Tiểu luận NHỮNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỀ CỦA MỸ CHỐNGKHỦNG HOẢNG TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY - Pdf 25

Tiểu luận
NHỮNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỀ CỦA MỸ CHỐNG
KHỦNG HOẢNG TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY
Nội dung chính:
Phần 1:
THỰC TRẠNG KHỦNG HOẢNG CỦA NỀN KINH TẾ MỸ
Phần 2:
NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ
Phần 3:
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH ĐÃ ĐƯA RA
Phần 4:
NHỮNG NHẬN ĐỊNH, DỰ ĐOÁN, QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI.
Thành viên nhóm thực hiện:
1. Phạm Khánh Hòa – A11 K46E
2. Hoàng Giang Nam – A11 K46E
3. Phạm Thị Trang – A12 K46E
4. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – A13 K46E
5. Hoàng Thu Hiền – A13 K46E
6. Phạm Phương Thu – Nga 2 K46E
Lời mở đầu
Thế giới vẫn đang chìm sâu trong cơn khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ khủng
hoảng tài chính cuối năm 2007. Đối mặt với cơn suy thoái này, mỗi quốc gia đều
đã có những chính sách của riêng mình nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên.
Trong thời kỳ mà toàn cầu hóa ngày một rõ rệt, hội nhập kinh tế thế giới ngày
càng sâu sắc thì Việt Nam không thể tránh khỏi ảnh hưởng của cơn chấn động
kinh tế này. Do đó, việc nghiên cứu rõ những chính sách nhằm khắc phục và
thoát khỏi khủng hoảng là điều hữu ích cho việc đưa ra những giải pháp cho
riêng Việt Nam.
Mỹ - cường quốc số một thế giới - là quốc gia khởi nguồn của cuộc khủng hoảng
này và là ông lớn có hệ thống tài chính – mạch máu của nền kinh tế - “nhiễm

2009, tương đương với 6% nhân sự. Công ty phần mềm nổi tiếng thế giới
Microsoft, lần đầu tiên kể từ khi thành lập đến nay, cũng phải sa thải 5.000 nhân
viên. Dây chuyền cửa hàng cà phê Starbucks đóng cửa 300 đại lý, trong đó 2/3
số đại lý là ở ngay trên đất Mỹ. Thị trưởng New York Michael Bloomberg, cũng
cho biết đang chuẩn bị cho 20.000 nhân viên thành phố thôi việc
Như vậy, từ khi cuộc suy thoái xảy ra (12/2007), 5,1 triệu việc làm bị xóa sổ tại
Mỹ, trong đó chỉ riêng 5 tháng gần đây, 3,3 triệu việc làm đã biến mất. Tính đến
thời điểm này, số người thất nghiệp chính thức tại Mỹ đạt 13,2 triệu. 9,3 triệu
người phải làm việc bán thời gian.
Tuy nhiên, người dân hoàn toàn có thể lạc quan khi kế hoạch kích thích kinh tế
được Tổng thống Barack Obama thông qua hồi tháng 2, dự tính tạo ra hơn 3,5
triệu việc làm trong 2 năm tới.
II. SỰ SỤP ĐỔ CỦA CÁC HỆTHỐNG TÀICHÍNH
Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007 và năm 2008 đột nhiên lâm
vào một trong những cuộc khủng hoảng chưa từng có. Hàng trăm tỷ USD đã tiêu
tan. Sự lây lan vẫn chưa chấm dứt, hậu quả vẫn chưa lường hết.
* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi
và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial
sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản
cho vay khó đòi quá lớn.
* 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan
Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng
IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ
trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng
11 ngày.
* 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm
soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ
trợ thị trường nhà đất Mỹ.
* 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại

tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại
châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần
Morgan Stanley.
* 25/9/2008: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn
nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp.
Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát
WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho
JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu
đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
WaMu - một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã
sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường
cho vay thế chấp. (Ảnh: Foxbusiness)
* 29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài
chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow
Jones tụt giảm gần 780 điểm, tương đương với 7% - mức giảm trong một ngày
mạnh nhất từ trước tới nay.
* Ngày 8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ
liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng
trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng
nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái
năm 1930.
1/ Washington Mutual (2008)
Washington Mutual là ngân hàng lớn thứ sáu nước Mỹ. Ngân hàng này cũng sở
hữu Washington Mutual Saving Bank, tổ chức cho vay và tiết kiệm hàng đầu
quốc gia.Nguyên nhân đẩy Washington Mutual đến bờ phá sản cũng bắt nguồn
từ cuộc khủng hoảng tại thị trường tín dụng và bất động sản. Thiệt hại kéo dài đã
khiến hãng phải đóng nhiều chi nhánh và cắt giảm nhân công. Giá cổ phiếu của
Washington Mutual từ đó đi xuống thê thảm, từ 30 đôla, vào tháng 9/2007, thậm
chí 45 đôla trong năm 2006, xuống chỉ còn 2 đôla vào tháng 2/2008.au nhiều nỗ
lực cải tổ bằng cách sa thải ban giám đốc hoặc tìm đối tác mua lại cổ phần nhưng

tiền mặt chỉ còn lại 2 tỷ đôla. Trước tình hình trên, Bear Stearn không có lựa
chọn nào khác ngoài tuyên bố phá sản.
5. Fannie Mae và Freddie Mac
Mới đây, Chính phủ nước này cũng đã phải bỏ ra 200 tỷ USD để tiếp quản hai
hãng cho vay thế chấp lớn nhất là Fannie Mae và Freddie Mac. Hai ngân hàng
này là trụ cột của thị trường cho vay thế chấp để mua nhà trả hết các hãng cho
vay đều phải dựa vào họ để có tiền cho khách hàng vay mượn mua nhà. Là nhà
bảo lãnh tài sản nhà thế chấp, hai ngân hàng này phải móc hầu bao khi chủ sở
hữu nhà mất khả năng thanh toán nợ. Thị trường địa ốc trên toàn nước Mỹ ế ẩm
khiến nguồn tài chính của hai ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề
Trong năm 2009, vừa qua,các nhà chức trách Mỹ vừa làm thủ tục phá sản cho
ngân hàng Bank of Lincolnwood ở bang Illinois, nâng số ngân hàng phá sản từ
đầu năm nay lên 37 ngân hàng.
Bản báo cáo của Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang đánh giá rằng trong giai đoạn
2009 - 2010, nếu tình hình kinh tế tiếp tục tồi tệ, thì các ngân hàng của Mỹ sẽ bị
mất khoảng 600 tỷ đô la. Dựa trên những nguồn vốn có sẵn hiện nay, các ngân
hàng cần phải bổ xung 185 tỷ đô la. Trong số này, 110,4 tỷ đã được huy động
trong thời gian qua, do vậy, chỉ cần bổ xung thêm 74,6 tỷ.
Phần 2:
NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ
I. Lãi suất
Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được các ngân hàng thương mại chủ lực áp
dụng đối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn. Lãi
suất này được quyết định bởi FED và được FED sử đụng như một công cụ chính
để thực hiện chính sách tiền tệ từ 1980 đến nay. Dù các ngân hàng không nhất
thiết thu lãi đúng như mức công bố, thường thì thu cao hơn và đôi khi thấp hơn,
lãi suất cơ bản được xem là cơ sở để các mức lãi khác tham khảo áp dụng hoặc
dựa vào đó để điều chỉnh. Lãi suất cơ bản được xem là lãi suất chính, bởi vì các
khoản vay dành cho các khách hàng nhỏ hơn cũng sẽ phải dựa theo lãi suất này.
Ví dụ, một công ty Blue Chip có thể vay tại lãi suất 5%, nhưng một công ty nhỏ

