Trang 1 Sở Giáo Dục Đào Tạo Tiền Giang
Trường THPT Chuyên Tiền Giang
……………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MÔN TIẾNG ANH
VÀ CHIẾN LƯỢC LÀM BÀI THI MÔN ĐỌC KHỐI THPT
`
HUỲNH HỮU HẠNH NGUYÊN
Tháng 1 – 2014 Trang 2 ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI
1. PHẦN MỞ ĐẦU
2.4.3. Thủ thuật nhận diện diễn giải 44
2.4.3.1. Kỹ thuật “ Chunking” 44
2.4.3.1. Loại hình bài tập mẫu 47
2.5 Kết quả đạt được 52
3. PHẦN KẾT LUẬN 53
3.1 Kết luận quan trọng nhất của toàn bộ bài viết. 53
3.2 Lời kết 53
4. PHẦN PHỤ LỤC 54
4.1. The questionnaires 54
4.2 Bloom’s Taxonomy
4.3 Các đề thi đọc hiểu đã sử dụng 56
4.4. Tài liệu tham khảo 57 Trang 4 DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1. Bộ GD và ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
2. SKKN : Sáng kiến kinh nghiệm
3. SGK : sách giáo khoa
4. THPT : trung học phổ thông
5. THCS : Trung học cơ sở
6. HSGQG : Học sinh giỏi Quốc Gia
7. MCQs : Multiple choice questions
8. TOEFL: Test Of English as a Foreign Language
no way to do something” và người nghe có thể hiểu được). Khi phải tường thuật lại một thông
tin từ báo đài hay tạp chí mà người nói không nhớ chính xác từng chữ một, kỹ thuật diễn giải thể
hiện rõ tính tích cực và hiệu quả.
Đối với quá trình học tiếng, kỹ năng diễn giải được xem như là một “valuable learning
strategy” (Ismail & Maasum: 2009) hết sức quan trọng mà người học tiếng cần nắm vững.
Chẳng có gì ngạc nhiên khi trong các kỳ thi các chứng chỉ quốc tế về tiếng Anh như TOEFL,
IELTS, FCE … và các kỳ thi trong nước như kỳ thi đại học môn tiếng Anh, kỳ thi HSGQG xem
kỹ năng diễn giải như một trong các kỹ năng cơ bản để kiểm tra khả năng đọc, nghe, viết và nói
của người học. Yêu cầu thuần thục ở một mức độ nhất định về kỹ năng diễn giải thể hiện rõ ở
phần lớn các câu hỏi của các bài thi đọc, viết và nói và một phần của bài thi nghe. (xem
“Buiding Developing Mastering skills for the TOEFL iBT, Compass Publishing: 2006, và phần
phân tích mức độ yêu cầu kỹ năng diễn giải trong đề thi TOEFL, IELTS, FCE và đề thi HSGQG
ở trang sau). Tầm quan trọng của kỹ năng “paraphrase” đã được các học giả nhấn mạnh:
Trang 6“ Paraphrasing is essential for the further academic success of every student.
Learning how to paraphrase is an important part of practising academic integrity and is
crucial to study success.” ( Fisk and Hurst : 2003: 182)
“ Paraphrasing skills are important in helping English-as-second-language (ESL)
students foster their four language skills, facilitate comprehension and conceptualization
of text passages. Paraphrasing skills are considered to be a learning strategy and an
academic skill” ( Lee and Choy: 2011; Yu : 2008 ; Orellana & Reynolds: 2008)
Ngoài tác dụng to lớn của kỹ thuật diễn giải đối với cuộc sống và quá trình học tiếng,
không thể phủ nhận khả năng to lớn của kỹ thuật diễn giải trong việc tăng cường mức độ nhận
term memory as we move from an understanding level to an active comprehension level.
Good paraphrasing skills are necessary to create effective summaries, prepare for tests,
answer essay test questions, and avoid plagiarism when researching reports.” (McCarthy,
Guess, & McNamara, 2009)
Tuy nhiên, khi nói về kỹ thuật diễn giải, phần lớn người dạy và người học nghĩ rằng kỹ
thuật này chỉ thực sự cần thiết cho các kỹ năng “productive” (nói và viết) khi cần phải trình bày,
giải thích quan điểm của người nói/viết, ít ai nghĩ rằng, kỹ năng này giữ một vai trò vô cùng
then chốt trong việc làm bài thi nghe, đặc biệt là bài thi đọc mà trong đó, xác định và nhận diện
được “paraphrases” từ văn bản đọc và nghe là yếu tố hàng đầu của sự thành công. Từ lẽ đó, bài
viết đi sâu vào nghiên cứu về kỹ thuật “paraphrasing” và tính ứng dụng của nó đối với môn đọc
hiểu và chiến lược làm bài thi đọc hiểu. Thông qua việc phân tích mức độ yêu cầu của kỹ thuật
diễn giải đối với các bài tập, bài thi đọc hiểu trong SGK, các kỳ thi trong nước và các chứng chỉ
tiếng Anh quốc tế, bài viết phân tích mối tương quan về sự thuần thục của kỹ năng diễn giải đối
với tính hiệu quả khi làm bài dưới áp lực thời gian được coi là khá “khốc liệt” đối với phần lớn
thí sinh khối THPT, đặc biệt là kỳ thi HSGQG và các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế.
