại v.v…
13

14


Bình quân 32,8% số doanh nghiệp điều tra nói họ chưa từng sử dụng dịch vụ của các trung tâm WTO vì
không có nhu cầu sử dụng dịch vụ. Bình quân 32,1% số doanh nghiệp điều tra nói họ không có mong muốn
sử dụng dịch vụ của các trung tâm WTO trong tương lai vì họ cũng không có nhu cầu sử dụng dịch vụ
9
3% số doanh nghiệp điều tra
10
0,6% số doanh nghiệp điều tra
15

Hình 2.2: Nguyên nhân khiến các doanh nghiệp không muốn sử dụng
dịch vụ của các trung tâm WTO trong tương lai

Một tỷ lệ lớn doanh nghiệp nhận được thông tin từ các trung tâm
WTO qua các kênh thông tin hiện đại, tiện lợi
Các doanh nghiệp đã nhận được thông tin từ các trung tâm WTO qua
ba kênh thông tin phổ biến nhất là: 1) qua các trang web, 2) email, và 3) các
ấn phẩm xuất bản như sách, tài liệu tờ rơi, bản tin. Có tới tương ứng 88,6%,
84,6% và 75,8% số doanh nghiệp nói họ nhận thông tin qua ba kênh này.
Trang thông tin điện tử là kênh thông tin được nhiều doanh nghiệp sử dụng
nhất. Đến nay, các trung tâm WTO ở Việt Nam đều đã xây dựng, vận hành và
tiếp tục hoàn thiện các trang thông tin điện tử khá thành công. Hình thức tiếp
nhận thông tin có tính chất tương đối truyền thống như qua sách, tờ rơi, tài
16

liệu…được gửi đến miễn phí cũng khá phổ biến, chủ yếu là do tính tiện lợi
của nó khi tra cứu.
Trong khi đó, chỉ có 54,6% số doanh nghiệp trả lời rằng họ nhận được


Đa số doanh nghiệp muốn được sử dụng dịch vụ của các trung tâm
WTO miễn phí
Bình quân có 61,5% số doanh nghiệp muốn sử dụng các dịch vụ của
các trung tâm WTO hoàn toàn miễn phí; 36,9% số doanh nghiệp có thể sử
dụng dịch vụ của các trung tâm WTO trả phí một phần; chỉ có 1,6% số doanh
nghiệp có thể trả phí hoàn toàn cho dịch vụ của các trung tâm WTO trong
tương lai.
17 Hình 2.3: Tỷ lệ doanh nghiệp muốn trả phí dịch vụ cho các trung tâm
WTO
Tỷ lệ số doanh nghiệp muốn sử dụng dịch vụ của các trung tâm WTO
miễn phí cao nhất là trong lĩnh vực thông tin (65,7%), thấp nhất là trong lĩnh
vực tập huấn đào tạo (55,5%). Tập huấn đào tao cũng là lĩnh vực có tỷ lệ
doanh nghiệp có thể tham gia với điều kiện chỉ trả phí một phần cao nhất
(42%). Đây là điều hợp lý vì những doanh nghiệp tham gia các khóa tập huấn
đào tạo của các trung tâm WTO là đối tượng thực sự có nhu cầu và sẵn sàng
đầu tư.
Bình quân 76,6% số doanh nghiệp muốn sử dụng miễn phí một số dịch
vụ khác mà họ mong muốn các trung tâm WTO đảm nhận như: thay mặt
doanh nghiệp tham gia ý kiến với các cơ quan đàm phán của Chính phủ; tham
gia ý kiến với các cơ quan soạn thảo văn bản pháp luật thực thi các cam kết về
HNKTQT để bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp; tập hợp và có ý kiến với các cơ
quan Nhà nước để giải quyết những bất cập của doanh nghiệp trong quá trình
thực thi các cam kết về HNKTQT; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại

không hài lòng” đối với nội dung của một loạt dạng thông tin mà các trung
tâm WTO cung cấp. Trong đó, tỷ lệ doanh nghiệp bày tỏ sự “không hài lòng”
hoặc “rất không hài lòng” cao nhất là đối với các thông tin về: i) những vấn
đề đang được đàm phán trong WTO (17,6%), ii) nội dung các FTA mà Việt
Nam đã ký kết (17,1%), và iii) rào cản thương mại tại các nước thành viên
WTO (16,7%). Thực tế này là một cảnh báo đối với chất lượng nội dung
thông tin của các trung tâm WTO.
Có một bộ phận doanh nghiệp bày tỏ sự “rất hài lòng” đối với các khóa
tập huấn đào tạo về kỹ năng thương mại quốc tế mà họ tham gia (18,2% số
doanh nghiệp). Tuy vậy, đây là chủ đề duy nhất có doanh nghiệp cảm thấy
“rất hài lòng” trong số các chủ đề tập huấn, đào tạo của các trung tâm WTO
hiện nay.
11

11
Vì vậy, bình quân số doanh nghiệp trả lời “rất hài lòng” với các khóa tập huấn đào tạo do các trung tâm
WTO tổ chức là 3%
20 Hình 3.1: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ của các
trung tâm WTO
(*)(*)
Số liệu thể hiện tỷ lệ bình quân. Xem bảng A.4.1, A.4.2 và A.4.3 ở Phụ lục
4 đối với tỷ lệ của các dịch vụ cụ thể
Doanh nghiệp có cảm nhận đa dạng đối với các kênh thông tin của
trung tâm WTO

song đây không phải là kênh truyền tải thông tin được nhiều doanh nghiệp lựa
chọn nhất trong tương lai. Chỉ có 7,2% số doanh nghiệp coi đây là kênh thông
tin được ưa chuộng nhất; và 25% số doanh nghiệp coi đây là một trong ba
kênh thông tin được ưa chuộng nhất (thấp nhất so với các kênh khác). Điều
này chứng tỏ, mặc dù có một số lợi thế, việc tổ chức các khóa tập huấn đào
tạo chưa hoàn toàn phù hợp với cách thu nhận thông tin của các doanh nghiệp
23

hiện nay (thí dụ, tốn kém thời gian, doanh nghiệp phải cử nhân sự tham gia
v.v…).
Hình 3.3: Tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn các kênh thông tin trong tương lai
Trung tâm WTO là một trong ba sự lựa chọn về hỗ trợ đầu tiên
của doanh nghiệp
Trong tương lai, các trung tâm WTO cùng với hiệp hội/Phòng Thương
mại và Công nghiệp và các cơ quan nhà nước (Bộ, ngành, sở, Ủy ban quốc
gia về hợp tác kinh tế quốc tế v.v…) là những đầu mối được doanh nghiệp
muốn tìm đến nhất liên quan đến các vấn đề về tìm kiếm thông tin, tư vấn và
tập huấn đào tạo trong lĩnh vực HNKTQT.
Trong số các doanh nghiệp bày tỏ mong muốn sử dụng dịch vụ của các
trung tâm WTO trong tương lai, có 75,7% số doanh nghiệp nói rằng trung tâm
WTO là một trong ba đầu mối cung cấp thông tin ưa chuộng nhất; 91,2% số
doanh nghiệp nói rằng trung tâm WTO là một trong ba đầu mối tư vấn pháp
lý ưa chuộng nhất; và 86,8% số doanh nghiệp nói rằng trung tâm WTO là một
trong ba đầu mối tổ chức các khóa tập huấn, đào tạo ưa chuộng nhất của họ.
Tương ứng 25,9%, 32,9% và 28,2% số doanh nghiệp trả lời rằng trung tâm
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status