Động thái giảm lãi suất cơ bản đã thúc đẩy đầu tư; đặc biệt ở các lĩnh vực chứng
khoán. Tuy nhiên đối với thị trường nhà đất, dường như nhu cầu nhà đất đã giảm
quá mạnh nên trong quý I/2009, đầu tư nhà đất của Mỹ giảm 38% và đầu tư kinh
doanh trong các lĩnh vực khác giảm 37,9%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu
của Mỹ trong ba tháng đầu năm cũng giảm tới 30% và đầu tư của chính phủ
giảm 4%.
Thâm hụt thương mại hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ trong tháng tư vừa qua
tiếp tục tăng tháng thứ hai liên tiếp, tăng 0,7 tỷ USD lên đến 29.2 tỷ USD. Xuất
khẩu lại giảm 2,8 tỷ USD đạt 121 tỷ USD. Nhập khẩu cũng giảm nhẹ 2,2 tỷ
USD, đạt 150 tỷ USD. So với cùng kỳ năm trước, thâm hụt thương mại hàng hóa
và dịch vụ giảm 33 tỷ USD, giảm 28%; trong đó, nhập khẩu giảm 66,7 tỷ USD
(giảm 30,7%) giảm gần gấp hai lần so với tốc độ giảm của xuất khẩu là 33,7 tỷ
USD (giảm 21,8%).
Khi thực hiện động thái giảm lãi suất, Mỹ cũng kỳ vọng sẽ kích thích được
tiêu dung, nhưng những số liệu gần đây cho thấy dù kinh tế Mỹ đã có một số tín
hiệu ổn định ban đầu như lòng tin người tiêu dùng tăng, thị trường việc làm và
nhà đất có biến động tích cực, nhưng người Mỹ ngày một tiết kiệm, họ cắt giảm
chi tiêu, chuyển từ hàng cao cấp sang dùng hàng hạ giá, tập trung chi tiêu chủ
yếu vào thực phẩm và các danh mục hàng hóa thiết yếu khác.
Ví dụ điển hình như Wal-Mart đã không công bố doanh số bán hàng tháng. Thị
trường hiện nay tập trung sự chú ý chủ yếu vào các hãng bán lẻ nhỏ hơn như
Costco hay Target, cả hai hãng này đều công bố doanh số không đạt dự báo.
Theo số liệu của Thomson Reuters, doanh số bán lẻ tháng 5/2009 hạ 4,8% so
với tháng 5/2008. Mức hạ này tệ hơn mức 4,5% vào đầu năm.
II. LOLR đối với các định chế tài chính khác:
1. Công cụ thị trường mở (OMO)
Thứ tư ngày 18/03/2009 cục dự trữ liên bang Mỹ FED tuyên bố mua 300 tỉ
USD trái phiếu dài hạn của kho bạc Mỹ TBill và kế hoạch mua 1200 tỉ AMS
(Adjustable rate Mortgage backed Securities). Đây là phương thức đầu tiên mà
FED áp dụng sau 60 năm. Trong hoạt động mụa lại này, FED đã mua 13 loại

ngoài nước Mỹ ngày càng trở lên khó khăn dẫn đến sự đảo chiều luồng tín dụng
tại Mỹ từ chỗ dễ dàng trở lên ngày một khó khăn. Chỉ cần lướt qua một vài số
liệu liên quan đến các chủ nợ của Mỹ cũng đủ để cho chúng ta thấy bức tranh
tổng quan trở lên rõ ràng hơn. Xuất khẩu của Nhật Bản giảm 46% trong tháng
1/2009, Trung Quốc thắt chặt đầu tư vào Mỹ đồng thời chuyển hướng luồng tiền
dự trữ vào thị trường nội địa, trong vòng 5 tháng khi giá dầu mỏ rơi từ 147
USD/thùng xuống dưới 50 USD/thùng khiến thu nhập của các quốc gia sản xuất
dầu mỏ và OPEC bốc hơi 2500 tỉ USD. Các “đối tác” truyền thống đã không
còn đủ khả năng bơm căng hơn bong bóng tín dụng tiêu dùng Mỹ thông qua
việc mua TBill, chỉ còn lại một người hùng duy nhất là FED – cục dụ trữ
liên bang Mỹ. Nhưng bản thân FED cũng đang nợ ngập đầu ngập cổ với việc
cán cân thanh khoản bị “âm” tới 2500 tỉ USD thì lấy tiền đâu êể mua TBill nhằm
giúp kho bạn Mỹ có tiền đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng tại Mỹ? Câu trả lời
vô cùng đơn giản : FED in USD và sử dụng lượng USD này mua TBill. Kho bạc
Mỹ nhận lượng USD “vừa được in thêm còn nóng hổi” để đầu tư vào thị trường
Mỹ .
Lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đảo chiều
Lãi suất TBill thời hạn 1 năm
Lãi suất TBill thời hạn 5 năm
Lãi suất TBill thời hạn 10 năm