1.2. Mục đích nghiên cứu – Bản chất vấn đề nghiên cứu:
Mục đích cao nhất của bài viết là phân tích mức độ yêu cầu về sự thuần thục kỹ năng diễn
giải với các loại hình bài tập đọc hiểu hiện hành trong SGK, các kỳ thi Quốc Gia và các kỳ thi
chứng chỉ tiếng Anh quốc tế (theo yêu cầu của khung CFCR chuẩn Châu Âu).Bản chất vấn đề
nghiên cứu nhằm vào việc khai thác và vận dụng một cách sáng tạo kỹ thuật diễn giải để hình
thành những chiến lược bổ trợ khi làm bài thi môn đọc hiểu cho học sinh THPT, giúp cho người
làm bài tiết kiệm thời gian, công sức và đạt hiệu quả.
1.3. Đối tượng nghiên cứu - Giới hạn đề tài:
Hai đối tượng được nghiên cứu chủ yếu trong bài viết:
Trang 8
chuyện, phỏng vấn các đối tượng cần thiết để rút ra cơ sở thực tiễn.
Trang 9
1.4.2.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Mục đích của phương pháp này là xem xét mức độ yêu cầu về kỹ năng diễn giải trong các
loại hình bài tập đọc hiểu hiện hành, tính thiết thực và hiệu quả của kỹ thuật diễn giải khi làm
bài đọc, từ đó hình thành giải pháp phù hợp.
Cách tiến hành: nghiên cứu tài liệu và đề thi về đọc hiểu trong SGK, đề thi trong nước và
quốc tế. Nghiên cứu các tài liệu về kỹ thuật diễn giải từ đó xử lý tư liệu, tổng hợp đề tài, rút ra
những kết luận khoa học cần thiết.
1.4.2.3. Bảng câu hỏi (Questionnaires)
Mục tiêu của phương pháp này là tìm hiểu mức độ nhận thức về tầm quan trọng của kỹ
năng diễn giải đối với quá trình dạy và học đọc hiểu từ phía người dạy và người học, mức độ
ứng dụng khả năng diễn giải trong quá trình làm bài đọc hiểu của học sinh.
Cách tiến hành : Xây dựng hệ thống câu hỏi chặt chẽ dựa trên nhưng tiêu chí cần khảo sát
theo cấu trúc kín ( cloze questions) và mở (open questions), nhưng được pha trộn lại một cách
ngẫu nhiên, nhằm hạn chế người trả lời có khả năng dự đoán ý đồ của người thiết kế, tăng cường
tính khách quan cho câu trả lời. Một tuần sau khi bảng câu hỏi được gửi đến giáo viên và học
sinh, bảng câu hỏi được thu lại và được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel.
1.4.2.4 Pre-tests và Post tests:
Mục tiêu của phương pháp này là đo lường sự tiến bộ về thành tích học tập của học sinh
trước và sau việc ứng dụng kỹ thuật diễn giải trong quá trình làm bài đọc hiểu.
Cách tiến hành : Thực hiện pretest về kỹ thuật đọc hiểu vào đầu năm học để nhận diện
trình độ ban đầu của học sinh khi chưa áp dụng phương pháp này. Sau đó tiến hành dạy thực
nghiệm kỹ năng diễn giảng, một tháng sau đó, tiến hành post-test để thu thập dữ liệu đánh giá
kết quả.
1.5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
4. Tiến hành phân tích mức độ yêu cầu về kỹ năng
diễn giảng trong các loại bài tập và đề thi.
Từ 1/10 – 10/10/2013
5. Tiến hành Pre-test về đọc hiểu có yêu cầu về kỹ
thuật diễn giảng để khảo sát trình độ của học
sinh.
Từ 11/10 – 15/10/2013
6. Dạy bài 3 (đọc hiểu) cho bốn lớp 12 Anh, Sinh,
Lý,Văn dùng kỹ thuật diễn giảng.