.
2. Chính sách chiết khấu / tái cấpvốn
Ngày 16/1, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) công bố bản báo cáo, thừa nhận
kinh tế Mỹ đã bị mất đà khi bước sang năm 2008. Trước hậu quả tiêu cực của
cuộc khủng hoảng thị trường tín dụng, FED đã rót thêm 30 tỷ USD cho các ngân
hàng với lãi suất ưu đãi; hai tập đoàn ngân hàng, đầu tư khổng lồ của Mỹ đã phải
nhận hàng chục tỷ USD vốn cứu trợ khẩn cấp của nước ngoài.
Ngày 13/ 11/ 2008, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson tuyên bố kế
hoạch cứu trợ 700 tỷ USD dành cho khu vực ngân hàng đã giúp bình ổn hệ thống

Việc cổ phiếu Mỹ tăng mạnh tạo cho các chỉ số chứng khoán nước này có phiên
tăng điểm thứ 3 liên tiếp là do các cổ phiếu của khối ngân hàng tăng điểm mạnh
và tín hiệu khả quan từ việc kinh doanh tài chính của khối này. Trong đó tăng
mạnh nhất phải kể đến cổ phiếu của Bank of America tăng gần 19% lên 5,85
USD/1cp, cổ phiếu JPMorgan tăng 13,7% lên 23,2 USD/1cp, cổ phiếu Citigroup
tăng 8,4% lên 1,67USD/1cp
Như vậy Fed đã tung ra một liều thuốc tài chính hữu ích đối với nền kinh tế và
thị trường nhà đất. Đây sẽ được coi là động thái tích cực của Fed nhằm tránh sự
suy thoái kinh tế.
3.1.2 Tác động tiêu cực:
* Nhiều doanh nhân trên thị trường trái phiếu đã đẩy lợi nhuận dài hạn lên mức
cao hơn do lo ngại sức ép lạm phát gia tăng. Những loại lãi suất này có thể được
áp dụng để xác định các loại lãi suất thế chấp. Phản ứng của thị trường trái phiếu
Mỹ là chưa rõ ràng, do một số loại lợi tức dài hạn thậm chí còn tăng. Điều này sẽ
không có lợi cho thị trường thế chấp".
* Gia tăng nguy cơ lạm phát do đồng đô la Mỹ mất giá trước đồng tiền của hầu
hết các cường quốc khác
3.2 Tác động của chính sách thị trường mở:
3.2.1 Tác động tích cực:
* Ngày 18/03/2009, FED công bố mua thêm 300 tỷ USD trái phiếu Bộ Tài chính
trong khoảng thời gian từ tháng 3/2009 cho đến tháng 9/2009, mua 200 tỷ USD
trái phiếu phát hành bởi Fannie Mae và Freddie Mac – hai công ty cho vay thế
chấp bất động sản hàng đầu của Mỹ, ngoài ra FED sẽ mua khoảng 1,25 nghìn tỷ
USD chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp. Mục tiêu của một loạt chính sách trên
là hạ tỷ lệ lãi suất dài hạn và thực tế ban đầu các chính sách trên đã phát huy tác
dụng.
* Fed cách mua các tài sản của ngân hàng. hành động này đã không gây ra lạm
phát khi lượng dự trữ của các ngân hàng tăng cao mà nguồn cung tiền trong nền
kinh tế thì không như thế. Lượng dự trữ quá mức trong hệ thống ngân hàng,
thông thường ít hơn 2 tỷ USD và hiện giờ là 600 tỷ USD.