Từ 20/10 – 25/10/2013
7. Dạy bài 4 (đọc hiểu) cho bốn lớp 12 Anh, Sinh,
Lý,Văn dùng kỹ thuật diễn giảng.
Từ 26/10 – 30/10/2013
8. Dạy bài 5 (đọc hiểu) cho cho bốn lớp 12 Anh,
Sinh, Lý,Văn dùng kỹ thuật diễn giảng.
Từ 2/11 –7/11/2013
9. Thiết kế post-test – Tiến hành kiểm tra Từ 8/12 – 12/12/2013
10. Phân tích kết quả giữa các post-tests. Từ 10/12 – 15/12/2013
11 Thiết kế Questionnaires – Tiến hành phát. Từ 17/12 – 22/12/2013
12. Thu lại Questionnaires – Phân tích số liệu Từ 24/12 – 29/12/2013
13. Viết báo cáo, đưa ra giải pháp Từ 7/1/2014 – 8/2/2014
Trang 112. PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG
hơn .
“Paraphrasing for comprehension is an excellent tool for reinforcing reading skills such as
identifying the main ideas, finding supporting details and identifying the author’s voice.
One of the reasons paraphrasing for comprehension works so well is because it integrates
all the models of communication, reading, writing, listening and speaking, which leads to a
deeper understanding of the text” (Fisk & Hurst, 2003). Trang 12
“Paraphrasing incorporates four ways for students to interact with the text: They read it,
understand it and make notes, they think and write it in their own words and. By
incorporating the four ways for students to interact with the text, students are more likely
to understand and remember the material. Furthermore, paraphrasing assists students to
process and comprehend what they are reading and learning”
(Fisk & Hurst, 2003).
2.1.3. Các mức độ của kỹ thuật diễn giảng :
1. Mức độ từ vựng trong câu:
Example of using synonym:
- The stallion was content with the mare.
The male horse was happy with the female horse.
Example of using antonym :
- The peel of tangerine can be easily removed unlike the orange.
The peel of a tangerine is not as hard to remove as that of an orange.
2. Mức độ cấu trúc câu:
- After he studied, John took a nap.
After studying, John took a nap. ( Clause to Phrase )
Original Passage:
In The Sopranos, the mob is besieged as much by inner infidelity as it is by the federal
government. Early in the series, the greatest threat to Tony's Family is his own biological
family. One of his closest associates turns witness for the FBI, his mother colludes with his
uncle to contract a hit on Tony, and his kids click through Web sites that track the federal
crackdown in Tony's gangland.
Paraphrased Passage:
In the first season of The Sopranos, Tony Soprano’s mobster activities are more threatened by
members of his biological family than by agents of the federal government. This familial
betrayal is multi-pronged. Tony’s closest friend and associate is an FBI informant, his mother
and uncle are conspiring to have him killed, and his children are surfing the Web for information
about his activities.
The main point of the paragraph :
Problems within the family are as bad as or even worse than problems caused by the federal
government. Details about this betrayal include one family member turning informant, a hit
being put out on Tony by family members, and Tony’s kids tracking his activities.
Changes made during the paraphrasing process:
Early in the series = first season
More threatened = greatest threat
Closest friend and associate = one family member
His mother colludes with his uncle = his mother and uncle are conspiring
His kids click through Web sites = his children are surfing the Web Trang 142.2 Phân tích mức độ yêu cầu về kỹ năng diễn giảng đối với đọc hiểu trong SGK, các kỳ thi
trong nước, và các chứng chỉ tiếng Anh quốc tế : (xem các đề thi mẫu năm trong phần phụ lục)
2.2.1 . Sách giáo khoa : Nhận diện được tầm quan trọng của diễn giải trong môn đọc hiểu, chương trình lớp 10 đã
bắt đầu cho học sinh làm quen dần với kỹ năng diễn giải: nhận diện diễn giải bằng định nghĩa
của từ/ nhóm từ/ thành ngữ. Diễn giải bằng cách giải thích qua định nghĩa hết sức cần thiết và
rất phổ biến trong cuộc sống giao tiếp đời thường.
Phân tích Task 2:
Bài tập này ít nhiều rèn luyện sử dụng kỹ thuật nhận diện “ diễn giảng” dù còn ở mức độ thấp là
nhận diện từ đồng nghĩa và sự giống / khác nghĩa trong những cấu trúc khá đơn giản.