Tp. Hồ Chí Minh SJC1c 20,830 20,920
Hà Nội SJC 20,830 20,910
Đà Nẵng SJC 20,840 20,890
Nha Trang SJC 20,830 20,890
Cần Thơ SJC 20,830 20,890
Nguồn: SJC
Cập nhật lúc: 16/06/2009 10:28
Giá tham khảo - Đơn vị tính: ngàn đồng/lượng
Đà leo thang của giá dầu thế giới tiếp tục kéo dài, đưa giá nhiên liệu này lên sát
mức 73 USD/thùng. Trong báo cáo hàng tháng công bố ngày 11/6/2009, Cơ
quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã nâng dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu thô của thế
giới năm nay thêm 120.000 thùng/ngày so với báo cáo trước, lên mức 83,3 triệu
thùng/ngày. Đây là lần đầu tiên IEA nâng dự báo nhu cầu dầu thế giới năm 2009
từ tháng 8 năm ngoái tới nay. Theo IEA, chính những tín hiệu phục hồi đang
phát đi của kinh tế toàn cầu là lý do dẫn tới sự điều chỉnh này. Điều này trong
ngắn hạn có tác dụng như một liều thuốc kích thích nền kinh tế phát triển.
3.4. Tỷ giá hối đoái
3.4.1 Tích cực
Ngoài ra, việc đồng USD giảm giá trước đó đã khiến cho kim ngạch xuất khẩu
của Mỹ tăng 10%, điều này cũng là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế
Mỹ tăng trưởng. Nhìn tổng thể, kinh tế Mỹ không những không bị rơi vào nguy
cơ suy thoái như nhiều người từng dự đoán, mà còn xuất hiện những dấu hiệu
chuyển biến tích cực. Thế nhưng, đúng trong lúc này, Chính phủ Mỹ lại cản trở
đồng USD phục hồi bằng cách giảm lãi suất tín dụng, làm cho đồng USD mất
giá them
Đồng USD mất giá dẫn đến sức mua của các nước nhập khẩu lương thực giảm
xuống. Suy cho cùng, đồng USD mất giá chính là cuộc "chiến tranh tiền tệ" đối
ngoại do Mỹ phát động. Khi đồng USD mạnh, Mỹ đã mua từ thị trường quốc tế
một lượng lớn hàng hóa, giờ đây đồng USD đã mất giá, dự trữ ngoại hối của
các nước nắm giữ một lượng lớn đồng USD và trái phiếu của Mỹ phải gánh

- Viện Nghiên cứu Chu kỳ Kinh tế (Economic Cycle Research Institute -
ECRI) tại New York cho biết, suy thoái kinh tế Mỹ có thể kết thúc trong
mùa hè 2009. Theo ECRI, chỉ số đo lường tăng trưởng tương lai của kinh
tế Mỹ trong tuần kết thúc ngày 1/5 vừa qua tiếp tục tăng mạnh so với tuần
liền trước. Trong khi đó, mức tăng trưởng của chỉ số này so với cùng kỳ
năm trước tiếp tục phục hồi.
ECRI cho biết, chỉ số Weekly Leading Index đã leo lên mức cao nhất trong 17
tuần qua là 109,3 điểm.
- Chứng khoán Mỹ hôm 24/2 gặt hái phiên tăng điểm ấn tượng sau khi nhận
2 "liều thuốc tăng lực" từ Chủ tịch FED Ben Bernanke. Ông nhận định suy
thoái kinh tế kết thúc vào cuối năm nay và cam kết không quốc hữu hóa hệ
thống ngân hàng.
- Giám đốc ngân sách của chính quyền Obama hôm chủ Nhật (17/5) khẳng
định có nhiều dấu hiệu cho thấy tình trạng rơi tự do của nền kinh tế Mỹ
dường như đã bắt đầu dừng lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status