1. Marie went school in Warsaw = She received general education in local school . ( True)
2. Her dream was to become a private tutor ≠ To save money for a study tour abroad, she had
to work as a private tutor. ( False) ( paragraph 2)
3. At the Sorbornne , she studied very well ( = with flying color ) (True) ( paragraph 3) Trang 164. She married Peierre Curie in 1894 (≠ She met Pierre Curie in 1894 and a year later they got
married ) (False)
5. She was the first woman professor at the Sorbornne. ( She was the first woman in France to
Trang 18
Trang 20
- Cuối cùng, các em xây cách diễn giảng cho một động từ cho sẵn, sử dụng cấu trúc phản
nghĩa (xem “Các mức độ của kỹ thuật diễn giảng” trang 12 đã đề cập ở trên)
To precede = to come before / to happen before somebody / something
Không chỉ riêng bài đọc Unit 2 / English 12, mà phần lớn các bài đọc hiểu trong chương trình 12
có các loại hình bài tập về kỹ thuật diễn giải khá phong phú và đa dạng về hình thức và mức độ
yêu cầu tương đối khá phức tạp. Quan sát thêm hai loại hình câu hỏi ở Unit 6 và Unit 8 / English
12 :
Trang 22
Trái với bài tập ở Unit 6, bài tập giúp học sinh rèn luyện khả năng nhận diện diễn giải theo
chiều ngược từ từ định nghĩa qua từ mới . Việc rèn luyện bài tập này có tác dụng to lớn trong
đối với môn đọc, loại hỉnh bài tập tìm “ headings” của một “ paragraph” trong đó, các ý chính
(major ideas) của một paragraph cần cô đọng lại thành chủ đề chính (headings). Đây là một
trong những loại hình bài tập được xem là khó nhất trong kỳ thi đọc IELTS và HSGQG.
Nhận xét chung về mức độ giảng dạy kỹ thuật diễn giải từ Sách Giáo Khoa :
Có thể thấy rằng kỹ thuật diễn giải (tích hợp vào việc giảng dạy từ vựng) được thiết kế trong
sách giáo khoa khá phong phú và đa dạng, đặc biệt là chương trình tiếng Anh 12. Tuy nhiên, do
rất nhiều lý do, nếu giáo viên và học sinh ít nếu không để ý đến tầm quan trọng của việc dạy và
học kỹ thuật diễn giảng đối với môn đọc hiểu (chỉ có 7/20 giáo viên cho rằng SGK có đề cập
đến kỹ năng diễn giải : xem phân tích mục 2.3 trang sau), vô hình trung các bài tập này chỉ còn
mục đích đơn thuần là dạy từ vựng cho học sinh. Việc dạy đọc hiểu vận dụng tính năng diễn giải
để nâng cao hiệu quả việc làm bài môn đọc đã bị bỏ qua một cách đáng tiếc.
Trang 24 2.2.2 . Đề Thi TNPT Trung Học - năm 2013 : Phần Đọc hiểu ( mã đề 913)
Convention on the Rights of the Child “ và câu được diễn giải trong chọn lựa B “UNICEF has
guided the Convention on the Rights of the Child” để chọn câu trả lời đúng.
Question 18 : Đáp án là : C yêu cầu học sinh nhìn thấy sự giống nhau về nghĩa giữa câu gốc
trong bài đọc “UNICEF’s activities are financed by both government and private contributions.
và câu được diễn giải trong chọn lựa C “UNICEF receives money from governments and
individuals”
Như vậy, trong đề thi Tốt nghiệp THPT, yêu cầu về kỹ năng diễn giải cũng là một sự bắt buộc.
Mức độ diễn giải thường thấy ỡ Đề thi Tốt nghiệp THPT là từ vựng và cấu trúc trong câu. (
Xem 2.1.3, trang 12)
2.2.3 . Đề thi vào Đại học - năm 2013 : Phần Đọc hiểu ( mã đề 359)
Đề thi đại học năm 2013 (xem đề thi phần phụ lục) có tổng cộng 2 bài đọc hiều, 20 câu
hỏi, sử dụng dạng thức câu hỏi MCQs. Trong 20 câu hỏi đó , bài đọc hiểu thứ 1 (gồm 10 câu từ
câu 41 đến câu 50) có 5 câu sử dụng kỹ thuật “ paraphrasing” để tìm ra câu trả lời : câu 44, câu
45, câu 47, câu 48, và câu 49. Bài đọc hiểu thứ 2 (gồm 10 câu, từ 56 đến 65) có 3 câu hỏi yêu
cầu sử dụng kỹ thuật này để tìm ra câu trả lời: câu 56, 57,58. Kỹ thuật “parphrasing” được yêu
cầu sử dụng với tỷ lệ gần phân nửa trong tổng số câu đọc hiểu được yêu cầu.